Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả ĐỖ TƯ NGHĨA (1947 – 2021)
NHỚ ANH ĐỖ TƯ NGHĨA
CÓ
NHỮNG CƠN MƯA TRONG LÒNG PHỐ NHỎ
Bài viết của TRẦN NGỌC TRÁC
Lời tác giả:
Cách đây 5 năm, đúng vào ngày này (16.09.2021), Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa – một người yêu Đà Lạt đặc biệt – đã trút hơi thở cuối cùng. Anh quyết định ở lại Việt Nam, ở lại với Đà Lạt và không chịu rời đi. Anh yêu Đà Lạt, anh yêu Việt Nam bằng một trái tim nồng cháy, và không ai có thể ngăn cản ý nguyện của anh. Xin được thắp một nén nhang thơm hướng về anh, và xin đăng lại bài viết về anh.
@
Khúc
dạo đầu: Sương mù Đà Lạt & bóng hình kẻ ở lại
Tôi
chưa bao giờ giấu giếm niềm tiếc nuối khi chứng kiến Đà Lạt ngày một phình to,
mở rộng diện tích ra mãi tận những vùng ngoại ô xa xôi. Trong ký ức và tâm tưởng
của riêng tôi, Đà Lạt vốn dĩ phải là cõi đi về riêng tư của bao lứa đôi hò hẹn,
là chốn gửi gắm những lời tình tự ngọt ngào dưới hiên vắng, là đêm nằm nghe giọt
mưa buồn rơi rụng trên mái tôn, và là những khoảng không lãng đãng trong sương
buông mờ ảo. Đà Lạt trong bản chất sâu xa nhất của nó là sự tĩnh lặng, là niềm
an ủi vỗ về gần gũi với những kẻ cô đơn, những tâm hồn ưa thích tìm về sự yên
bình sâu thẳm trong suy nghĩ.
Biết
bao nhiêu thế hệ văn nghệ sĩ lừng lẫy đã từng dừng chân ghé lại nơi này. Họ đến,
hít thở làn sương lạnh, viết nên những giai điệu, những vần thơ hay những bức
tranh để lại cho đời, rồi lại lặng lẽ thu vén hành lý ra đi. Với họ, Đà Lạt dường
như chỉ là một quán trọ dừng chân trên chặng đường thiên lý. Mấy ai trong số những
tài năng ấy chịu chọn mảnh đất cao nguyên gập gềnh này làm nơi định cư trọn đời?
Nhà
thơ, nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa chính là một ngoại lệ hiếm hoi và kiên định
đến kinh ngạc.
Nhớ
về anh, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tôi luôn là một vóc dáng thật đặc biệt:
người thấp, gầy, bé nhỏ, tay chân khẳng khiu tưởng như chỉ một cơn gió núi thổi
qua cũng đủ làm anh chao đảo. Thế nhưng, ẩn đằng sau cái dáng hình gầy guộc ấy
lại là một đôi mắt sáng quắc tâm hồn và một nụ cười rạng rỡ, ấm áp đến lạ kỳ.
Anh có rất nhiều bạn bè, nhưng phần lớn trong số đó là những tâm hồn đồng điệu
trong giới văn nghệ sĩ - những con người biết trân trọng cái đẹp và sự chân
thành thuần khiết ở anh.
@
1.
Nguồn cội xứ Thanh & tuổi trẻ nặng nợ triết lý
Nhìn
Đỗ Tư Nghĩa sống đạm bạc và gắn bó sâu nặng với sương giăng dốc mù Đà Lạt, ít
ai biết rằng mạch nguồn gốc rễ của anh lại đằm thắm phù sa miền Trung nắng gió
và trầm tích lịch sử gia phong. Theo lời người anh trai ruột của anh là Đỗ Tư
Nhơn kể lại, nguyên quán gốc gác của gia đình anh vốn thuộc làng Cui, xã Tuy Lộc,
huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Gia
tộc anh vốn có truyền thống đạo lý thương người và hiếu học. Ông cố của anh
ngày xưa làm chức quan Đề Lại đời Tự Đức thứ 13 - một bậc sĩ phu danh giá có uy
đức trong vùng. Hiện nay, cụ cố vẫn được dân làng phụng thờ trang trọng tại đền
Nghè Cáy - một di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh nổi tiếng từ xưa cho đến tận
ngày nay. Dòng máu gia phong ấy theo bước chân người cha của anh là cụ Đỗ
Nguyên Thiệu đi vào đất Quảng Trị năm 1938, đậu diplome, đảm nhận chức vụ thừa
phái tại dinh Tuần Vũ đóng ngay trong lòng Thành Cổ Quảng Trị lịch sử.
Năm
1946, chiến tranh nổ ra, Việt - Pháp bắn nhau, rủi ro đến với gia đình, khi cụ
thân sinh của anh đang nằm điều trị tại Bệnh viện Huế bị đạn pháo và trút hơi
thở cuối cùng. Lúc ấy, người anh trai Đỗ
Tư Nhơn mới vừa tròn ba tuổi, còn cậu út Đỗ Tư Nghĩa vẫn đang nằm trong bụng mẹ.
Đỗ Tư Nghĩa cất tiếng chào đời vào ngày 12 tháng 1 năm 1947 tại làng ngoại Quảng
Điền, Triệu Phong, Quảng Trị giữa những ngày gia đình đang tản cư trôi dạt theo
dòng chảy khốc liệt của chiến tranh.
Anh
là con trai út trong một gia đình có ba anh chị em. Người chị cả là bà Đỗ Thị
Như Mai, người anh kế là Đỗ Tư Nhơn, và anh - Đỗ Tư Nghĩa - cậu bé mồ côi cha từ
trước khi nhìn thấy ánh mặt trời. Sự thiếu vắng bóng hình người cha từ thuở sơ
sinh có lẽ đã sớm đúc kết nên ở Đỗ Tư Nghĩa một tâm hồn nhạy cảm, dễ tổn thương
nhưng cũng tràn đầy khao khát tìm kiếm những giá trị tinh thần vĩnh cửu.
Những
năm tháng tuổi trẻ học tập dưới mái trường Trung học Nguyễn Hoàng nổi tiếng ở
Quảng Trị, Đỗ Tư Nghĩa sớm bộc lộ một tài năng thiên bẩm xuất sắc. Anh nổi tiếng
giỏi đều cả môn Văn lẫn môn tiếng Anh, đồng thời mang trong mình niềm đam mê
cháy bỏng với văn chương, báo chí. Anh tốt nghiệp Cử nhân triết học ở Trường Đại
học Văn khoa Huế. Cũng giống như người anh trai Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa mê đắm
tập luận thuyết “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” của triết gia Phạm
Công Thiện - tác phẩm đã làm chấn động toàn bộ giới trí thức trẻ miền Nam thời
bấy giờ. Tư tưởng bùng nổ, phá chấp và rực rỡ nhiệt hứng triết lý của Phạm Công
Thiện đã ăn sâu vào tiềm thức của Đỗ Tư Nghĩa, trở thành một bệ phóng tư tưởng ảnh
hưởng sâu sắc đến toàn bộ quá trình sáng tác thơ ca và tư duy dịch thuật của
anh sau này.
@
2.
Mùa hè đỏ lửa, nhịp cầu Bảo Lộc & sứ mệnh dịch thuật
Năm
1971, người mẹ kính yêu - chỗ dựa tinh thần duy nhất còn lại của mấy anh em -
qua đời. Mất mẹ, Đỗ Tư Nghĩa như mồ côi lần thứ hai. Rồi biến cố lịch sử dữ dội
bùng nổ: “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972 nhuộm đỏ cả dải đất Quảng Trị. Trong khói lửa
mịt mờ của cuộc chiến, Đỗ Tư Nghĩa đã dốc hết sức lực đưa người bà nội già yếu vượt
muôn dặm đèo dốc vào Đà Lạt, nương nhờ mái nhà của người cậu ruột để tìm kiếm một
chốn bình an.
Sau
đó, anh về Bảo Lộc nhận việc dạy học Anh ngữ và triết học tại trường trung học
Bảo Lộc. Trong chín năm bền bỉ cắm cúi bên bục giảng nơi vùng đất cao nguyên Bảo
Lộc mờ sương, anh đã gặp gỡ và bén duyên cùng chị Phạm Thị Hoài An - một cô
giáo quê gốc Hải Phòng nhưng định cư ở Đà Lạt cũng đang sống xa nhà. Hai tâm hồn
đồng điệu, cùng chung nghề nhà giáo và tình yêu tri thức, đã tìm thấy sự ấm áp
bên nhau. Năm 1976, anh chị chính thức nên duyên vợ chồng và lần lượt đón chào
hai đứa con thân yêu ra đời.
Đến
năm 1981, Đỗ Tư Nghĩa cùng chị Hoài An được điều động chuyển công tác lên thành
phố Đà Lạt, chính thức đứng trên bục giảng của trường Trung học Cơ sở Nguyễn
Du. Chính từ cõi sương mù Đà Lạt này, ngọn lửa đam mê dịch thuật vốn ủ ấp bấy
lâu trong anh đã bùng cháy mạnh mẽ, biến anh trở thành một trong những dịch giả
uy tín và sung sức thời bấy giờ.
Ngay
từ năm 1986 - thời điểm đất nước bắt đầu bước vào giai đoạn đổi mới, Đỗ Tư
Nghĩa đã liên tục cho ra đời những công trình dịch thuật đồ sộ, phong phú về chủng
loại và sâu sắc về chiều sâu triết lý. Mở đầu là tác phẩm thiếu nhi trong sáng
“Khi bố còn thơ” của tác giả A. Raskin (anh dịch chung với người bạn thân Phan
Thế Hưng), tiếp đó là tập truyện “Như cơn mưa bay đi”(S. Krutilin), tác phẩm
trinh thám kinh điển “Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes” (Conan Doyler),
tiểu thuyết hài hước sâu cay “Truyện phiêu lưu của Pickwick” của văn hào
Charles Dickens, và cuốn sách truyền cảm hứng sống “Con đường tuổi trẻ” của học
giả Daisaku Ikeda.
Không
dừng lại ở đó, anh hợp tác cùng nhà văn, giảng viên Đại học Đà Lạt Phạm Quang
Trung chuyển ngữ thành công tác phẩm “Dưới ánh trăng” của bậc thầy truyện ngắn
Guy De Maupassant. Anh dấn thân vào những vùng không gian triết học và tâm linh
thâm thẫm khi dịch “Cuộc đời của Luận sư Rajneesh Chandra” (tự truyện Osho),
hai kiệt tác bất hủ của đại văn hào Lev Tolstoy là “Tự thú” và “Suy nghiệm mỗi
ngày”; cuốn sách chữa lành “Tìm lại nụ cười” của Philip Martin, tư tưởng khắc kỷ
trong “Nghệ thuật sống” của triết gia Epictetus, cùng các bộ tiểu sử danh nhân
lừng lẫy như “Đời Tolstoy” của Romain Rolland, “Chuyện tình của các triết gia”
của Andrew Shaffer, “Chuyện tình của các nhạc sĩ thiên tài” của Gustav Kobbé. Đặc
biệt, anh còn cùng Nguyễn Văn Chức (cán bộ Đại học Đà Lạt) dịch tác phẩm kinh
điển “Đời Beethoven” của Romain Rolland. Anh đã xuất bản 17 cuốn sách và còn 16
bản thảo khác chưa kịp trình làng.
Những
cuốn dịch phẩm do anh cặm cụi chuyển ngữ không chỉ đạt độ chuẩn xác cao về ngôn
ngữ mà còn tràn đầy văn phong hoa mỹ, mềm mại và giàu chất thơ. Mỗi cuốn sách
ra đời đều được độc giả và giới nghiên cứu khắp cả nước đón nhận một cách nồng
nhiệt, trở thành món ăn tinh thần vô giá chắp thêm niềm tin yêu để anh tiếp tục
sứ mệnh dịch thuật âm thầm của mình.
