Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phạm Cảnh Thượng. Show all posts
Showing posts with label Phạm Cảnh Thượng. Show all posts

Saturday, December 27, 2025

PHÂN TÍCH BÀI THƠ “NGÀY TRỞ VỀ” CỦA KHÊ GIANG - Phạm Cảnh Thượng

  

Nhà thơ Khê Giang

Phân tích bài thơ

“NGÀY TRỞ VỀ” của KHÊ GIANG

Phạm Cảnh Thượng

 

Khi xem thơ đọc thơ, thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp những bài thơ không chỉ hay mà còn có độ khái quát rất cao về một vấn đề, một đề tài nào đấy. Mình thường gọi đó là những bài thơ vừa đẹp vừa tròn. Ví dụ để diễn tả, diễn đạt tình yêu tha thiết, nỗi nhớ dạt dào của một người con xa xứ đối với quê hương, thì bài thơ “Ngày trở về” của nhà thơ Khê Giang là một ví dụ tiêu biểu về điều vừa nói.

Có lẽ rất nhiều người nghĩ rằng thơ lục bát là thể thơ “dễ làm” nhất. Chắc là đúng. Nhưng để một bài lục bát đạt tầm cao, xứng đáng để gọi là “thơ” đúng nghĩa, thì là chuyện hoàn toàn khác. Nghĩa là thơ lục bát dễ làm thật. Nhưng để hay thì rất khó.

Có những câu lục bát, bài lục bát kiểu bình dân. Trong khi lại có những áng thơ lưu danh sử thi muôn đời, ví dụ Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, cũng là dưới dạng thể thơ lục bát.

Còn bây giờ, mời bạn đọc thưởng thức và thử nhận xét, phân tích bài lục bát của Khê Giang xem sao nhé :

“Tôi về thăm lại bến xưa.

Lặng nghe ký ức lụt bờ tháng năm.

Sông quê vẫn tắm nắng vàng.

Con đò vẫn chở ngày sang phía … chờ”

Chỉ sau vỏn vẹn một câu vào đề thôi, rất rõ ràng và tự nhiên. Tự nhiên và dung dị như một lời kể. Có lẽ cốt yếu kể cho chính mình nghe nhiều hơn là kể với mọi người: “Tôi về thăm lại bến xưa”, qua câu thứ 2 trở đi là đã bộc lộ một loạt rất nhiều cái hay của nghệ thuật thơ. Có lẽ bạn đọc nào cũng phải trầm trồ thích thú với 4 chữ “lụt bờ tháng năm”.

Xem thời gian là một dòng chảy, như dòng sông thì chắc không còn cách nào hay và chính xác hơn được nữa. Dòng sông thì phải có bờ, bờ sông thì bình thường nhưng “bờ tháng năm” thì độc đáo quá. Đúng không nào ?

Ngay hình ảnh “bến xưa” trong câu đầu tiên thôi cũng đã rất gợi cảm và gợi mở nhiều điều. Đó có thể là nghĩa đen bến sông xưa, cũng có thể nghĩa bóng là bến bờ của ký ức, của kỷ niệm. 3 câu tiếp sau là một loạt hình ảnh mang tính đặc tả và biểu tượng rất tiêu biểu : bến xưa - sông quê - nắng vàng - con đò. Được liên kết bằng 3 từ : lụt - tắm - chở.

Chính 3 từ rất đắt này là hồn cốt nghệ thuật. Đồng thời tạo nên sự gắn kết logic, rất chặt và dính cho khổ thơ đầu tiên. Cộng thêm 2 chữ “phía … chờ” khá lạ tai, gợi ra một “lối mở”, một cánh cổng mở không thể đẹp hơn, mời gọi hơn, để dẫn dắt người đọc tiếp tục đi vào bài thơ :

“Tôi gặp tôi của ngày xưa.

Con mương lem lấm vẫn lờ lững trôi.

Ấm mùa gặt tiếng cà lơi.

Náng chân trâu chú nhái ngồi gọi đêm.

Bước lần qua những rỉ hoen.

Xác mùa chinh chiến vẫn nghèn nghẹn đau.

Giàn tre xót lũ ong bầu.

Khoét vào lòng những hư hao tháng ngày”

Từ “bến xưa” của câu mở đầu nói trên, tác giả đứng đó để hồi tưởng, để ôn lại, để thổn thức với những ngày tháng cũ. “Tôi gặp tôi” - câu thơ chùng hẳn xuống như vào lời tâm sự. Như kiểu “cho tôi một vé về tuổi thơ”, tác giả giúp bạn đọc và nói đúng hơn là đồng hành cùng bạn đọc trở về lục tìm tuổi thơ trong ký ức sau bao năm dài bôn ba vì cuộc sống.

Tôi của ngày xưa ơi, chỉ cần thoáng nghĩ thôi là đã nghe lòng rưng rưng thương nhớ. Chỉ một đoạn thơ mà gợi lại quá nhiều kỷ niệm: con mương, mùa gặt, tiếng chim cà lơi (chiền chiện, sơn ca), náng chân trâu, chú nhái, giàn tre, lũ ong bầu, v.v … tính sơ sơ có đến 7 - 8 chi tiết hình ảnh trong một đoạn thơ ngắn. Điều đáng nói là nhiều chi tiết nhưng không lan man, dàn trải. Chỉ cảm thấy rất gần gũi và quen thuộc. Gần gũi đến độ thân thương, quen thuộc mà lại đến mức ngỡ ngàng.

