Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Đinh Thị Hiệp. Show all posts
Showing posts with label Đinh Thị Hiệp. Show all posts

Friday, October 16, 2015

NGÀY ẤY ĐÂU RỒI - truyện ngắn Đinh Thị Hiệp





Đinh Thị Hiệp

NGÀY ẤY ĐÂU RỒI


Tiếng ồn ào vang lên cả một góc chợ rau. Người về càng lúc càng đông dần. Những gánh rau tươi xanh mơn mởn từ các làng quê đổ dồn về phía ngã tư trên đường vào chợ. Họ nhanh tay xếp rau thành từng đống cao, gọn gàng để bán. Nhìn kĩ người ta có thể thấy những con tem giấy (thuế vào chợ) trên những chiếc nón lá cũ kĩ của những người dân quê.


Hạnh kéo mạnh cánh cửa sắt để phụ mẹ dọn hàng. Tiệm tạp hoá của mẹ bán gồm nhiều mặt hàng phong phú, cần thiết; mẹ thường đóng hàng cho mấy người vùng ven tỉnh. Hạnh bước ra khỏi nhà, vươn vai hít thở không khí trong lành buổi ban mai. Hạnh cười thật tươi, chào hỏi mấy người thân quen.Họ cũng vui vẻ đưa tay vẩy chào con bé hồn nhiên đang tung tăng chân sáo bước men theo vỉa hè. Sáng nào cũng vậy, Hạnh là người khách hàng quen thuộc của bác bán hàng ăn ngồi ở cuối dãy lòng chợ  này.


Mặt trời đang lên cao, toả những tia nắng ấm áp, xua tan nhanh cái giá lạnh của một đêm dài. Hạnh cùng Quỳnh hoà vào đám bạn trên đường Quang Trung dẫn đến trường. Con đường ngập tràn những tà áo dài trắng của học sinh nữ. Từng tốp nam, nữ sinh từ các ngã đường đổ dồn về con đường chính dẫn đến trường Nguyễn Hoàng.Tiếng cười đùa ồn ã, làm như không ai có thể ngăn nỗi những niềm vui đang vỡ oà của bọn trẻ sau một đêm không gặp nhau. Mới chiều hôm qua thôi còn chơi đùa trên sân bóng của ty thanh niên. Hạnh có thói quen cầm chiếc cặp xoay xoay, chân vẫn bước nhanh cho theo kịp các bạn. Cứ mỗi bước đi là hai bím tóc y như là nhảy múa. Đôi mắt đen ánh lên niềm vui , Hạnh nhanh nhảu:

-Nè, nhỏ Nhơn đã về rồi. Sáng này, nó đi học đó.

Cả bọn nhao nhao lên:

-Sao nó không chờ tụi mình đi chung?

-Ba nó chở nó đi học mà. Hạnh trả lời.

-À, vậy là tụi mình sắp có quà Sài Gòn rồi đó nghe.


 Bầy con gái như bước nhanh chân hơn để đến trường. Không phải đi sớm để bày trò chơi như thường ngày, mà muốn đến để xem con nhỏ Nhơn thay đổi ra sao sau một tuần đi ngao du ở thành phố Sài gòn hoa lệ. Đúng là một sự thay đổi khác hẳn ở Nhơn. Nhơn đứng chờ sẵn ở cửa lớp với vẻ mặt xinh tươi, hớn hở như hoa; đầu tóc nhỏ cắt ngắn, diện bộ áo quần mới ra dáng dân thành phố quá. Nhơn cầm mấy bị kẹo giơ lên cao:

-Nào, ai muốn làm bạn với Nhơn nào!
Cả bầy con gái đồng loạt đưa tay, cười nói tíu tít: 
-Tao, tao.

-Tao,tao đây nè.

-Hạnh đây là bạn Nhơn nè, Nhơn ơi!

 Nhơn giả bộ xoa đầu Hạnh như vỗ về em bé:

-Đúng rồi đó, con nhỏ Hạnh này là bạn thân yêu của Nhơn kia mà. Tao nhớ nó muốn chết đi được.

 Hạnh cười tít mắt, tưởng mình đang lên tận tầng mây. Hạnh ôm chầm lấy Nhơn:

-Ới chị hai ơi! Chị đi lâu quá, làm em cũng nhớ chị quá trời đi! 

-Ừa, chị cũng nhớ em ghê đi. Này, cho nhỏ Hạnh trước, rồi cho mấy con nhỏ xí xọn kia sau ha!

Bầy con gái Quỳnh, Sương, Lai, …cười xoà rượt đuổi theo Nhơn và Hạnh đang cầm mấy bị kẹo chạy lòng vòng quanh sân trường.

Tan học. Như đã hẹn, cả nhóm bạn tập trung gần cổng trường đi theo Nhơn. Hạnh nói lớn:

-Hôm nay nhỏ Nhơn khao tụi mình một chầu bún bò Huế. Vào quán ở bến xe cho tiện đường về luôn. Chuyến sau, đến lượt tao khao tụi bây nghe.

-Đồng ý liền đó. Cả bầy lại nhao nhao lên.

-Ừ,đi nhanh lên! Đói bụng quá trời đây nè.
Hạnh lại ậm ừ: 
-Được rồi, thay mặt nhỏ Nhơn, tao đồng ý liền. Nhưng mấy lần sau, cũng đến lượt các bạn đó nghe!

-Được rồi, được rồi mà.


Nhơn coi bộ có nhiều tiền rủng rỉnh trong chiếc ví nhỏ. Trông bộ mặt con nhỏ sướng ghê! Đi theo ba vào Sài Gòn chơi, xa ơi là xa. Vào đó nó còn làm đẹp từ đầu tóc đến áo quần. Nghe nói nó còn mấy bộ đầm mới đẹp lắm. Chiều này mình đến nhà Nhơn xem mới được. Hạnh tự nhủ thầm.


Buổi trưa này bạn bè Hạnh được Nhơn khao ăn một chầu thật xứng đáng đồng tiền lắm. Khi ra về, cả bọn theo con đường Lý Thái Tổ dọc theo bờ hồ, sát mặt sau cổ thành. Mùi bánh mì ngòn ngọt, thơm phức thoang thoảng khiến đứa nào cũng hít hà.Gần đến đường Trần Hưng Đạo, chia tay nhau mỗi đứa đi mỗi đường. Trưa nay, Hạnh về nhà, đến tối mới ra tiệm ở lại. 


…Hoàng hôn dần buông. Những ánh đèn thi nhau bật sáng từ các ô cửa của các ngôi nhà nằm san sát bên nhau. Đường phố đã lên đèn từ lâu. Sau bữa cơm tối cùng gia đình, Hạnh ôm cặp đi ra tiệm. Ra đến góc phố, Hạnh không quên ghé vào tiệm sách Tùng Sơn. Ở đó, Hạnh tha hồ ngắm nghía các quyển sách được chưng bày dưới bóng điện sáng trưng. Đủ các loại, nhưng hạnh chỉ đứng hồi lâu ở dãy sách truyện thiếu nhi. Hạnh lật và đọc lướt nhanh qua các trang , sau đó chọn mua một quyển. Thường xuyên là Hạnh mua báo Thằng Bờm để tìm xem có bài mình được đăng trên đó không?


Ban đêm, con đường vào sau khu vực chợ thật vắng vẻ, chỉ có vài ánh đèn hắt ra từ các ngôi nhà cao tầng. Nhà nào cũng đóng cửa kín mít, hầu như người ta sinh hoạt ở trong nhà, ít khi bật đèn  sáng ở nhà ngoài. Hạnh kêu cửa một hồi lâu, cô Nữ, người giúp việc cho chủ nhà mới ra mở. Cô Nữ nhìn kĩ để biết đúng là Hạnh rồi cô vội vàng mở, chỉ kịp để cho Hạnh bước vào là cô đóng ngay lại, khoá cửa hai ba lần cho chắc chắn. Chỉ có hai cô cháu ở trong một ngôi nhà với  ba tầng lầu, rộng thênh thang, , thật thoải mái nhưng cũng thật là vắng vẻ. Ở tầng trệt, cả mặt trước và mặt sau, mẹ và dì Hạnh buôn bán hàng tạp hoá. Hạnh chỉ có việc là tối tối ra ở lại tiệm học bài, ở với cô Nữ. Buổi sáng, sau buổi học trên trường, Hạnh còn là cô kế toán nhỏ của mẹ, phụ giúp mẹ tính toán, ghi chép vào sổ sách.


Hạnh bước ra ban công. Đứng đây, Hạnh nhìn ra xa kia là bờ sông Thạch Hản. Một màu đen như mực, bóng tối bao trùm lên toàn bộ một vùng trải dài từ con đường Gia Long chạy ven bờ sông. Một vài cơn gió mát rượi từ phía bờ sông thổi vào làm Hạnh thấy nhẹ nhõm, có cảm giác lâng lâng, sảng khoái. Hạnh hít lấy một hơi thật sâu vào lồng ngực. Đâu đó, tiếng rao hàng ngày một rõ dần. Một bóng người gánh chè bán đêm lầm lũi đi trên vỉa hè. Khi bóng người khuất dần mà tiếng rao như còn vẳng lại.


Hạnh nhẹ nhàng đóng cánh cửa lại, bước hẳn vào trong nhà. Tối này, sau khi học bài xong, Hạnh sẽ tìm trong tủ sách của con trai người chủ nhà những tập san Thời Nay để đọc.Hạnh thích thú đọc mấy mẩu chuyện ngắn trong mấy tập sách này lắm. Cô Nữ là một con người trầm tính, ít khi nói chuyện. Có hỏi thì cô đáp lại ậm ừ đôi ba câu. Hạnh chỉ biết lờ mờ về cuộc đời của cô. Nghe kể lại cô Nữ không có bà con thân thích, đã sống giúp việc cho người chủ này từ thời còn con gái. Sau này cô Nữ trở thành người thân tín của nhà chủ. (Cho đến sau này, Đất nước thống nhất, hai người anh đã đi bộ đội từ mùa thu năm 1945 trở về, tìm được người em gái thất lạc bao nhiêu năm trời, nay cả gia đình vui đoàn tụ). Khi tiếng chuông đồng hồ treo tường gõ lên đúng mười tiếng, Hạnh đã lên bộ ván ngựa dày cộp, mát lạnh ngủ một giấc thật ngon lành, không quên mơ về giấc đẹp một ngày bạn bè đi chơi xa…


-Hạnh ơi! Hạnh dậy thôi con!

Hạnh choàng mở mắt. Trước mặt Hạnh là mẹ. Mẹ đang đứng bên cạnh Hạnh từ hồi nào. Hạnh giật mình, ngồi bật dậy:

-Chết rồi, con đi học trễ mất.

Mẹ cười xoà:

-Hôm nay là chủ nhật mà con.

 Hạnh cười mắc cở:

-Uả, con quên. Mẹ dọn hàng rồi hả mẹ?

-Xong từ lâu rồi. Con xuống nhà ăn sáng đi, rồi về ngoại chơi!

         
Hạnh nhanh chân theo mẹ xuống cầu thang. Hôm nay, mẹ cho phép Hạnh về thăm cậu mợ. Nhà cậu mợ ở trên đường Lê văn Duyệt, phía trước cửa cổ thành Đinh Công Tráng. Trước kia, nhà Hạnh cũng ở đây, nhưng do chiến tranh xảy ra, cả nhà lên ở hẳn trên chợ tỉnh, ở trong một ngôi nhà nằm trong một con hẽm ở đường Quang Trung.


Một chiếc xe xích lô vừa trờ tới, Hạnh vẩy tay đón. Bác chạy xe dừng ngay lại, đón Hạnh lên, kéo vội tấm rèm che nắng. Từ chợ về đường Lê văn Duyệt không xa lắm nhưng đối với đôi mắt trẻ thơ thì ôi quả là xa. Bác phu xe thong thả đạp, còn Hạnh thì ngồi gọn lỏn trên ghế, ngắm quang cảnh hai bên đường, thích thú ngắm những người dân trong ngày chủ nhật đẹp trời. 


 Xe vừa dừng trước đường, Hạnh vội vàng bước xuống. Bỗng nghe tiếng gọi:

-Hạnh ơi! Về đó hả!


Hạnh đang cúi xuống sửa lại đôi giày vải cho ngay ngắn, nghe tiếng gọi , ngẩng đầu lên. Trước mặt Hạnh là anh Trung, một người hàng xóm thân quen. 

-Dạ, hôm nay chủ nhật rảnh, em về ngoại chơi. 


Hạnh cùng anh Trung đi vào xóm. Hạnh dừng lại, đứng một hồi lâu trước mảnh sân của ngôi nhà cũ. Trung cũng tần ngần đứng sau lưng Hạnh, biết trong lòng Hạnh đang dấy lên những kỉ niệm về ngôi nhà thân yêu mà trước đây cả gia đình Hạnh từng sinh sống. Giờ đây trên mảnh đất ấy là ngôi nhà mới xây của dì Hạnh.Chỉ qua một đêm tết Mậu Thân năm 1968, ngôi nhà Hạnh đã bị súng đạn chiến tranh tàn phá, thiêu rụi gần hết. Hạnh bồi hồi nhớ lại…
           
Trời càng về khuya, càng thấy cái lạnh như thấm sâu vào da thịt. Cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa, nồi bánh tét to đùng nước đang sôi lên sùng sục; tiếng củi cháy nổ lép bép, bắn lên những tia lửa hồng trông thật vui mắt. Mẹ giục các con đi ngủ để sáng mai, mồng một Tết đi viếng chùa Sắc Tứ. Hạnh lên giường nằm rồi mà vẫn còn thao thức, nôn nao nằm nghĩ tới sáng mai diện bộ đầm đẹp, rồi nghĩ đến  giao thừa, giờ phút thiêng liêng trọng đại chuyển tiếp từ năm cũ sang năm mới…


Một vài tiếng pháo lẹt đẹt nổ rồi nhiều tiếng pháo nữa nổ lớn , giòn giã, liên hồi. Chuông đồng hồ cũng vừa điểm. Tiếng mẹ và chị Hạnh trò chuyện nho nhỏ, sợ đánh thức mọi người dậy. mẹ Hạnh bước ra trước sân thắp mấy nén nhang thơm cúng giao thừa. Hương thơm của nhang phảng phất xen lẫn với mùi khét lẹt của pháo…Tiếng nổ càng lúc càng lớn dần, giòn hơn, to hơn hẳn, pha lẫn nhiều âm thanh khác lạ. Mẹ Hạnh hốt hoảng:

-Hình như có tiếng súng đó. Dậy, dậy thôi, mau xuống hầm đi mấy con!

Hạnh choàng dậy, tỉnh ngủ hẳn, nhanh chân theo mẹ chui ngay xuống chiếc hầm ngầm nằm ngay cửa nhà. Mẹ Hạnh cuống cuồng đưa chị em Hạnh, rồi bồng đứa em trai mới mấy tháng tuổi tụt xuống hầm. Thằng nhỏ khóc thét lên trong cơn buồn ngủ. Chiếc hầm này là nơi trú ẩn khá an toàn cho cả nhà, phía trên che chắn bằng những bao cát. Ba Hạnh thì không có nhà, hôm nay ông đã vào thăm quê nội.


 Qua một đêm dài nằm, ngồi thu lu dưới hầm sâu, vừa tối tăm mù mịt, vừa đầy dẫy nỗi sợ hãi chết chóc. Thời gian dường như trôi chậm lại nặng nề.Khi tiếng súng giao tranh của hai bên vừa tạm ngưng, mới thấy mấy sinh mạng mỏng manh còn lại giữa hai lằn đạn vô tình. Ôi, chiến tranh! Một chiếc xe hồng thập tự vừa mới chạy qua trên con đường vắng ngắt như tờ. Súng trong thành không còn nả ra như mưa nữa. Mọi người trong chiếc hầm chật hẹp tranh thủ ùa ra, miệng la thất thanh để không bị bắn nhầm rồi lũ lượt kéo nhau chạy vào trong xóm.Trên bầu trời có tiếng máy bay, bay chừng như sát mặt đất hơn bao giờ hết. Một số thanh niên lạ, không phải là người dân địa phương, vai khoác súng, họ đi lại im lặng như cái bóng, vẩy vẩy tay cho bà con vào trong nhà. Trời sáng hẳn,bà con bồng bế nhau chạy lên chợ tỉnh. Mẹ con Hạnh cũng theo đoàn người tìm cách băng rào các nhà hàng xóm chạy đi lánh nạn. Khi lên đến nhà dì, lúc ấy dì cũng vừa rảnh rỗi trong một ngày đầu năm mới. Quanh năm suốt tháng dì bận rộn theo công việc buôn bán. Dì Hạnh vô cùng ngạc nhiên khi thấy mẹ con nhà Hạnh tay bồng, tay bế dắt nhau chạy vào nhà, mặt mày hớt hơ hớt hãi. 


(Lịch sử sau này kể lại rằng đó là cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1968 của Cách mạng trên khắp các tỉnh miền Nam.)


 Qua hôm sau, tiếng súng ngừng hẳn, không còn cuộc giao tranh, mọi người trở về nhà mình. Mẹ con hạnh đứng thẩn thờ trước ngôi nhà đầy vết đạn lỗ chỗ, một đống đổ nát hoang tàn, gian hàng bị cháy rụi, vẫn còn làn khói âm ỉ. Nhà Hạnh lên khu phố chợ kể từ những ngày đầu mùa xuân năm ấy… 
  

Hạnh giật mình khi nghe tiếng anh Trung:

-Đi vào nhà thôi Hạnh ơi!

Cả một buổi sáng vui đùa với các anh chị con cậu mợ. Hạnh không quên ghé thăm số nhà người quen trong xóm. Mỗi ngôi nhà hầu như đều có một vườn hoa nho nhỏ, xinh xắn. Ai cũng thích chăm chút, tô điểm cho ngôi nhà mình thêm đẹp. Nhà cách nhà là những hàng rào dâm bụt, có những cánh hoa đỏ thắm nổi bật trên nền lá dày xanh thẩm. Mỗi khi về đây, Hạnh qua nhà anh Trung chơi, đều được anh bày thêm một trò chơi thú vị. Anh Trung rất thích Hạnh về lại xóm cũ…
 
…Đài radio vừa phát đi một bản tin. Hạnh lắng nghe. Trong lòng lại cảm thấy nôn nao. Tiếng phát thanh viên như gấp rút hơn khi đọc tin tức chiến sự đang diễn ra. Cuối bản tin là giai điệu trầm buồn của bài hát:

“Bài hát đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”…
          
 Chiến tranh thật sự xảy ra rồi ư! Mấy ngày nay, người dân lần lượt bỏ nhà cửa mà ra đi, trong lúc đó số dân ở miệt ngoài lại tìm về, sống tạm trong các ngôi trường hoặc nhà thờ, nhà chùa nào đó. Họ lại đi tiếp vào Huế, ra đi vội vã như là chạy trốn cuộc chiến có thể rình rập xảy ra bất cứ lúc nào. Mẹ Hạnh vốn cả lo, bà may cho Hạnh một túi vải, bỏ ít tiền vào phòng thân lỡ khi lạc nhau. Cả nhà Hạnh ai nấy như ngồi trên đống lửa, mẹ đợi dì về. Mẹ tất bật chạy đi chạy lại tìm thuê một chiếc xe để chở gia đình vào Huế. Không hề có một chiếc xe nào cả, hầu như toàn bộ xe của tỉnh này đều đi hết rồi. Đến trưa, dì Hạnh từ Huế ra đến nơi. Dì thuê được một chiếc taxi nhỏ. Mẹ con nhà Hạnh chỉ kịp lấy áo quần, gom góp thêm một ít đồ đạc, nhanh chóng bỏ lên xe. Dì hối thúc mọi người nhanh lên, khoá cánh cửa tiệm lại và giục bác tài cho xe chạy, bỏ lại đằng sau một gia sản mà bấy lâu nay dày công vun vén, gầy dựng…

           
Chiếc xe nhỏ bé chở cả nhà Hạnh chạy ngược về phía Long Hưng, để ra quốc lộ. Mọi người dáo dác tìm nhau, xe cộ cứ nối tiếp tìm cách chạy về Huế. Một vài tiếng nổ lớn, đúng là pháo nổ ngay trên đường xe chạy. Mấy chiếc xe tìm cách dạt qua một bên, len lỏi để chạy cho bằng được. Một hình ảnh thương tâm diễn ra trước mặt Hạnh, làm Hạnh nhớ mãi cho đến sau này. Một anh lính bị thương, đang ôm chặt cánh tay, anh nhìn người qua lại như cầu cứu nhưng không hề có một ai giúp đỡ. Lòng trắc ẩn, nhân đạo của con người không còn thể hiện, ai cũng cuống cuồng lo sợ tìm cách chạy loạn, tìm con đường sống.


Giữa dòng người, giữa dòng xe

Nối tiếp nhau
Thờ ơ
Mặc cho anh, một người lính trẻ
Ôm chặt cánh tay, máu loang chảy thành dòng
Em biết đấy, anh không còn ai nương cậy
Không ai đoái hoài thương xót gợi lòng nhân
Không ai ngoảnh lại dù một lần thôi cũng được
Chỉ còn chăng làn bụi quá ơ thờ
Máu cứ chảy không chừng anh gục ngã
Giữa tuổi đời chưa đến độ đôi mươi
Đôi mắt anh như chìm sâu bóng tối
Như mãi vô tình lắng đọng tuổi thơ em

Mỗi lần nhớ ngày kỉ niệm kinh hoàng
Là em nhớ đôi mắt người lính trẻ
Thân phận con người giữa cảnh loạn ly
Chẳng khác chi lau lách mọc ven đường 

…Một tháng trời nặng nề sống nhờ sống tạm ở thành phố Huế. Không kịp thấy được vẻ đẹp của Huế mộng mơ. Không có dịp về thăm làng quê nội. Một tháng sau cả nhà lại tiếp tục lên xe vào ở Đà Nẵng. Sống vội vàng. Sống gấp rút. Mọi người đi đi, chạy chạy như con thoi. Vỏn vẹn chỉ gần hai tháng ở miền Trung, quê hương ruột thịt. Một buổi trưa cuối tháng năm, cả nhà Hạnh lên máy bay vào sống hẳn ở miền Nam, xa cách Quảng Trị cũng kể từ ngày ấy. 

Có nhiều kỉ niệm khó phai mờ về tuổi thơ, thời niên thiếu của Hạnh ở quê hương, trên vùng đất Quảng Trị. Mặc dù trong thời buổi chiến tranh nhưng Hạnh lúc đó chưa hề cảm thấy nỗi lo toan, vẫn sống vô tư . Cho đến khi mùa hè đỏ lửa thực sự cướp mất sự bình yên của người dân, bắt mọi người phải xa xứ, ly tán khắp nơi. Đâu dễ gì tìm lại khung cảnh cũ, nơi đó bây giờ hoàn toàn đổi thay, người ta đã cất lên những ngôi nhà mới, con đường đã không còn như xưa nữa. Một khi ai đó đã ra đi định cư nơi khác, xem đây như là quê hương thứ hai của mình, lại có công vun vén, gầy dựng cơ ngơi mới, gầy dựng mối quan hệ với những người xa lạ thành quen thuộc, thân thiết thì việc trở về sống trên mảnh đất quê cũ hầu như khó mà thực hiện. Tuy nhiên, Hạnh vẫn mong đến một ngày nào trở về thăm quê nội, quê ngoại trên mảnh đất chôn rau cắt rốn. Niềm hoài bão đó cứ đau đáu trong lòng Hạnh. Điều này có thể thực hiện được chăng?

…Một buổi chiều sau 36 năm xa quê, xa vời những kỉ niệm thời niên thiếu.Sau buổi tan trường, tiếng chuông điện thoại vang lên.

-Alô! Có phải Hạnh không?

Ai vậy nhỉ? Hạnh rất ngạc nhiên khi thấy hiện lên dãy số của tổng đài.

-Hạnh đây. Xin lỗi, ai vậy?

-Anh là Trung ngày xưa ở Quảng Trị, anh bạn hàng xóm của Hạnh đây.

Giọng của anh Trung sao giờ khác lạ đến thế!Hạnh mừng rỡ reo lên:

-À, anh Trung. Bấy lâu nay anh ở đâu? Sao em không liên lạc được? 

-Anh ở Canada. Anh biết số em  là nhờ người bạn, nên anh gọi về cho em đây. Đã 34 năm rồi còn gì. Lâu quá phải không em? 

-Em mừng quá! Bấy lâu nay em muốn liên lạc với anh nhưng không được. Em tưởng anh…

-Tưởng anh chết rồi còn gì!Anh Trung cười.

-Anh Trung có giận em không? Vì em không trả lời thư anh đó


…Qua chuyện trò, Hạnh đã cởi bỏ hết những tâm sự bấy lâu nay mang nặng trong lòng. Những ngày Hạnh vào miền Nam cũng là lúc nhà anh Trung ra tận Phú Quốc, một hải đảo xa xôi, mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc. Những bức thư của anh Trung gởi cho Hạnh phảng phất nỗi buồn xa xứ. Anh gởi cho Hạnh một tấm hình chụp cảnh đảo, phía sau kèm theo những dòng chữ: “Đây là tấm hình của hải đảo này. Hình này là một trong những cảnh mà anh cho là đẹp. Vậy anh gởi tặng em để làm kỷ niệm. Người anh lưu lạc. Hoàng Châu Trung”.  


-Hạnh ơi! Anh sẽ về, sẽ về thăm quê một ngày gần đây...

Hạnh bồi hồi nhớ lại những ngày xa xưa…Vâng, mong anh sẽ về…Mong một ngày trùng phùng…

ĐTH
READ MORE - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI - truyện ngắn Đinh Thị Hiệp

Saturday, June 15, 2013

MỘT THỜI ÁO TRẮNG (Ba người bạn) - Đinh Thị Hiệp

Nguyễn Thị Thanh Thu và Đinh Thị Hiệp
 tại buổi họp mặt cựu học sinh Nguyễn Hoàng Q. Trị
tại Bình Thuận 10/3/2013



Giọng ca của cô Châu cất lên trong trẻo, cũng không phá đi sự ồn ào của tiệc đám cưới, tôi chú ý lắng nghe từng lời bài ca quá quen thuộc:

“Hai năm ôm mộng
Tình ta đã già.
Hai năm tình chạy
Em mỏi chân chưa …”

Tôi còn nhớ khá rõ lời và điệu nhạc của bài hát này, nhạc sĩ không chuyên hồi đó là cậu học trò, mà chị họ tôi gọi là BNPH. Cô Châu là vợ của ông Nguyễn L. là trưởng CA thị xã La Gi, ông một thời cũng là học trò dưới mái trường Cam Lộ, Cam Mỹ.

“Theo đoàn lưu dân” người dân Quảng Trị trước năm 1975 theo các Cha xứ vào đây sinh sống. Nghe nói dân Động Đền đa số theo cha Nam, còn dân Đông Hà thì đi theo cha Hoan. Tôi ở xa về, ghé thăm bà con vào những ngày giáp Tết đầu mùa xuân 1975. Tôi cùng leo lên dốc cao đến trường Cam Lộ xem thầy trò dựng Hội trại. Dốc Trung Giang khá cao, lên đến đỉnh thì thoai thoải hơn, từ dốc nhìn xuống thấy  cảnh biển hình vòng cung, ở xa tít tắp dưới kia. Mặt biển xanh thẳm một màu, có quãng bị che khuất bởi những khu nhà cao thấp ở thị trấn La Gi và biết bao là vòm cây. Nhà cách nhà là những lô đất rộng đến  một, hai sào. Vườn cây là những cây mít nhẫy nhượt mọc lên xanh tốt trên miền đất mới màu mỡ bao bọc lấy ngôi nhà lá hoặc nhà gỗ ở chính giữa. Đây coi như là vùng đất hứa của người dân Quảng Trị vào lập nghiệp. Đất mới khai hoang màu đỏ pha hứa hẹn những mùa bội thu khoai sắn.

Chị họ giới thiệu với tôi hai người bạn thân của chị, mà cả trường hay gọi là tam ca: Duyên (Du Uyên), Ngọc Lan, Huệ (Trắng). Nhìn họ có vẻ khắn khít, đi đâu cũng có nhau. Dưới hàng cây xanh của sân trường, ba chị đang dợt lại bài hát của anh bạn mới sáng tác, đó là những nỗi lòng của anh PH trải vào trong đó về cô học trò anh thầm yêu. Ai cũng thích hát nhạc của anh Ph vì lời lẽ rất dễ thương:

“Hai năm ôm mộng
Tình ta đã già…”

Tôi cũng không hỏi ai là người được anh PH gởi gắm tình cảm vào trong bài hát, chỉ nghe chị Huệ của tôi hết lời ca ngợi anh. (Sau này, anh cùng gia đình hồi cư về Quảng Trị; vùng đất này không thể níu kéo được bước chân, họ tìm về lại trên mảnh đất quê cha ruột thịt)

Ngày Tết sắp đến, tôi giã từ các anh chị ở miền đông Nam bộ này để về lại miền Nam, nơi tôi đang sinh sống. Tôi kịp thoáng nhìn thấy các thầy, trong đó có thầy Lê Mậu Duy, thầy Nguyễn Hiền mà sau này về đây tôi mới biết đến.

Bến xe lam ở trước mặt chợ, nay là chợ Cam Bình, đã ghi lại trong tâm hồn tôi một vài kỉ niệm vui nho nhỏ khi tôi chia tay để ra ngã tư đón xe về nhà. 

Ngày hôm nay, tôi không là cô bé ngày nào mới 16 tuổi, tập tễnh những bước đi vào đời, để tâm hồn mình bay bổng lên với tình yêu trong sáng, thơ ngây tuổi học trò. Tôi không phải ngước nhìn một cách ngưỡng mộ về chị họ tôi và hai người bạn gái. Tôi đã biết nhiều về tình bạn của họ thời áo dài trắng cắp sách đến trường trên đồi cao kia. Con đường đi học ngày qua ngày không êm ả, bằng phẳng như ở chốn thị thành nhưng là một con dốc cao, lối đi về cũng lắm mối tình thơ mộng. Tam ca áo trắng thời ấy cứ thế cất lên tiếng ca trong veo, thánh thót để ca ngợi cuộc sống như những con chim non luôn ca ngợi bầu trời tự do, đẹp đẽ. Đặc biệt chị Huệ Trắng có giọng ca trời phú, thật cao vút, nhất là khi chị hát những bản tình ca của Trịnh Công Sơn hoặc Phạm Duy.

Chị Duyên- sau này tôi gặp lại chị trong bệnh viện Hàm Tân, chị là cô y tá dễ thương trong chiếc áo blu trắng. Bẳng đi một thời gian dài, tôi không gặp chị. Cho đến một ngày đầu năm học 2003-2004, tôi về làm việc tại trường mới ngay giữa trung tâm thị xã. Một hôm, tình cờ, tôi trông thấy chị ở một ngôi nhà gần trường. Tôi mừng rỡ vô cùng, vội vàng ghé nhà thăm chị. Ngôi nhà của chị xây theo kiểu cổ, nhà xây có gác lửng, khu vườn nhiều cây cối bao quanh. Một ngôi nhà vườn ở khu vực dân cư đông đúc nhưng cuộc sống hai vợ chồng rất bình lặng, đều là những người về hưu sống ẩn dật, chăm chút cho ngôi nhà và vườn cây quanh nhà. Vườn nhà chị có cả những bụi chuối đang trổ buồng mọc trên bờ ao bông súng đang nở hoa, có những nụ hoa màu hồng phấn lấp ló  như cứ muốn vươn lên khỏi mặt nước. Có những lúc, khi bắt đầu một ngày làm việc tại trường, khi mở cửa sổ ra; từ ô cửa tôi nhìn thấy chị và hai chị em cứ vẫy tay chào nhau. Tôi có thói quen cứ mở cửa sổ là nhìn qua bức tường, mong được nhìn thấy chị. Hai vợ chồng đã chăm cho bụi hoa tím mau leo lên giàn, để che ánh nắng mặt trời chói chang buổi sáng, nên một khi bụi cây đã leo lên hết cái giàn kia, tỏa bóng  râm mát cho một khoảng sân trước nhà chị, thì tôi chỉ còn thấy thấp thoáng bóng hai vợ chồng ngồi trước ban công nhà vào mỗi buổi sớm mai. 

Chị Ngọc Lan- một nhân vật đáng yêu, giọng nói bao giờ cũng nhẹ nhàng dễ mến. Vào một ngày đầu tháng 9, lớp lớp người về dự họp mít tinh ở sân vận động Hàm Tân; nhà chị lại có chuyện đau buồn, người chị kế của chị là Mộng Hà đã tự tìm đến cái chết. Cái chết của chị khiến mọi người thương xót một cô gái trẻ đẹp. Mẹ chị cũng bị bệnh, thần kinh không ổn. Anh em nhà chị sau này bỏ xứ, theo nhau đi làm ăn nơi khác. Tôi từng nghe về cuộc sống của chị, chị có một đời chồng và đã li dị, chị lấy một người đàn ông khác tính tình cũng thất thường. Cuộc đời chị lắm gian truân; người ta thường nói hồng nhan bạc phận là thế. Có lần, tôi lên dự đám cưới cháu ở Sùng Nhơn, một vùng đất xa xôi, tận cùng của tỉnh Bình Thuận, gần giáp với tỉnh Lâm Đồng. Xế trưa, thay về tôi đi về đường Lạc Tánh mà sáng nay tôi đã đi qua, tôi lại cùng các anh chị bà con chạy về đường Đa Kai để ra Phương Lâm, Định Quán ra quốc lộ 1A. Chúng tôi dừng chân ghé lại quán café của chị Ngọc Lan. Tôi thấy người chồng của chị đúng như tôi đã hình dung, mặt mày thô kệch, râu tóc dài trông có vẻ quái dị. Sau này, tôi nghe tin vợ chồng chị lại bỏ nhau, chị đi làm xa để nuôi con ăn học. Một tối, bất ngờ chị gọi điện cho tôi, kể về việc chị hiện đang làm bồi cho một nhà nghỉ, khách sạn nào đó ở Võ Đắc, Ông Đồn nhưng chịu không nổi sự hà khắc của bà chủ chị lên Sài Gòn lại tiếp tục kiếm việc làm khác. Tôi không thể tin nổi một cô gái mảnh mai ngày nào giờ phải lâm vào hoàn cảnh bi đát như thế. Giờ này chị đang làm tại một cơ sở nuôi trẻ ở quận 7, chị làm việc và được ở lại vô cùng thuận tiện cho chị. Mong cuộc sống của chị cứ bình yên như thế để chị còn tiếp tục nuôi cho hai đứa con trai ăn học nên người.

Nhân vật thứ ba tôi sẽ đề cập đến là chị họ tôi, chị Huệ Trắng, biệt danh này được đặt cho chị từ những ngày đi học ở dưới ngôi trường trên đồi cao gió hú kia. Những tháng ngày sau giải phóng, việc tập tành văn nghệ, ca hát là cái thú vui của chị. Ban ngày lao động trên nương vườn, tối đến sinh hoạt đoàn thanh niên. Lời ca tiếng hát xua đi mọi gian khổ, tạo niềm vui sống cho chị cũng như cho mọi người. Tiếng hát vẫn cao vút giữa bầu trời trập trùng, chị vẫn vô tư khi lội qua suối, cùng các em lên nương rẩy, nhà chị theo người ta làm những vụ bắp, những vụ mùa trồng khoai, sắn như nhà tôi vậy. May mắn Ông trời thương dân nghèo, những năm này chưa ai phải chết đói, vùng đất mới còn có những bãi trồng dưa hấu; bờ biển Cam Bình đầy tôm cá đủ sức che chở, nuôi biết bao con người xứ Quảng Trị, Bình Long. Giọng hót của những chú chim trên bầu trời kia chưa chắc đã thánh thót bằng chị, nhất là bài: “cô gái vót chông” chị lấy hơi, tiếng ca ngân dài chưa muốn dứt. Về sau, chị có gia đình sớm, bỏ cuộc vui…chị chuyển lên ở Xuân Sơn, Bà Rịa Vũng Tàu. Cuộc đời chị gắn chặt với chồng con, lại là nương mì và những vườn tiêu xanh um. Các con chị giờ khôn lớn, kể như chị cũng an phận với cuộc sống gia đình. Giờ này, giọng ca của cô gái trẻ ngày nào có còn vươn xa, bay xa theo thời gian nữa không?

Tam ca ngày nào bên nhau, đem lại những khúc hát vào đời ca ngợi tuổi hồn nhiên, thuở áo trắng học trò này đâu còn gần gũi bên nhau. Mỗi người đi mỗi phương trời, mỗi người có một hoàn cảnh sống riêng. Nếu có một lúc nào đó, các chị gặp gỡ nhau, nghe lại những ca khúc đầu đời của anh BNPH thì chắc sẽ gợi nhớ nhiều đến kỉ niệm thời đi học, những ngày tháng bên nhau cùng học hành cùng vui chơi dưới mái trường đơn sơ, bình dị.

“…Con đường còn dài em ơi
Nẻo đường còn nhiều phôi pha
Nếu mà đời có khổ đau
Đừng trách gì nhau ơi đời”


                                                  Chiều thứ sáu, 14-6-1013
                                                                 Đinh Thị Hiệp
                                                                 (Bình Thuận)
READ MORE - MỘT THỜI ÁO TRẮNG (Ba người bạn) - Đinh Thị Hiệp

Monday, July 2, 2012

NHỮNG BUỔI CHIỀU KỶ NIỆM - Đinh Thị Hiệp

Tác giả Đinh Thị Hiệp về dự buổi họp mặt kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Nguyễn Hoàng tại  Quảng Trị  24/6/12


          Có những buổi chiều đến với tôi, buồn hay vui, mang nhiều sắc màu khác nhau, tùy thuộc lứa tuổi, tùy theo tâm trạng của chính bản thân tôi.

          Ngày…tháng 3 năm 1972

          Chiều nay, ánh nắng đã dịu dần, không còn gay gắt nữa, nắng cứ trải dài trên con đường ven sông, đưa chân chúng tôi đến sân chơi của ty thanh niên Quảng Trị. Lứa tuổi thiếu niên thật vô tư làm sao! Sau giờ tan học, vừa về đến nhà, cất vội cặp sách là chạy ngay ra chỗ cũ, tha hồ những trò chơi tinh nghịch. Khi ánh chiều sắp tắt, bóng nắng ngã dài, rồi từng vệt loang lổ trên các vòm cây, trên các mái nhà, như còn đang lưu luyến một ngày; bạn bè chúng tôi ra về mà lòng còn tiếc nuối các trò chơi dở dang. Không riêng gì tôi mà hầu như đứa nào cũng vậy, mong ngày cứ dài ra mãi.

            Ngày…tháng 4 năm 1972

          Từ trưa đến chiều, gia đình tôi len lỏi qua đám người chạy đi tỵ nạn. Người đâu về thật đông, nhích dần qua từng đám người, xe cộ lũ lượt đổ dồn trên con đường vào Huế. Màn đêm đã buông xuống, trên sông Hương, dòng nước vẫn lửng lờ trôi dưới ánh điện vật vờ của những ngôi nhà ven sông. Cả nhà tôi ai nấy như ngồi trên đống lửa, vì đang còn chờ một người quen ra bảo lãnh cho vào thành nội. Chúng tôi trở thành cư dân bất đắc dĩ của thành phố Huế trong một thời gian thật ngắn ngủi, chỉ chưa đầy một tháng.

          Ngày….tháng 4 năm 1972    
 
  Một chiều đầu hè, trời nóng như đổ lửa. Ai cũng cảm thấy cái nóng hầm hập của từng cơn gió Lào bắt đầu thổi về. Trên con đường nhựa như có những làn hơi bốc lên cao. Tôi cùng gia đình, bà con ngồi trong thùng  một chiếc xe tải; có chiếc xe này như thế mới chở đủ số người. Chiếc xe cứ như thế chạy lắc lư, lắc lư vào Lăng Cô, leo ì à ì ạch lên đèo Hải Vân, xuống Nam Ô, rồi vào đến Đà Nẵng. Qua ô cửa nhỏ gần trên mui xe, tôi cố nhoài người ra để nhìn cho được làng Truồi, quê nội của tôi. Kia rồi là con đường dẫn vào làng, mà ngày nào vào dịp Tết, tôi được mẹ dẫn về đây thăm. Ở đó, có lúc tôi đứng tần ngần, rồi thích thú đứng mãi xem bà con chơi những ván bài chòi bằng cờ người. Bên này  là núi Truồi, kéo dài dưới chân núi cao là những nương dâu, những bãi ngô, khoai sắn xanh rì. Có dịp về quê nội, tôi rất thích ra bờ sông ngắm nhìn dòng sông nước trong xanh hiền hòa, xa xa có một vài chiếc đò xuôi ngược; ước gì có hôm tôi được thả mình trên một chiếc đò nan nào đó; đò cứ  việc  trôi, còn tôi thì tha hồ ngắm trời mây nước. Tôi còn thèm nghe tiếng còi tàu hỏa kéo dài, xen lẫn tiếng bánh xe sầm sập trên đường ray đến dường nào; lòng tôi như quặn thắt, vì tôi sẽ xa quê hương từ đây.
          
            Ngày…tháng 5 năm 1972

         Chiều nay, tại thành phố Đà Nẵng, tôi đã liên lạc được với người bạn thân. Hai đứa tay trong tay dắt nhau đi men theo các vỉa hè mấy con phố. Chia tay bạn mà lòng tôi thấm thía nỗi buồn, ngày mai tôi sẽ xa bạn, biết bao giờ mới gặp lại?

          Trên sân bay Đà Nẵng, mẹ tôi gấp gáp dẫn đàn con ra cho kịp giờ. Chiếc máy bay boeing cất cánh mang theo cả nỗi lo âu canh cánh trong lòng của mẹ tôi, trong khi đó ngược lại tôi có phần háo hức, tưởng tượng khung trời mới của miền đất phương Nam sẽ như thế nào đây? Một cảm giác hụt hẩng khi máy bay rời cánh trên đường băng bay lên cao. Qua ô cửa tôi nhìn xuống thành phố  với những con đường, những khu nhà, … dần dần thu nhỏ lại như bàn cờ. Con sông uốn quanh các làng mạc, núi non hùng vĩ càng lúc càng nhỏ lại và xa dần. Những đám mây trắng như bông pha lẫn màu nắng vàng đang trôi bồng bềnh tưởng như có thể với tay sờ tới được; chiếc máy bay  trôi trên dòng sông mây hướng về nam. Xuống sân bay Tân Sơn Nhất vào buổi xế chiều, mợ tôi ra đón cả nhà, cho  lên xe về Mỹ Tho. Tôi ngỡ ngàng quan sát xung quanh: Ôi chao! Cái gì cũng khác lạ so với Quảng Trị. Người ta chất đầy những quầy trái cây: thơm, xoài…các loại trái của Nam bộ, bán dọc theo hai bên đường, từ Xa cảng miền Tây chạy dài, những vườn trái cây phủ một màu xanh um, mát rượi trong bóng chiều.

     Ngày …..tháng 9 năm 1973

          Đó là đường Hùng Vương, con đường ngập lá me bay. Hai hàng me già nối tiếp nhau chạy dọc theo hai bên đại lộ. Các vòm lá xanh, rợp đầy bóng mát, chỉ có một vài tia nắng hiếm hoi lọt qua từng kẽ lá. Con đường này hàng ngày đưa tôi đến trường. Những ngày đầu đi học, tôi đi bộ một mình, chỉ việc thong thả bước men theo vỉa hè  mà liên tưởng đến con đường làng ngày xưa đi tắt từ nhà in Nguyễn Văn Phước để đến ngôi trường nhỏ bé, phân hiệu của trường trung học Nguyễn Hoàng.

  Về sau, tôi đã có số bạn ở trường mới này. Có những buổi nghỉ học, chúng  rủ tôi qua vườn. Khi đi qua cây cầu gỗ bắt ngang một nhánh sông nhỏ của Tiền Giang, tôi chợt nhớ đến câu nói của một người thầy: “Nếu cho một đội quân đi đều bước một hai trên cây cầu ấy, sẽ gây cộng hưởng và cầu  có thể sập.” Đó là lời thầy ví dụ vậy thôi, chứ giờ đây chân chúng tôi vẫn tha hồ chạy nhảy trên cầu mà không hề lay chuyển gì. Cả đám bạn hướng về miệt vườn của nhà nhỏ bạn. Thật bất ngờ làm sao! Tôi thích thú ngắm nhìn khung cảnh diễn ra trước mắt; cả những vườn cây trái sum suê trĩu quả. Khi đi qua con đường mòn phải cúi đầu xuống vì sợ đụng phải những chùm xoài treo lủng lẳng. Nào những cây mận trái chín đỏ, đưa tay vói hái dễ dàng. Cả những bụi cây sa bu chê, trái nào trái ấy căng tròn, mấy nhánh cây xòa ngay cạnh đường đi. Nhiều cây chanh, cam, quýt ....trồng quanh ngôi nhà lợp bằng lá dừa, trái nhiều vô kể. Chúng tôi chạy ra tha hồ hái trái cho vào giỏ lác, rồi ngồi túm tụm dưới gốc cây, vừa ăn vừa trò chuyện. Tôi lại tha thẩn ra bờ sông, dõi mắt nhìn những chiếc xuồng qua lại. Trên khoang chất đầy dừa, thơm hoặc loại cây trái khác, người ta chở về chợ Hàng Bông để bán cho mấy chủ vựa. Bên kia sông, cũng là màu xanh của những khu vườn, mấy hàng dừa nghiêng nghiêng dọc theo bờ đất; chợt đâu đó vài đàn chim vụt bay lên gây nên âm thanh huyên náo cả một vùng.

          Quả thật thiên nhiên phú cho đất đai miền Nam màu mỡ, phì nhiêu; ruộng đồng bát ngát, cò bay thẳng cánh; những vườn cây trái um tùm…; người ta dễ kiếm cái ăn  nên không hề sợ đói; do đó tính tình của họ cũng trở nên chất phác, hiền lành, phóng khoáng và vô cùng hiếu khách.

          Ngày…tháng 5 năm 1974

         Cô em gái, con cậu, rủ tôi cùng với một số người bạn đi chơi thuyền; chiếc thuyền nhỏ chở chúng tôi chạy ven theo một cù lao trên sông Tiền. Tôi đã tận mắt ngắm cảnh hoàng hôn trên dòng sông. Mặt trời tròn, to chuyển sang màu đỏ sẫm đang lặn dần, khuất sau những hàng dừa của dải cù lao. Người ta gọi đây là cù lao Dừa vì đi đâu cũng thấy toàn là dừa. Chiếc thuyền từ từ rẽ sóng chạy men  bờ. Một cảm giác lâng lâng, hơi chao đảo; tôi ngồi lại cho vững, cố giữ thăng bằng, hai tay nắm chặt lấy mạn thuyền. Những làn nước mát lạnh bắn lên tung tóe, thấm ướt cả áo. Giữa không gian thoáng đãng, tôi cảm thấy choáng ngợp. Vũ trụ dường như bao la quá! Có đi xa, có đi nhiều nơi mới thấy được nhiều vẻ đẹp của đất nước mình. Trên hòn, nhà cửa thưa thớt khuất hẳn trong những khu vườn rậm rạp. Một vài làn khói lam chiều đang còn vương vất trên các ngọn cây. Những đàn chim bay về từng đàn tìm nơi trú ngụ, thật vội vã như đang chạy đua với bóng hoàng hôn.  Trời chiều đã ngả màu, ai cũng cảm thấy lạnh và thúc giục ra về. Người chủ thuyền nhẹ nhàng bẻ lái cho thuyền quay về bến ở vườn hoa Lạc Hồng. Thành phố bắt đầu lên đèn.
          
  Ngày…tháng 3 năm 2009

          Đâu đó có tiếng gà gáy trưa trong không gian vắng lặng khiến lòng tôi chợt thấy một nỗi buồn nao nao. Mọi vật như chìm vào giấc ngủ đầy mệt mỏi. Trời đang chuyển mùa nên thời tiết có vẻ khắc nghiệt hơn. Tôi chờ nghe tiếng tu hú gọi báo hiệu hè về.

          Bây giờ mới đầu tháng 3 mà một vài cây phượng ở đầu dốc đã bắt đầu trổ hoa. Những bông hoa đỏ đang có điều gì nhắn nhủ cho đám học trò vô tư đang đi trên con đường kia không nhỉ? Bài “Hoa học trò” của Xuân Diệu đã tả vẻ đẹp của tập thể phượng đông đúc trong mùa hè về; một khi trong buổi đầu một vài bông nở lác đác không đủ sức kêu gọi hè thì đến một hôm nào đó các em sẽ phải ngạc nhiên trước sự thôi thúc mạnh mẽ của mùa phượng vĩ.

          Những buổi chiều như chiều hôm nay, đều đặn, đến giờ là tôi chạy xe xuống con dốc dài về trường. Tôi ngỡ mình đi sớm nhưng không phải thế, trên sân trường đã có lác đác vài bóng dáng học trò. Tôi ngồi trên chiếc ghế đá quen thuộc, nhìn ra sân. Gần trước cổng chỉ có một cây phượng non tuổi chưa đủ sức lớn để tỏa bóng mát. Ở đây, không hiểu sao ngày trước người ta trồng nhiều cây bàng đến thế! Mấy hôm rồi, phải nói mùa lá rụng khiến cho đám học trò nhỏ ngày nào cũng phải thi nhau lượm, gom bỏ vào sọt đem đổ, để bác bảo vệ phơi khô, rồi đốt. Chỉ cần một vài cơn gió mạnh thổi đến là những chiếc lá vàng úa rơi lả tả đầy cả sân trường. Giờ đây bàng đã thay lá, những chiếc chồi non li ti ngày nào giờ đã lớn dần; lá đã bằng bàn tay, rồi dần dần to hẳn như cái quạt, kết thành những tán lá rậm dày che mát cho thầy trò khi đến giờ học thể dục. Tôi chợt mỉm cười khi nhớ đến lời bài hát năm mới ra trường tôi đã từng tập cho lớp: “Mùa đông áo đỏ. Mùa hạ áo xanh. Cây bàng khi mở hội là chim đến vây quanh…”

          Ngày…tháng 2 năm 2008

          Chiều nay, tôi đang trên đường về nhà sau buổi đến trường.

          - Hạnh ơi!

Tôi bất ngờ khi nghe tiếng gọi. Bên kia đường chị Hà đang đưa tay vẩy. Tôi cho xe chạy qua đường để gặp chị Hà, chị đưa cho tôi một phong  thư.

       - Thư mời của Nhóm Nguyễn Hoàng La Gi đó. Vài hôm nữa Hạnh đến chở, hai chị em mình cùng đi cho vui!

        Lần họp mặt Tết năm trước, năm 2007, tôi chưa đi được, còn bây giờ có  dịp để tôi tham gia. Một niềm vui nhen nhóm trong lòng. Tôi hẹn với chị chắc chắn là sẽ đi. 

        Suối Dứa là nơi được tổ chức, đây có phong cảnh hữu tình cho những ai có tâm hồn thi sĩ. Nhà hàng rộng rãi, thoáng mát; cách trang trí cho buổi gặp mặt khá đơn sơ nhưng không kém phần ấm cúng, dễ gây thiện cảm cho những ai về  hội ngộ. Tôi nhìn quanh quất, cố tìm cho ra ai là người bạn học của mình; nhưng vô cùng thất vọng. Toàn là những cô chú, anh chị lớn tuổi; thấy họ ôm nhau, tay bắt mặt mừng, cười nói tíu tít như thưở còn đi học khiến tôi vô cùng cảm động. Đã những lần tôi có ý định tìm Quỳnh, người bạn thân hồi học chung hai lớp đầu cấp trung học Nguyễn Hoàng. Nhà Quỳnh ở ven bờ sông Thạch Hãn, ngày ngày tôi thường qua nhà bạn cùng học, cùng chơi. Thật bất ngờ, chính ngay sau lần họp mặt này là mối dây liên lạc để tôi gặp được Quỳnh, gặp lại những đứa bạn cùng lớp, cùng khối của tôi. Những lần gặp nhau về sau đa số tại thành phố Hồ Chí Minh, hoặc có khi tìm về thăm nhà bạn ở Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Thuận… Nhóm bạn kết nối ngày càng đông thêm.

          Ngày 5 tháng 7 năm 2009

         Chiều này, mặc dù mưa tầm tã nhưng tôi vẫn lên xe vào thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc họp mặt của các bạn như thường kì vào đầu mỗi tháng. Bên bạn bè tôi cảm thấy vui hơn, thấy mình như trẻ lại và bỏ qua một bên những ưu tư, bề bộn của công việc thường nhật. Giờ tôi ngồi đây ôn lại những kỉ niệm êm đềm về bạn bè, thầy cô, trường lớp cũ. Tôi ao ước sao cho mình được sống lại chỉ một ngày thôi, như ngày xưa thân ái ở quê nhà. Tình cảm bạn bè, tình đồng hương thật đáng trân trọng, quý giá biết dường nào! Tôi- chúng mình hãy dang tay đón nhận tình cảm chân thành ấy và hãy giữ cho ngọn lửa yêu thương  không bao giờ tắt nhé các bạn!


Đinh Thị Hiệp
dinh_thihiep@yahoo.com
READ MORE - NHỮNG BUỔI CHIỀU KỶ NIỆM - Đinh Thị Hiệp

Wednesday, January 4, 2012

ĐINH THỊ HIỆP - SÙNG NHƠN, MIỀN QUÊ XA



Tôi đã có một vài chuyến đi về thăm lại Sùng Nhơn, Đức Linh.

Trong mấy lần về đây, hầu như có gần đủ các anh chị của anh, còn tôi là người thay thế cho anh trong gia đình bên nội. Không có anh nhưng những kỉ niệm về anh, về cuộc sống đầy gian khổ trong mấy năm trời ở vùng đất nghèo khó này cứ theo nhau hiện về. Mọi người thay nhau kể chuyện ngày nào còn theo đội sản xuất ra đồng lao động. Công sức làm ruộng, cấy lúa, nhặt cỏ … được tính công và cuối vụ được trả bằng vài thúng lúa. Chẳng qua một thời để nhớ, để tưởng niệm quá khứ và tự hào vì mình còn đứng vững trong thời kì bao cấp ấy.
    
Tôi không hiểu sao vào lứa tuổi thanh niên, tôi có đủ sức khỏe và nghị lực đến như thế! Năm 1978, tôi đã cùng đoàn người lên khai phá khu rừng Bắc Ruộng, để cho hôm nay, đây trở thành một khu đông dân cư. Mùa hè năm sau, từ trường sư phạm Phú Long, tôi cùng anh lên xe về Bắc Ruộng. Hồi này, xe cộ hiếm hoi, việc đi lại rất khó khăn, chờ đợi mua được vé phải mất nhiều thời gian. Chiếc xe chạy bằng than ì à ì ạch trên chặng đường đất đỏ lầy lội, ngồi cạnh thùng than mà thấy người nóng hầm hập, mồ hôi đổ giọt, có nhiều lúc chúng tôi phải xuống xe, tài xế nóng lòng ngồi trên cabin rồ máy, còn đàn ông, thanh niên phụ nhau đẩy chiếc xe qua chỗ bị sụp lầy. Đây là núi Tà Pao, chỉ còn một quãng nữa là đến Bắc Ruộng. Bến xe là bãi đất trống, vắng ngắt như tờ, quanh đâu đó chỉ một vài ngôi nhà tôn mái lá kè lụp sụp. Chúng tôi mang xắc lên vai, chẳng có gì ngoài vài món quà đơn sơ đem về thăm gia đình; chuẩn bị tinh thần lội bộ, nghe chừng gần 30 cây số tính từ đây về đến Sùng Nhơn. Vừa đi tôi vừa quan sát hai bên đường. Xung quanh vẫn còn lắm trảng rừng, nhà cửa thưa thớt, đường lộ thật vắng vẻ, ít xe cộ và người qua lại. Trên đường đi, thỉnh thoảng, chúng tôi gặp một số dân địa phương, tiếng nói như người dân tộc rất khó nghe; tôi hỏi và được biết đó là người dân gốc ở đảo Phú Quý, Phan Thiết, vào đây sinh sống. Trời chiều đã xế bóng, mồ hôi nhễ nhại, bước chân chúng tôi vẫn bền bỉ trên con đường dài băng qua xã Nghị Đức, Mé-Pu…Vừa đi vừa trò chuyện nên cũng quên đi sự mệt mỏi, lâu lắm  mới dừng lại, ngồi xuống ven đường xoa bóp cho đôi bàn chân bớt tê cứng. Đi mãi cho đến khi trời vừa sập tối chúng tôi mới về đến nhà. 





Tôi đã từng nghe anh kể vào thời gian đầu mới lên xứ này, anh vào rừng chặt tre về bán ở chợ Vỏ Su. Khi bơi qua sông La Ngà, anh ôm mấy cây tre, dựa vào sức nước để vượt qua bên kia bờ. Số tiền bán tre, anh đem về đong gạo nuôi gia đình. Anh còn đưa cho tôi xem mấy vết sẹo còn in rõ ở trên trán và cánh tay, vì một hôm bị tai nạn,  do không có kinh nghiệm khi đi rừng. Mùa hè năm sau, anh và người chị cả làm đơn đi học sư phạm, gọi là để thoát ly, để thay đổi cuộc đời, thoát khỏi cảnh khổ. Thời gian đầu và mãi về sau này, anh hay bị chứng đau nửa đầu, cũng có thể cơn bệnh ngặt nghèo đã ngấm vào người? Cuộc đời anh thật ngắn ngủi, chưa đủ để làm hết những dự định đang còn dang dở…Anh để lại cho tôi tiếp nối trên con đường anh đã chọn.
Sùng Nhơn là miền quê mới của người dân Quảng Trị. Đây là một vùng quê nghèo, nằm cuối cùng của tỉnh Bình Thuận và gần giáp với tỉnh Lâm Đồng. Phía tây là những dãy núi cao xa tít chân trời. Dân ở đây có thể đi tắt theo con đường từ Sùng Nhơn ra đến Định Quán, Phương Lâm, rồi từ đó lên Bảo Lộc, Lâm Đồng. Người ta bảo “Đất lành chim đậu”, điều đó cũng đúng, vì những năm 1977, 1978 là năm thiếu đói, con người phải biết dựa vào đất để mà sống; cảm ơn trời đất đã cho con người có cái để ăn qua những năm tháng cơ cực sau chiến tranh. Dân tứ xứ về đây định cư theo chính sách di dân, khẩn hoang – kinh tế mới. Giờ đây, hai bên đường, thay thế những trảng rừng là xóm làng, nhà cửa khá khang trang, xa kia là những đồng lúa xanh rì xen kẻ nhiều nương bắp trái vụ. Vì đây là một vùng đất trũng nằm gần núi nên đầu mùa hè thường xảy ra những trận mưa dông kèm theo một vài cơn sét đánh chết người. Nhà nước đã cho xây những cột thu lôi nằm chơ vơ giữa đồng ruộng. Ngày trước, học sinh đi học trường cấp 3 ở Vỏ Su, hôm nay ngay tại xã Mé-Pu đã có một trường Trung học phổ thông, làm cho các em đỡ vất vả, khỏi phải đi học xa nhà. Đường sá đã được làm mới, tuy nhiên vẫn còn những đoạn đường còn quá hẹp, gồ ghề lắm ổ voi, ổ gà.
Quanh năm, có một số người dân sống bằng nghề câu cá trên đồng hoặc cất vó ven sông. Một dịp về ngang Vỏ Su, chúng tôi ghé vào một quán ven đường để thưởng thức món cháo cá lóc. Mùa mưa, nước lủ tràn về trên sông La Ngà, nước tràn lênh láng vào các ruộng đồng. Dòng sông ở đây hẹp và sâu, nhìn thấy dòng nước đỏ lừ lừ chảy ùng ục cứ tưởng tượng bao nhiêu nước trên rừng theo nhau tuôn về xuôi. Có khi tôi nghe người ta kháo nhau đâu đó trên sông La Ngà có cá sấu, không biết thực hư như thế nào. Từ Sùng Nhơn đi qua Vỏ Su có khi người ta phải đi đò rất là nguy hiểm, nhất là vào mùa nước dữ, dòng nước xoáy hung tợn có thể làm cho chiếc đò lật úp, chìm nghỉm.

Đầu mùa hè năm 2009, tôi đi công tác ở Nam Chính, Vỏ Su. Tôi có ý định buổi tối hôm đó về thăm anh họ tôi ở Sùng Nhơn. Chúng tôi không đi về đường Bắc Ruộng mà đi theo đường Lạc Tánh - Huy Khiêm- Vỏ Su. Ghé Lạc Tánh, ngồi nghỉ ở một quán nước bên đường, thật ngạc nhiên khi nhìn thấy những chú chuột đồng nghe nói là béo ngậy đang được chưng bày như món đặc sản, món ruột của dân nhậu. Tôi đợi đứa cháu chồng(nhà ngay thị trấn Lạc Tánh này), gặp nhau tại quán, cùng uống nước chuyện trò. Mới đầu mùa mưa mà dân ở đây trồng bắp đã thu hoạch, từng thúng bắp chín bày bán dọc đường. Tôi hỏi đứa cháu về món chuột đồng kia. Cháu tôi cười cười trả lời: “Ai biết đó là chuột đồng hay chuột nhà, làm sao mà phân biệt được?”.

Tôi không biết Huy Khiêm ở đoạn nào trên chặng đường mà tôi đã đi qua? Tôi đã quên mất, không nhớ rõ nơi mà ngày trước vào năm 1976, 1977 sau giải phóng , ba tôi đã gần hai năm sống tại trại cải tạo Huy Khiêm này. Một vài lần tôi tìm lên thăm nuôi ba tôi. Được phép của cán bộ trại giam, tôi vào thăm ba. Ông vẫn nụ cười hiền lành, hỏi thăm về gia đình, nhận quà thăm của nhà mà rưng rưng nước mắt. Tôi hỏi ba làm những công việc gì, có nặng nhọc lắm không? Ba tôi kể rằng ông được giao cho việc bốc hạt đậu phụng, thứ nông sản do chính tay các anh em lao động, làm ra. Giờ đây ông còn được giao việc chăn giữ mấy con bò của trại. Ông hay dắt chúng ra gần hàng rào cho ăn cỏ. Có khi vài người dân cảm thương khi nhìn thấy liền dúi vào tay ông ít tiền. Ông không biết dùng để làm gì, để dành lại khi tôi lên thăm ông gởi về cho mẹ tôi. Khi vào rừng, có vài buồng chuối sắp chín, ông tìm cách bẻ xuống, đem dú vào bụi cây đến khi chín hẳn đem về cho anh em ăn dần. Ngày mồng bốn Tết năm 1976, tôi lên thăm ba tôi. Có sự trùng hợp ngẩu nhiên hay linh tính báo điều không lành, mà ba tôi đưa cho tôi gói đồ gởi về nhà, trong đó có một chiếc khăn trắng, tôi vô tư lấy khăn cột lên tóc mình. Ai ngờ đó cũng là ngày ông nội tôi ở Huế sắp từ giã cõi đời khi bên cạnh không có người con trai trưởng, mà người con ấy chính là ba tôi, đang còn ở trong trại. Tôi cứ suy nghĩ mãi về điều này, con người chắc chắn có một mối linh cảm, ràng buột với nhau, nhất là những người thân thích ruột thịt. Ba tôi khi biết tin ông nội mất chắc đau khổ, dằn vặt vô cùng! Rồi cuối cùng ba tôi cũng rời trại, trở về với gia đình, tuy nhiên sức khỏe của ông về sau không được tốt lắm.Trại Huy Khiêm đã gắn với bao kỉ niệm vui buồn của những người như ba tôi đã từng một thời làm việc cho chế độ cũ, còn sau này qua bao nhiêu năm tháng cố gắng phấn đấu cải tạo để trở về đời thường, sống hòa nhập với xã hội; nhưng giờ thì đa số những người ấy đã già nua hay có thể không còn sống trên cõi đời này nữa.

Như ý định, tôi ghé về Sùng Nhơn. Ngang ngã ba, tôi đã nhác thấy anh tôi đứng chờ. Tôi chia tay người bạn ở đó, hẹn sáng hôm sau gặp nhau tại chợ để về Vỏ Su. Người bạn tôi cũng tiện dịp về thăm nhà em trai ở Đa Kai, cách chừng vài cây số.  Đa Kai là vùng đất mới khai hoang sau này, là nơi đang khai thác nguồn tài nguyên nước khoáng. Tôi ở lại một đêm với gia đình người anh họ, con cậu tôi. Khoảng ba giờ sáng, khi trời còn tối đen như mực, anh tôi đã đi ra bờ sông. Ngày nào cũng như thế, anh ra sông gỡ số cá mắc lưới mà chiều hôm trước anh giăng câu. Hôm nay, anh bắt và bán cá được mười mấy nghìn, còn mớ ốc bươu anh lượm ở ruộng được lưng giỏ, đem về băm nhỏ làm thức ăn nuôi bầy vịt. Anh còn than vãn năm nay nạn chuột đồng phá làm mất mùa lúa lấy đâu ra tiền lo cho con ăn học. Chăn nuôi, trồng trọt, làm ruộng, bắt cá đã biến anh trở thành một nông dân thực sự.Thấy người anh gầy gò, đen đủi vì dầm mưa dải nắng, tôi rất mủi lòng. Anh là con trai cả của cậu tôi; gia đình cậu tôi ngày trước ở Quảng Trị thuộc vào hạng công chức, có một cơ ngơi tương đối khá. Chiến tranh đã cướp mất tất cả. Giờ đây hầu hết các con của cậu tôi đều lam lũ, sống bằng các nghề lao động là chính.

Người dân về đây lập nghiệp về sau có sự phân hóa rõ giàu nghèo. Người làm ruộng, người làm thợ ở lò gạch, người làm nghề bốc hạt sen, hạt điều thuê, kẻ buôn bán, người giàu cho vay lấy lãi… dần dà tạo nên những tầng lớp trong cái xã hội thu nhỏ ở vùng quê ấy. Có một số gia đình có ý chí muốn vượt lên cái nghèo khó bằng cách bươn trãi cho con học đại học, cao đẳng, làm công nhân các nhà máy, có số em trở thành thầy giáo ngay tại địa phương. Tôi hỏi chị họ tôi bốc hạt sen một ngày được bao nhiêu tiền công? Chị tôi bảo chỉ hai, ba chục nghìn là mừng rồi, đủ để sống tiện tặn qua ngày. Vậy thì khi bệnh lấy đâu ra tiền chữa bệnh? Ơn trời, mong cho khỏe mạnh. Chị tôi cười.

Đất đai xứ này màu mỡ, người ta trồng một năm mấy vụ lúa. Hầu như nhà nào cũng có vài trụ tiêu trồng trong khu vườn. Dây tiêu xanh um leo lên trụ bằng thân cây gỗ, dần dà gỗ rừng khan hiếm họ thay thế bằng mấy trụ gạch. Khí hậu có vẻ khắc nghiệt hơn, ban ngày trời nóng như đổ lửa, về đêm lại rất lạnh, không có những cơn gió mát mẻ, dễ chịu  như mấy vùng ven biển. Người dân Quảng Trị mình không chịu an phận, một số lại đi tìm vùng đất hứa: đó là Xuân Sơn, Ngãi Giao, Bình Giã…của tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu; là Trị An, nơi phát triển nhà máy thủy điện của tỉnh Đồng Nai, ngày xưa còn lừng lẫy chiến khu D; đi đâu cũng thấy dân xứ mình lưu lạc đến ở và tìm mọi cách để sinh sống. Phải nói rằng gia đình cậu tôi rời chốn này về Xuân sơn làm ăn thì cuộc sống có phần tốt đẹp hơn là ở Sùng Nhơn. Còn lại chỉ hai người con của cậu; tôi thật ái ngại khi nhìn thấy cuộc sống của các anh chị: vì tôi có cảm giác như đây là tận cùng của sự khốn khổ!

*Khi kết thúc bài viết này là vào đầu mùa hè tháng 6 năm 2010-vợ chồng người con trai cả của anh họ tôi, cả hai đều là giáo viên trường trung học cơ sở, hiện đang dạy ngay tại quê nhà Sùng Nhơn. Chiều này, sau một chuyến đi thăm bà nội ở Xuân Sơn, ghé về thăm tôi. Anh tôi có cả thảy 7 người con (dân số hèn gì tăng vọt là phải!), trong đó còn có một con gái đang học đại học xã hội-nhân văn, khoa báo chí, hy vọng sau này cậu cháu xin cho về làm tại Phan Thiết; một con gái sau hai năm bền chí mới học xong bổ túc, có bằng trung cấp, đang xin làm việc ở khu công nghiệp Biên Hòa; một con gái khác cũng làm công nhân tại đó; một con gái đã có gia đình, ở gần nhà, ngoài ra còn có hai đứa con đang học trung học phổ thông. Anh tôi vẫn có niềm tự hào khi nói với tôi về truyền thống hiếu học của gia đình, khiến bà con hàng xóm cũng phải nể phục. Âu cũng là một phần kết có hậu phải không? Tôi tin chắc là như thế! 

ĐTH 
      


READ MORE - ĐINH THỊ HIỆP - SÙNG NHƠN, MIỀN QUÊ XA