@
3.
Căn phòng trọ đường Nhà Chung (Đà Lạt), cõi thơ u hoài & lựa chọn ở lại
Thế
nhưng, đằng sau những trang dịch phẩm lung linh tri thức và hào quang nghề nghiệp
ấy lại là một đời riêng chứa chất đầy bi kịch và xót xa. Những khó khăn chật vật
của đời sống kinh tế bao cấp thời bấy giờ đã tạo nên những rạn nứt silently
nhưng sâu sắc trong đời sống gia đình. Tất cả những dồn nén, u uất và vết
thương lòng không thể giãi bày đã được anh trút gạt vào những dòng thơ khắc khoải
trong tập thơ “Gửi tình yêu – Gửi cuộc đời”.
Năm
1992, qia đình anh được bảo lãnh sang cư trí tại Mỹ, nhưng anh Đỗ Tư Nghĩa thấy
không hợp nên chọn cách ở lại Việt Nam một mình, không phải anh không thương vợ
con. Anh chọn ở lại Việt Nam, ở lại với cõi sương mù Đà Lạt đơn độc mà anh gắn
bó cả cuộc đời.
Thời
gian đó, nhiều người xung quanh nhìn hành động của anh với ánh mắt soi mói, thậm
chí chua chát bảo anh là kẻ “khùng”, kẻ “lập dị” chẳng giống ai. Nhưng mặc cho
mọi lời dị nghị hay sự hiểu lầm của thế thái nhân tình, Đỗ Tư Nghĩa vẫn bình thản
mỉm cười. Anh biết rõ trái tim mình thuộc về đâu. Và thời gian trôi qua, khi
nhìn lại chặng đường anh đã đi, tất cả mọi người - từ bạn bè cho đến người thân
- đều công nhận quyết định ở lại Đà Lạt của anh là hoàn toàn đúng đắn với căn
tính và sứ mệnh của một tâm hồn thuần thiết.
Sau
khi chia tay vợ con, anh Đỗ Tư Nghĩa về ở nhờ nhà anh Nguyễn Diệp - một cán bộ
tâm huyết của Ty Giáo dục tỉnh Lâm Đồng, đồng thời là nhà văn, nhà nghiên cứu văn
hóa dân tộc thiểu số nổi tiếng (người đã có công lao to lớn góp phần biên soạn
nên cuốn Tự điển Việt - K'Ho). Anh sống cùng anh Nguyễn Diệp trong khu tập thể
của Ty Giáo dục một thời gian. Về sau, anh đến thuê một căn phòng trọ nhỏ nằm
trên đường Nhà Chung.
Tôi
đã có rất nhiều lần tìm đến thăm anh tại căn phòng trọ nhỏ bé ấy. Đó là một căn
phòng trọ chật chẹp, ngột ngạt và bề bộn đến mức ngổn ngang. Hàng trăm, hàng
ngàn cuốn sách từ triết học, văn học, ngôn ngữ đến lịch sử được anh chất đống
khắp nơi, từ trên bàn, dưới sàn nhà cho đến góc tường, không hề được sắp xếp gọn
gàng. Anh ngủ trên một chiếc ghế bố xếp đơn sơ, phẳng lì vết thời gian. Trên
chiếc bàn làm việc ngập tràn bản thảo là một chiếc gạt tàn um đầy những mẩu thuốc
lá cháy dở. Việc ăn uống của anh cực kỳ tạm bợ. Mỗi khi có khách hay bạn bè văn
nghệ đến chơi, phòng trọ thậm chí không có đủ ghế ngồi, khách đành phải ngồi
ghé tạm trên một chiếc ghế gỗ cũ kỹ, xông xênh.
Mỗi
lần ghé thăm, vì thương anh sống quá khép kín và ngột ngạt, tôi thường tìm cách
“lôi” anh ra khỏi căn phòng trọ ấy để đi đến mấy quán cà phê ven đường cho
thoáng đãng. Có khi tôi mời anh ra quán cà phê ngay bên bờ hồ Xuân Hương lộng
gió, hay ghé quán cà phê của Hà Linh nằm trước Hotel Dalat Palace rợp bóng cây,
nhìn ra mặt nước hồ Xuân Hương phẳng lặng như gương. Những buổi chiều như thế,
có khi thêm các anh chị em văn nghệ sĩ đến từ Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng hay các
nơi khác ghé thăm Đà Lạt, như: Nguyễn Nhã Tiên, Nguyễn Vô Biên, Tạ Vũ Dậu, Nguyễn
Dương Quang, Tường Huy, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng, Lê Duy Đoàn, Nhã Uyên...
Cuộc hội ngộ lại trở nên vô cùng ấm áp.
Những
khi trong túi có chút tiền nhuận bút hay tiền dạy học vừa nhận, Đỗ Tư Nghĩa lại
hào hứng giành phần mời và chủ động trả tiền cho tất cả mọi người. Những lúc ấy,
tôi nhìn gương mặt gầy gò của anh hồng hào, tươi tắn hẳn lên, đôi mắt lấp lánh
niềm vui thơ trẻ. Anh trân trọng gửi tặng chúng tôi những cuốn sách dịch mới vừa
xuất bản do các nhà xuất bản chính thức cấp phép, và cả những tập thơ do chính
anh viết, được in ấn giản dị dưới hình thức lưu hành... nội bộ.
@
Thơ
Đỗ Tư Nghĩa là một thế giới ngập tràn tâm trạng, đầy dằn vặt, âu lo và ẩn chứa
những nỗi đau sâu thẳm trước thân phận con người và kiếp sống mông quạnh. Hãy
nghe anh thốt lên những vần thơ đắng ngắt khi chứng kiến một nhành hoa dại bị
chà đạp:
Chiều
nay tôi thấy em ngã xuống
trên
đất đen
tên
con đường dốc đến Thánh đường
Chúa
quay lưng
không
thấy em
cả
cuộc đời
vẫn
bình yên
quay
theo bánh xe đều đặn
Em
chết đi
mùa
Giáng sinh chưa kịp đến
em
chưa kịp mặc áo vàng
ngửa
cổ
chờ
gió đến nâng niu...
Hay
như trong bài thơ “Có những ngày”, anh đã phô bày trọn vẹn sự bế tắc, nỗi cô
đơn ngập tràn và sự kinh ngạc cay đắng trước những nghiệt ngã vô lý của cuộc đời:
Có
những ngày hồn tôi lênh đênh
như
lá khô
chẳng
biết chọn nơi nào đậu xuống
Có
những ngày
tôi
như con chuột nhỏ
chui
rúc nơi những cống rãnh của cuộc đời
dù
trên đầu tôi vẫn có trăng sao
dù
quanh tôi
vẫn
có lá cây xanh
và
trên bàn tiệc cuộc đời
mỗi
ngày
vẫn
đổ tràn rượu đỏ
Có
những ngày
hồn
tôi như con gà đói thóc
chạy
kiếm những hạt vàng
nhưng
mùa gặt đã xa
chẳng
còn hạt nào vương vãi!
Có
những ngày
tôi
kinh ngạc
Ôi
cuộc đời đó ư?
Những
chuỗi dài vô lý
những
ràng buộc vô danh
những
muộn phiền vô nghĩa...
Sống
giữa một cõi đời đầy biến động và xô xát, Đỗ Tư Nghĩa vẫn giữ nguyên vẹn một
phong cách sống khiến bất kỳ ai tiếp xúc cũng phải kính nhường. Anh tận tụy với
công việc dịch thuật, miệt mài dạy Anh văn cho bất kỳ ai tìm đến muốn học, duy
trì lối sống ăn chay trường thuần khiết và hút thuốc lá liên tục. Ở anh luôn
toát lên một chút gì đó vô cùng rụt rè, e ấp. Anh tuyệt đối không bao giờ muốn
to tiếng hay tranh chấp với ai, luôn lo sợ những thị phi hay vẩn đục đời thường
sẽ làm đảo lộn cuộc sống tĩnh lặng mà anh dày công vun đắp. Anh sống lặng lẽ
như một cái bóng, chỉ giao tiếp với những người bạn tri kỷ mà anh thực sự quý mến,
và dành tình yêu thương vô bờ bến cho những đứa con thân thương gần gũi.
@
4.
Những giờ phút rạng rỡ & Ngày hội ngộ đầm ấm
Trong
ký ức của tôi về anh Đỗ Tư Nghĩa, là những buổi cùng nhau nhâm nhi ly cà phê ở
một quán cóc nào đó của Đà Lạt, hoặc nghe anh nói về những cuốn sách anh vừa dịch
từ các bản tiếng Anh, là những dịp hội ngộ ở vườn tượng của điêu khắc gia Phạm
Văn Hạng và có một kỷ niệm thật đẹp và rạng rỡ, như một điểm sáng ấm áp xua tan
đi cái lạnh giá thường nhật của đời anh. Đó là ngày họa sĩ Đinh Cường từ Mỹ trở
về Việt Nam và mong muốn tổ chức một cuộc triển lãm tranh tại Đà Lạt. Các anh
em nghệ sĩ thân thiết gồm họa sĩ Thân Trọng Minh, họa sĩ Hoàng Trọng Bân, họa
sĩ Đinh Cường và điêu khắc gia Phạm Văn Hạng đã bàn bạc và thống nhất chọn
Khách sạn Dalat Hoàng Gia của tôi nằm trên đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Đà
Lạt làm không gian tổ chức sự kiện.
Tôi
đã đứng ra hoàn tất mọi thủ tục xin cấp phép và nhanh chóng được Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đồng ý tạo điều kiện. Cuộc triển lãm đã trở thành
một cuộc hội ngộ nghệ thuật cực kỳ ý nghĩa, xúc động. Ngày khai mạc, khách đến
tham dự đông nghịt, ngập tràn những lẵng hoa tươi thắm và những nụ cười hạnh
phúc. Đan kẹt trong đám đông là bạn bè văn nghệ sĩ lặn lội đến từ Hà Nội, Đà Nẵng,
Huế, Sài Gòn, Nha Trang, Phan Thiết... và cả những người bạn quốc tế.
Anh
Đỗ Tư Nghĩa đã từng quen biết họa sĩ Đinh Cường qua những bức tranh và trao đổi
thư tín. Khi còn ở Mỹ, Họa sĩ Đinh Cường đã viết bài thơ “Bài nhớ thân trọng điền
trang và Đỗ Tư Nghĩa” có những câu thơ
“Người một mình trên Đà Lạt / Tháng này hay mưa chiều không / Mưa chiều qua rừng
thông xanh / Qua hàng hiên nhà dưới dốc / Dốc rất sâu đi bước chậm / Mấy hòn đá
xanh lởm chởm / Cửa mở nhìn ra vực sâu / Ám ảnh nào hôn hố thẳm / Người ở một
mình ốm teo / Cứ ngồi dịch từng trang chữ / Và bài ngợi ca tình yêu / Người ở
bên đồi gió hú / Đà Lạt mưa chiều buồn không / Tháng chín nơi này lá đổ / Mùa
thu về, mùa thu về / Đỗ Tư Nghĩa ơi rất nhớ” (Virginia 21 Set 2011).
Hôm
ấy, anh Đỗ Tư Nghĩa vui lắm. Anh lững thững đi ngắm từng bức tranh, mắt lấp
lánh niềm xúc động sâu sắc khi được gặp lại người anh yêu quý - họa sĩ Đinh Cường.
Trong không khí đầm ấm ấy, những ly rượu vang ngoại nhập thơm lựng được nâng
lên chúc mừng, làm cho đôi má gầy gò của bao nhiêu người, và đặc biệt là của Đỗ
Tư Nghĩa, hồng lên rạng rỡ. Anh vui đến mức nói rất nhiều, cười rất nhiều, khác
hẳn với dáng vẻ trầm mặc, ít lời hằng ngày khi anh em ngồi cà phê quán xá. Sau
buổi khai mạc, anh còn cẩn thận gửi tặng tôi một số bức ảnh kỷ niệm mà ai đó đã
chớp được khoảnh khắc tôi và anh đứng bên nhau rạng rỡ.
@
5.
Đêm huyền diệu ở tư gia & một ngày trên hồ Tuyền Lâm (Đà Lạt) tro cốt gửi lại
thinh không.
Thế
rồi, quy luật nghiệt ngã của thời gian và tuổi tác cũng gõ cửa. Khi Đỗ Tư Nghĩa
yếu dần và phải nằm trên giường bệnh, tôi cùng anh Nguyễn Văn Chức (cán bộ công
tác tại Đại học Đà Lạt) thường xuyên ghé qua thăm, an ủi anh. Bên giường bệnh của
anh luôn có mấy em điều dưỡng viên tận tụy túc trực chăm sóc ngày đêm. Dù cơ thể
đã rất yếu, anh vẫn giữ được sự minh mẫn kỳ diệu, đôi mắt vẫn ánh lên tia nhìn ấm
áp nhận ra từng người bạn quen thuộc ghé thăm.
Và
rồi, điều gì đến cũng phải đến. Vào một buổi sáng tinh khôi, lúc 6 giờ 15 phút
ngày 16 tháng 9 năm 2021, bên cạnh người con gái thân yêu Đỗ Hoài Diễm Thư, Đỗ
Tư Nghĩa đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng, khép lại một kiếp người thanh cao
và trăn trở.
Ngày
anh mất, bầu trời Đà Lạt bỗng trở nên vần vũ mây xám, những hạt mưa lác đác rơi
nhẹ như giọt nước mắt của không gian tiễn đưa một tâm hồn thi sĩ, rồi trời lại
nhanh chóng tạnh ráo.
Chúng
tôi đã có một buổi tối trọn vẹn bên anh ở tư gia để ngày mai anh lên Đài Hỏa táng
Hoàn Vũ Đà Lạt.
Một
đêm ở tư gia, giữa không gian mênh mang, tiếng đọc kinh Phật rì rầm hòa cùng tiếng
ngâm những bài thơ tiễn biệt cất lên tha thiết, lung linh.
Trong
chính đêm huyền diệu tiễn đưa ấy, nhà sư Thích Nguyên Hiền (bút danh Nhất
Thanh), nhà thơ Nguyễn Mậu Pháp, nhà giáo Nguyễn Văn Cam và chúng tôi lắng lòng
nghe những dòng thơ tưởng niệm, những lời cầu kinh vang vọng trong không gian ấm
cúng của một ngôi nhà xưa giữa lòng phố xá tĩnh lặng của Đà Lạt.
@
Một
buổi sáng đẹp trời, đoàn người đưa tang theo anh vòng qua những con phố nơi anh
Đỗ Tư Nghĩa một thời gắn bó, từng rảo bước đi qua từng ngõ nhỏ. Đà Lạt một ngày
hoa rực nắng đưa tiễn người đi xa. Xe dừng lại ở Đài Hóa thân Hoàn Vũ Đà Lạt.
Sau
khi thực hiện nghi thức hỏa táng cho anh tại Đài hóa thân Hoàn vũ Đà Lạt, chúng
tôi - đúng theo di nguyện lúc sống của anh - cùng người con gái Đỗ Hoài Diễm
Thư và cháu trai (con của anh Đỗ Tư Nhơn) cẩn trọng thỉnh hũ tro cốt của anh về
nhà, đặt lên bàn thờ trong suốt 49 ngày đêm để anh Đỗ Tư Nghĩa được nghe kinh
Phật, được lắng lòng trong căn nhà yêu thương của mình.
@
Sau
49 ngày anh Đỗ Tư Nghĩa ra đi, anh Đỗ Tư Nhơn đã tập hợp tất cả các bài thơ, những
tâm tư tình cảm anh em bạn bè, văn nghệ sĩ dành cho anh Đỗ Tư Nghĩa, qua cuốn
sách “Về trong cõi Tịnh”. Đó là một tuyển tập thơ văn nhanh nhất, kịp thời nhất.
Người đọc tìm thấy 10 bài thơ được trích từ cuốn thơ “Gửi tình yêu, gửi cuộc đời”
của Đỗ Tư Nghĩa, hai bài thơ chuyển ngữ của nhà giáo, dịch giả Thân Trọng Sơn;
đôi dòng tiểu sử cuộc đời và văn nghiệp của Đỗ Tư Nghĩa; là lá thư tâm tình của
anh trai Đỗ Tư Nhơn, là lời thầm thì của con gái Đỗ Hoài Diễm Thư gửi cho bố;
là tâm tư tình cảm của anh em văn nghệ sĩ, đồng nghiệp, bạn bè, đồng hương như
Hồ Thị Tú, Nguyễn Nam Giao, Trần Thoại Nguyên, Lê Mậu Minh, Lê Đức Dục, Võ Cẩm,
Nguyễn Thắng, Đoàn Đức, Nguyễn Mậu Pháp, Trần Ngọc Trác, Nguyễn Đình Hạnh, Nhất
Thanh,Nguyễn Văn Quang,Võ Văn Luyện, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Đạt, Trần Kim
Đoàn, Bạch Trọng Thạnh, Nguyễn Lương Tuấn, Vũ Bích Sơn, Trần Bích Hằng, Khang Hồ,
Nguyễn Đại Hoàng, Đỗ Trầm Tư, Đỗ Nguyên Phương, Đỗ Nữ Minh Khai,Trần Quốc Vĩnh…
Cháu
Đỗ Hoài Diễm Thư đã thuê một chiếc thuyền máy chở hũ cốt ra giữa lòng hồ mênh
mông sông nước để làm lễ cầu nguyện. Đó là một ngày trên hồ Tuyền Lâm huyền diệu
với mặt nước hồ phẳng lặng như gương, tro cốt anh đã gửi vào mây gió.
@
6.
Một năm ngày trở về & dư âm bất tử
Nhà
văn Nguyên Minh, Chủ biên tạp san Quán Văn đã dành gần 200 trang sách để tập hợp
những bài viết, những cảm tưởng của anh em bạn bè, văn nghệ sĩ viết về nhà văn,
dịch giả - mà anh gọi là “người chuyển ngữ” Đỗ Tư Nghĩa. Thay vì ghi tưởng niệm,
anh chọn một tên sách lạ, gây sốc “Quán Văn số 92-12-2-22”.
Những
gì có được trong “Về trong cõi Tịnh” của anh Đỗ Tư Nhơn, ấn phẩm “Quán Văn số
92” tiếp tục có thêm nhiều bài viết mới của rất nhiều bạn bè, văn nghệ sĩ, độc
giả yêu quý anh.
@
Thấm
thoát mà thời gian trôi qua thật nhanh. Đúng một năm sau ngày anh ra đi
(16.09.2022), cháu Đỗ Hoài Diễm Thư - người con gái yêu quý của anh - từ nước
ngoài đã đáp chuyến bay trở về Đà Lạt để tổ chức lễ giỗ đầu cho cha. Những người
thân trong gia đình, một số người bạn tri kỷ của anh và chúng tôi lại có dịp tụ
hội về đây, cùng nhau thắp nén hương thơm thành kính tưởng nhớ anh.
Sau
lễ cúng, tất cả chúng tôi lại cùng nhau đi ra bờ hồ Tuyền Lâm. Giữa làn sương mờ
ảo chập chờn trên mặt nước, chúng tôi lặng lẽ vọng về phía lòng hồ sâu thẫm -
nơi tro cốt của anh đã tan vào sóng nước đại ngàn - để tưởng nhớ về Đỗ Tư
Nghĩa: một nhà thơ, nhà giáo, dịch giả tài hoa, một con người đáng kính trọn đời
giữ cho mình một trái tim trong suốt giữa cõi nhân gian.
Đà Lạt
14.IX.2026
TRẦN NGỌC TRÁC
(Đỗ Tư Nhơn gởi đăng.)