Cái hay của đoạn thơ không chỉ đến từ những hình ảnh gợi cảm ấy, mà còn đến từ hồi ức khắc khoải của một thời chiến tranh, đã từng khắc ghi vào tuổi thơ tác giả: “Xác mùa chinh chiến vẫn nghèn nghẹn đau” và “Khoét vào lòng những hư hao tháng ngày”. Để diễn tả nỗi buồn đau chiến tranh trên cố hương ngày ấy mà dùng 2 từ “nghèn nghẹn” và “hư hao” thì có lẽ không còn từ nào hay hơn, xác đáng hơn.

Chỉ với đoạn đầu của “Ngày trở về”, tin rằng bất cứ ai lứa tuổi cùng tác giả cũng có thể bắt gặp bóng dáng mình trong đó. Người đọc dễ dàng đồng cảm bởi như tác giả đã nói hộ thay mình.

Thiết nghĩ cần dành đôi dòng để nói sơ qua về tác giả. Với anh em và bạn đọc không ai xa lạ Khê Giang là bút danh của bác sĩ Lê Văn Huấn. Quê anh làng Trường Sanh - xã Hải Trường cũ. Xong cấp 2 anh theo gia đình vào nam 45 năm nay, định cư tại Thị trấn Ngãi Giao - BRVT cũ.

Mặc dù công tác trong ngành Y tế, là bác sĩ, nhưng anh có năng khiếu và trình độ văn chương, làm thơ và viết văn đều hay. Là hội viên Hội văn học nghệ thuật BRVT.

Không những thế anh còn sáng tác nhạc. Những ca khúc của anh phần lớn cũng viết về đề tài quê hương và cũng đều hay, đều mượt mà và được thính giả mến mộ. Ví dụ các ca khúc: Trầm khúc sông, Khúc hát mùa đông, Quảng Trị tôi, Quảng Trị mình ơi, Dòng sông tuổi thơ, v.v …

Bên cạnh còn nhiều bản nhạc khác là thơ anh, được các nhạc sĩ khác phổ nhạc. Ví dụ các bài thơ: Sông khát, Niệm khúc một chiều thu, Miền ký ức, … được nhạc sĩ đồng hương Nguyễn Xuân Trường phổ nhạc, hoặc bài thơ Dòng sông mơ ước được nhạc sĩ Đỗ Thanh Khang phổ nhạc, v.v …

Điểm qua như thế để thấy anh là một người đa tài. Mình và nhà thơ Khê Giang ở quê là đồng hương Hải Lăng. Xã Hải Trường và Hải Hoà cũ cách nhau chừng 10 cây. Còn hiện ở BRVT, Ngãi Giao và Kim Long cũng chỉ cách nhau 5 - 7 cây. Vừa là bạn đồng nghiệp bác sĩ, vừa tri âm với sở thích văn chương và âm nhạc. Anh em tôn trọng nhau, quí mến nhau.

Trở lại bài thơ để tiếp tục lắng nghe những miên man nỗi niềm của Khê Giang “Ngày trở về”. Anh trải lòng :

“Tôi về bên ngọn khói cay.

Nắng xiên qua chái chiều lay lắt vàng.

Thời gian rớt xuống sẩy sàng.

Hạt loay hoay nhớ hạt chàng ràng quên.

Tôi về nghe tiếng đòn triêng.

Nghiến vào kẽo kẹt lên triền vai xưa.

Oằn lưng qua mỗi bến bờ.

Buồn đong bao gánh cho vừa phận chiêu”

Có cảm giác mấy chục năm xa quê, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi kỷ niệm không hề phôi phai chút nào trong tâm thức tác giả. Bởi mọi thứ đều đã khắc sâu, in đậm. Tất cả đều rõ mồn một như vừa mới ngày hôm qua, hôm kia đây thôi. Cũng như đoạn thơ trên, tôi thật sự tâm đắc với lối diễn đạt rất nghệ thuật ở đoạn thơ này. Những sự đặc tả rất đặc sắc, vừa hiện thực vừa trừu tượng : ngọn khói chiều xiên qua chái bếp là một hình ảnh không lạ, nhưng được đi kèm bằng 3 thành tố nghệ thuật một lúc, làm nó trở nên không còn bình thường nữa, đó là: “ngọn khói cay”, “chiều lay lắt vàng”, “thời gian rớt xuống”, kèm thêm một tính từ tôi cho rằng rất đắt, đó là từ “sẩy sàng”, đã tôn đoạn thơ đặc sắc hẳn lên.

Một điểm đặc sắc khác là nhìn nắng chiều chiếu xiên qua chái bếp, làm tác giả liên tưởng như một chiếc sàng. Từng tia nắng là những hạt gạo lọt qua chiếc sàng chính là chiếc chái bếp và “mái tranh xiêu” (đoạn thơ dưới) để rồi hình tượng hoá, nâng lên một bậc khái quát trừu tượng, đó là thời gian. Xem thời gian là hạt đã là hay, nhưng “Thời gian rớt xuống sẩy sàng” thì quả là độc đáo hơn nhiều. Câu “Hạt loay hoay nhớ hạt chàng ràng quên” cũng rất hay và ý nhị, với từ “chàng ràng” rất lạ tai.

Cái “cay” của khứu giác, cái “kẽo kẹt” của thính giác, cái “nắng xiên qua chái”, “oằn lưng” của thị giác, và cả cái “lay lắt”, “buồn đong bao gánh” của cảm giác … mọi thứ trộn lẫn như thực như mộng. Tia nắng, hạt thời gian, hay hạt gạo rớt xiên qua sàng ? