Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 4, 2013

Ngọc Tình - THƯ TÌNH NĂM 72

Tác giả NGỌC TÌNH

Lần đầu nghe cha mẹ nói
Con gái học cao chẳng làm gì
Thôi thì xem ai gả nó đi
Gả xong rồi còn lo đứa khác
Tuổi mười sáu đang ăn đang học
Bao mộng mơ học nữa học lên
Bây giờ nghe cha mẹ nói thêm
Thế là hết, lấy chồng xong là hết
Rồi một chiều tháng mười se lạnh
Một chàng trai đi xe đạp phượng hoàng*
Ở bên đường anh để ý bước sang
Đưa cho tôi một phong thư nhỏ
Tay run run nên tôi vội vã
Nhìn quẩn quanh sợ mẹ sợ cha
Chốn ra vườn núp kín thật xa
Mở thư ra vội vàng tôi đọc
Vừa đọc xong tim tôi loạn nhịp
Anh yêu mình mà mình có biết đâu
Tay cầm thư mà đứng lặng rất lâu
Thật ngỡ ngàng, yêu là gì nhỉ?
Ngay năm đó chiến tranh rực lửa
Lúc ra đi, anh không hẹn ngày về
Năm bẩy hai chiến trường khốc liệt
Chẳng từ biệt nhưng không còn gặp nữa
Đến bây giờ tóc xanh thành trắng
Con tin này trĩu nặng nỗi đau
Đất nước thanh bình nhưng mãi xa nhau
Thư tình đầu đã thành thư tình cuối.

TN 1-2013
Ngọc Tình
nguyentinhtn@yahoo.com.vn

*Tên xe đạp Trung Quốc

READ MORE - Ngọc Tình - THƯ TÌNH NĂM 72

Châu Thạch - ĐỌC "BẾN CHIỀU", THƠ NGỌC HÀ


      Chỉ với ba khổ thơ, “Bến Chiều” đã đóng khung hai bức tranh đẹp khác nhau trên một dòng sông và thổ lộ tâm tư biến chuyển qua hai giai đoạn đời người.
      Khổ đầu của bài thơ tác giả tả cảnh dòng sông hiện tại mình đang đi qua:
                 Ngàn dâu xanh hun hút
                 Con sông mờ hơi sương
                 Đìu hiu dòng nước chảy
                 Lau lách cũng rưng buồn
      Phải nói là con sông rất đẹp, mang vẽ buồn nhưng không nặng nề.
      Bốn câu thơ mở đầu vẽ được toàn bộ hình ảnh con sông ở một miền trù phú . “Ngàn dâu xanh hun hút” chỉ có ở những vùng nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa thường là những vùng giàu có ven sông mà phong cảnh hửu tình, con người phong lưu thanh nhã.
      “Con sông mờ hơi sương/ Đìu hiu dòng nước chảy” là một bức tranh nên thơ hiện ra trước mắt làm cho tâm hồn tác giả trở nên ướt át như “lau lách cũng rưng buồn” đứng ở ven sông.
      Bốn câu thơ mở đầu “Bến Chiều” đưa người đọc đứng ngay vào vùng kỷ niệm đẹp nằm trong ký ức đời mình, vì mấy ai không từng đi qua, không từng thấy một bức tranh, không từng nhìn trên phim ảnh một buổi chiều cô liêu như thế, và đánh động cho tâm hồn người đọc một nỗi buồn êm ái nhưng bát ngát bao la. 
      Thế rồi ở vế thứ hai của bài thơ, tác giả quay ngay về thời quá khứ, cái thời còn trẻ trung cùng mẹ qua sông:
                      Thuở qua đò với mẹ
                      Cát bỏng chồn bước chân
                      Nụ cười như gió thoảng
                      Giữa trưa hè lâng lâng
      Bức tranh thứ hai của bài thơ trước hết có một hình ảnh vô cùng sinh động: “Thuở qua đò với mẹ/Cát bỏng chồn bước chân”. Với hai câu thơ nầy tác giả như chiếu lên màn hình cái bóng dáng mẹ nắm tay con vô cùng âu yêm thân thương băng qua bờ cát nóng. Không những thế, ở hai câu thơ kế tiếp “Nụ cười như gió thoảng/Giữa trưa hè lâng lâng” còn diễn tả được tâm hồn vô tư thanh thản của người con ngây thơ thời ấy.
      Bốn câu thơ ở vế hai là bức tranh đối nghịch, tá khách vào bức tranh đầu, làm đối chọi cho nhau hai khung cảnh trên một dòng sông, và chính nhờ đó tác giả mặc nhiên diễn tả một cách độc đáo tâm trạng của mình giữa hai thời kỳ trên một dòng sông, lôi kéo người đọc đồng cảm với mình một cách tự nhiên: Đó chính là nghệ thuật sáng tác cao.
     Qua vế thứ ba của bài thơ, Ngọc Hà với giọng thơ thỏ thẻ bày tỏ suy tư của mình:
                       Nay mình con trở lại
                       Con sông gầy hơn xưa
                       Dòng đời chia mấy ngả
                       Quạnh bóng chiều trong mưa
      “Nay mình con trở lại” đã là một nỗi buồn cô quạnh, “Con sông gầy hơn xưa” lại thêm một nỗi buồn trong mắt nhìn chồng chất lên nỗi buồn cô quạnh. Con sông ngày xưa khi qua đò với mẹ tác giả không cảm nhận nó có linh hồn, nhưng con sông ngày nay khi tác giả dùng từ “gầy hơn xưa” đễ bày tỏ cảm nhận của mình khi nhìn lại dòng sông là đương nhiên chấp nhận nó như có linh hồn, như kẽ thân thương. Như người mà mình âu yếm.
      Và kết lại “Bến Chiều” tác giả buông một tiếng thở dài tội nghiệp:
                         Dòng đời chia mấy ngả
                         Quanh bóng chiều trong mưa

      Nếu ai từng đọc “Tràng Giang” của Huy Cận với hai câu thơ mở đầu “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song” đễ thấy nỗi buồn cao rộng, mênh mang trong bài thơ ấy, thì khi đọc “Bến Chiều” của Ngọc Hà ta cũng có chung cái buồn như thế. Con sông của Huy Cận ngày xưa còn có con thuyền xuôi mái, còn tiếng làng xa vãn chợ chiều, nhưng con sông của Ngọc Hà chỉ toàn ngàn dâu hun hút, lau lách rưng buồn và bóng chiều quạnh trong mưa. Con sông ấy đã nhắc nhớ về tuổi thơ, nhắc nhớ về người mẹ thương yêu, và ngày nay nhìn thấy nó gầy hơn nhưng chưa chắc gầy hơn, mà chỉ vì đôi mắt kia, đôi mắt Ngọc Hà ngày nay đã nhìn rộng vào đời, tâm hồn kia, tâm hồn Ngọc Hà ngày nay chất chứa quá nhiều kỷ niệm yêu thương không bao giờ có lại./.

                                                                      Châu Thạch
ĐT: 0929128967
                           

BẾN CHIỀU
Ngọc Hà
                     
Ngàn dâu xanh hun hút
Con sông mờ hơi sương
Đìu hiu dòng nước chảy
Lau lách cũng rưng buồn

Thuở qua đò với mẹ

Cát bỏng chồn bước chân
Nụ cười như gió thoảng
Giữa trưa hè lâng lâng

Nay mình con trở lại

Con sông gầy hơn xưa
Dòng đời chia mấy ngả
Quạnh bến chiều trong mưa.
NGỌC HÀ
Đà Nẵng
ĐT: 0905 977 591
READ MORE - Châu Thạch - ĐỌC "BẾN CHIỀU", THƠ NGỌC HÀ

THƠ XUÂN MỜI HỌA - Trương Đăng Sử





TẾT QUÊ NHÀ   

Vui xuân ngồi tựa gốc sung già
Ngắm cảnh mai vàng nở rộ hoa
Nhộn nhịp làng trên vang tiếng hát
Tưng bừng xóm dưới tỏa câu ca
Anh em lui tới tình chan chứa
Bè bạn lại qua nghĩa đậm đà
Danh lợi nhục vinh không vướng bận
Mừng xuân vui hưởng tết quê nhà

Cụ Trương Đăng Sữ
Hải Sơn, Hải Lăng, Quảng Trị
ĐT: 01 664 924 831


Họa 1:
Y ĐỀ

Bảy bảy mùa xuân chửa thấy già
Đời trong như ngọc thắm dường hoa
Thi thơ nô nức đêm ngày vịnh
Đàn nhạc tưng bừng sáng tối ca
Sân trước hàng tùng xanh mướt lá
Bên hiên khóm trúc uốn la đà
Trời thương Phật độ thường an lạc
Đón tết khang trang đẹp cảnh nhà

Trần Ngộ
Bảo Lộc,  Lâm Đồng
tranngobl@yahoo.com.vn


Họa 2:
TẾT THA PHƯƠNG

Tha phương đếm tuổi gốc mai già
Mỗi độ xuân về thắm sắc hoa
Ngẫm đến quê hương tràn nỗi nhớ
Đón mừng đất khách rộn lời ca
Cháu con dâu rể thêm thân thiết
Bè bạn anh em chẳng điệu đà
Như thể xa nguồn vui biển cả
Tha phương... đâu cũng nước non nhà

Lê Văn Thanh
Châu Đức - BRVT.   
Đt: 01 696 088 466   
vanthanh44@gmail.com


Họa 3:
XUÂN XA XỨ

Mỗi độ xuân sang- chạnh tuổi già.
Trôi theo vận nước bấy mùa hoa.
Dậy tình quê cũ - thương nguồn cội.
Đón tết tha hương - cảm  giọng ca.
Dòng tộc viếng thăm thành nếp nghĩ.
Bạn bè chúc tụng đã quen đà.
Xuân Đông Nam bộ vàng hanh nắng.
Phúc ấm an khang tỏa mọi nhà.

HỒ TRỌNG TRÍ
Kim Long, Bà Rịa -Vũng tàu
ĐT: 01 667 332 652
trongtri42@gmail.com








READ MORE - THƠ XUÂN MỜI HỌA - Trương Đăng Sử

NHẪN CƯỚI – truyện ngắn Ngô Diệu Hằng


Tác giả NGÔ DIỆU HẰNG


      Chị hoang dã, lạ thường như chính cái tên của chị - Móp. Chẳng hiểu sao bà Thia lại đặt cho chị cái tên đó, dù rằng chị chẳng sứt mẻ chỗ nào. Sinh ra đã không biết mặt cha, chỉ biết mình là con thứ ba của Thia thịt lợn. Hai năm sau đó, mẹ chị lấy dượng sinh thêm cô út. Trong đám chị em gái cũng bán thịt lợn, cái tên của chị là kỳ quặc nhất nhưng chị Móp lại xinh đẹp hơn cả. Da trắng, môi hồng, càng lớn càng đẹp. Thanh niên trong vùng khối kẻ mon men, nhòm ngó.
     Chị chỉ thương anh Phùng, người bạn thời còn mặc quần thủng lỗ, chiều chiều chạy xoắn tít thả diều bên bờ sông. Anh Phùng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở cùng bà ngoại trong một căn nhà lợp ngói cũ kỉ. Khi cha mẹ đã không trở về sau cơn bão năm đó, rồi ngoại cũng vì thế mà lâm bệnh qua đời, anh tự nhủ học hành cũng không cho anh bữa ăn no. Nghỉ học, anh làm thuê kiếm sống, buông xuôi mọi thứ cho số phận. Chị Móp và anh yêu nhau từ bao giờ anh cũng không có cơ hội để ngăn cản trái tim mình. Tất nhiên, gia đình chị cấm. Chị bỏ đi rồi đến căn nhà nhỏ cuối thôn.
     Họ lấy nhau không bạn bè, họ hàng, không sính lễ, nhẫn cưới. Người làng vẫn còn nhớ cái ngày trời nắng chang chang hai người đèo nhau tình tứ bằng xe đạp chạy ngang qua chợ, cả hai không giấu nổi hạnh phúc phá ra cười giòn tan “tụi tui là vợ chồng rồi…” Giấy hôn thú chị bỏ vào một cái túi nilon khít lại cho vào hòm nhôm khóa trái. Cứ như thể chị muốn nói với tất cả rằng họ là của nhau, không cần ai cho phép và sự thật họ đã là của nhau, mãi mãi sẽ như thế.
     Hình như ông trời ban cho chị sứ mệnh của một nữ thánh, đó là yêu chồng và sinh con. Người ta vẫn gọi những đứa con của anh chị là con trời.
     Đứa thứ nhất chị sinh ngay trong bếp khi đang nấu cơm trưa. Sinh được một tháng, chị bồng nó ra sông tắm. Bế đứa con nhỏ xíu trên tay, chị buông mình xuống dòng nước êm ả. Vuốt nước sông lên đầu con, quanh cổ con rồi chị để cho những giọt nước mân mê lấy da thịt thằng bé. Hai mẹ con như thể đôi thiên nga từ trên trời bay xuống, mãi mê tắm gội trong bể nước bụi trần.
     Chị chẳng hề kiêng cự như mọi bà mẹ khác vẫn làm, cứ thế bồng thằng bé dạo chơi khắp hẽm này ngõ khác. Rồi đứa thứ hai cũng vậy, lần này chị sinh nó đúng vào giữa trưa, khi đang ăn cơm. Thấy chị sinh đẻ dễ dàng, bà con ai cũng đến thăm hỏi. Vài người rỉa tai nhau, nhà cô Móp nghèo tả tơi vậy lấy gì cho con ăn mà đẻ lắm thế? Có người lại xuýt xoa thèm thuồng, nhà cô chả liệu gì thế mà hay, cho ra toàn cu là cu thích quá. Chị Móp cười trong veo, em ấy à, chỉ đẻ toàn con trai thôi, không tin các chị chờ xem, em đẻ thêm thằng cu nữa cho xem. Nói mà thật, chưa đầy ba năm sau, cái ngày Trời định, chị bảo anh Phùng đưa đến trạm y tế cho mọi người chứng kiến tiếng khóc oang oang của thằng cu nhà chị, để biết lời chị nói chẳng có sai. “Được rồi, không đẻ nữa”, anh Phùng quát vợ rồi đặt luôn cho thằng út cái tên là Thôi.
     Ba thằng con của anh chị, Nhất – Thế - Thôi, lạ thay, giang nắng giang mưa, tắm sông từ khi mới một tháng tuổi nhưng không đứa nào biết đến ốm đau, sổ mũi hay uống thuốc là gì. Đứa nào đứa nấy chắc nịt, da ngăm ngăm giống cha. Có lẽ tại đều sinh vào ban trưa nên chúng có đôi mắt long lanh, môi dày tím bậm, tóc mây đen nhánh như được dệt bởi những sợi nắng cháy rực.
     Hai cô chị và em gái đều sinh con gái, gia cảnh lại khá nên bà ngoại thằng Thôi cũng mủi lòng thương các cháu. Dăm ba bữa bà ngoại kêu cho thịt. Hôm khác, dì cả, dì hai nhắn cho tiền đóng học, dì út cho quần áo mới. Được thể, chị Móp kê ngay một cái bàn phía cuối dãy hàng thịt. Hàng của mẹ, hai chị và em gái ở quanh đó. Sáng đến chợ, chị khoan dọn bàn mà đến giúp mẹ cạo cái chân giò. Xong việc đưa tay bợ cục thịt to về bán. Lần khác lại qua hàng cô út, giúp em cạo tai heo, đuôi heo… Khách đông thì phụ chị cắt thịt. Rồi tự trả công bằng một phần mà chị nghĩ chẳng thấm tháp với các cô chị giàu có là mấy. Nhiều thì bán, phần nào ngon thì mang về. Thế là ngày nào nhà chị cũng có thịt ăn.
     Từ khi có cái nghề thịt lợn, cái nghề mà vốn dĩ là số phận của chị, cuộc sống khá hơn. Ra ngoài, chẳng ai nghĩ chị thuộc vào diện cần xóa đói giảm nghèo. Chị em trong làng vẫn kháo nhau, không ai theo kịp “mốt” chị Móp. Tóc bối cao, tóc duỗi thả, xoăn lọn, nâu vàng, hạt dẻ đủ cả, hôm nay kiểu này mai kiểu khác, trang sức cũng thay theo mùa. Quần áo, váy đầm thì đã có của mấy cô chị và cô em. Cái tật tự nhiên đến tự tiện của chị đã có bẩm sinh nên cứ đến lễ tiệc là sang nhà chị, nhà em gái mượn về mặc. Nhiều khi lấy luôn đồ mới toanh làm mấy bà tức tưởi. Thế là chị em to tiếng bốp chát nhau ngay giữa chợ. Ba bữa nửa tháng lại đứa xô, người cười, chị chị em em, rồi lại cho thịt, lại mượn váy, lại rầy la.
     Anh Phùng ngày càng đâm ra biếng nhác, ngày nào có người kêu thì anh đi làm, ngày nào không ai kiếm thì lại nằm ì ra, hết ăn rồi ngủ, chẳng chịu đi tìm việc. Thằng Nhất học xong lớp tám thì nghỉ học đi phụ hồ, anh cũng mặc kệ. Anh Hoàng, bạn bè thân thiết của anh lúc bé có một cơ sở kha khá, thấy bạn khó khăn nên muốn giúp. Hoàng gợi ý cho anh đi học lái xe rồi về lái giúp anh ấy nhưng anh không chịu. Anh vẫn quen cái kiểu đi làm công cho người ta, nắng làm mưa ở nhà ngủ, tiền công nhận theo ngày như thế.
     Thấy vợ chồng anh sống khá nhàn nhã, nhiều người vẫn hay ghen ghét, hoài nghi.
     Ở chợ có bà hàng buôn mất cắp. Bà ta nói gần nói xa như đâm như thọc vào họng chị Móp. Vốn dĩ ít quan tâm lời khen chê nhưng đã đụng tới chị là chị chớ có tha. Chém phặp cái dao xuống bàn, chị ré lên như tát nước vào mặt bà thím môi mỏng kia. Biết là không có bằng chứng nên bà ta xuống giọng. Nhưng trước đó vẫn rướn cổ, uốn thêm vài lần môi:
     -  Sức dài vai rộng, khỏe như trâu, đẻ như lợn, trang sức đeo đầy người, suốt ngày đợi trợ cấp hộ nghèo, hết tiền thì…
     -  Thì gì? Thì gì? Nói xem nào mụ kia. Cái tiếng hộ nghèo ấy chẳng qua tui muốn con tui được hỗ trợ đi học. Rứa là sai hở? Còn con cái là của Trời cho, khối người muốn chẳng đẻ được kia kìa… - Chị chống nạnh, hách cằm, bà thím môi mỏng im bặt, cúi xuống xếp hàng, cặp môi cong lớn vẫn giật giật trông bề còn ức lắm.
     Lần khác, hai cha con nhà nọ đến bắt đền chị con gà, bảo rằng có người nhìn thấy chị đâm phải gà ông ta rồi xách cổ mang về. Chị không truy xét, chỉ dứt khoát một câu “tui không làm cái việc xấu hổ đó, có lấy thì tui lấy của mẹ, của chị em tui, không bao giờ lấy của thiên hạ…” Hai người kia vẫn khăng khăng đổ oan cho chị. Phẫn quá, hai tay túm lấy áo, chị kéo cha con nhà kia tống xuống ruộng. Cái sự khỏe của chị Móp và ba thằng quý tử nhà chị thì khỏi phải bàn. Lớp một, thằng Thôi đã đánh bại một anh lớp năm. Lần đó, chị phạt nó đứng nhón một chân cả buổi tối. Chị nói với thằng Thế, thằng Thôi:
     - Anh Nhất vì hoàn cảnh mà nghỉ học, anh đi làm rồi dần dần học cái nghề. Hai đứa mày lo học hành cho mẹ.
     - Nhưng lũ đó toàn nói nhà mình nghèo và … - Thằng Thế chen vào.
     - Nghèo thì xấu à? Nghèo thì càng phải học để sau này thoát nghèo, đừng để người ta khinh mình nữa.
     - Dạ, sau này con sẽ làm kỹ sư nuôi lợn cho mẹ bán. Thằng Thế reo lên.
     - …Còn con, con sẽ là bác sĩ chữa bệnh cho lợn mẹ nhỉ?
     Chị cười, lũ trẻ cũng cười. Tiếng cười giòn tan vỡ ra như ngàn mảnh pha lê đẹp óng ánh chấp chới trong ánh mắt đen láy, trong trẻo của lũ trẻ.
     Mọi người vẫn nghĩ chị Móp là người vô tư lự, hời hợt nhất. Nhưng lâu dần người ta cũng nhìn chị với ánh mắt khác. Nhiều lần đi chợ, đi công chuyện vội vã, nhưng hễ thấy có người xin đi nhờ xe, người gặp khó khăn trên đường chị đều quay lại giúp. Thấy ai gây gỗ, bắt nạt người hiền lành chị chạy đến bênh vực ngay. Dạo đó, chị chở một thùng thịt to, kẹp thêm thằng Thôi, thằng Nhất, đang phóng xe ò ò trên đường. Đi được một đoạn chị nhìn thấy có hai người bị tai nạn đang lồm cồm bò dậy, chân tay xây xát đầy máu. Đám đông ùn ùn tới, chị cũng dừng xe. Khi người ta đang mải đứng chỉ trỏ băn khoăn hai người này ở đâu, làm gì đi qua đây…, chị vụt ngay tới hét to “đỡ họ đến đây tui chở đi bệnh viện nhanh nhanh”. Chị đến tháo thùng thịt xuống dọn chỗ cho hai người bị thương lên xe. Xe nổ chị còn kịp ngoái đầu lại dặn “dẫn hai đứa nhỏ tới trường dùm tui nghe…”
     Cái thú ăn diện, thích ca hát của chị thành ra nghiện. Nhưng chị Móp được tiếng xinh đẹp, khỏe mạnh, lại nhiệt tình. Chiếc xe máy chị lấy của mẹ dùng, vẫn thường để chở hàng ra chợ bán, cũng là chiếc xe cứu giúp không biết bao nhiêu người. Đến mùa gặt lúa, chị đi gặt cho nhà này nhà kia. Ban đầu chị chỉ tính gặt giúp, nhưng xong mùa người ta mang thóc đến cho chị. Thế là cũng có gạo ăn vài tháng. Cứ mỗi lần chị em phụ nữ trong làng đi gặt chung, giờ nghỉ, tiếng hát chị Móp lại vang vang trên cánh đồng. Bà con vỗ tay theo, thế là thành hội.
     Có lẽ Trời cho chị nhiều cũng phải lấy đi của chị cái gì đó.
     Lần này chị quyết ra tay cải tạo lại mảnh vườn để hoang lâu nay. Đang hăm hở bổ từng nhát cuốc sâu xuống đất thì bỗng nhiên “BÙM…!!!” một cái, người chị văng ra, tĩnh dậy đã thấy mình đang nằm trong phòng cấp cứu. Sau lần đó chị mất hai ngón tay trái. Mỗi lúc nhìn xuống hai ngón tay bị cụt chị lại nhớ đến cái mặt méo xệch, khắc khổ của anh Phùng khi chị vừa mở mắt. Cái mặt đó đã từng trắng bệch ra run rẩy khi mất đi người thân yêu. Giờ nó lại bị biến dạng đi rồi sau đó làm anh choàng tĩnh.
     Cả hai ngón tay và cái nhẫn cũng bay luôn cùng mảnh bom nổ. Thằng Nhất nói để con đi tìm, chị bảo thôi. Chị nói:
     - Trời muốn lấy lại hai ngón tay thì trả lại Trời. Còn cái nhẫn là đồ giả chả phải tiếc. Cả cái dây vàng này và đôi tằm này đều là trang sức giả hết. Nói rồi chị mân mê cái dây chuyền trong cổ mắt lúng liếng cười.
     Mấy ngày sau đó anh Phùng tìm đến nhà Hoàng. Hai ba hôm liền đều không gặp. Hôm khác anh lại đến, xin Hoàng nhắc lại cái đề nghị năm trước. Hoàng biết gia cảnh của bạn, gật đầu vỗ vai, hứa sẽ giúp đỡ tận lực. Thế là anh Phùng vừa đi học lái xe vừa làm thêm công việc anh vẫn thường làm.
     Một chiều thứ bảy đầy nắng, anh trở về nhà với tâm trạng hớn hở, tay xách một túi thức ăn to.
     - Hôm nay anh không phải làm hở?
     - Em không nhớ hôm nay là ngày gì à?
     Chị Móp nghĩ ngợi một lúc rồi mặt chị bừng lên, nhớ ra cái ngày hai người đèo nhau từ ủy ban xã về, chị gói tờ giấy hôn thú trong cái túi nilon cất vào hòm nhôm.
     Chưa kịp khoe thì anh Phùng đã ngồi xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay chỉ còn ba ngón của chị. Anh áp nó vào má mình. Cánh tay chị ngượng nghịu, người chị đơ cứng. Anh rút từ trong túi quần một cái gói, tay kia vẫn giữ bàn tay vợ. Anh từ từ mở ra, một chiếc nhẫn vàng. Không như thường ngày, chị vẫn ngồi im, e ngại. Anh Phùng chậm rãi nói:
     - Xin lỗi em. Từ ngày em về làm vợ, anh chưa sắm cho em được thứ gì, tiệc cưới không, mà nhẫn cưới cũng chẳng có. Vậy mà em vẫn một lòng một dạ theo anh, phải đeo những thứ hàng giả rẻ tiền để rồi người ta đặt điều nói xóc xỉa. Chiếc nhẫn này anh đã đặt từ lâu nhưng vì chưa có đủ tiền, trên đó có khắc tên chúng ta.
     - Anh, em... – Chị bối rối.
     - Bây giờ ngón tay đeo nhẫn cũng không còn. Thôi để anh đeo nó vào tay kia cho em nhé!
     Chị Móp chìa tay ra, ánh mắt chị ngập tràn hạnh phúc. Anh Phùng đeo chiếc nhẫn cưới vào tay vợ, sau mười bốn năm.

NGÔ DIỆU HẰNG
Giáo viên THCS môn Tiếng Anh, 
thị trấn Bến Quan, Vĩnh Linh, Quảng Trị
dieuhang.ngo@gmail.com
                                                          


READ MORE - NHẪN CƯỚI – truyện ngắn Ngô Diệu Hằng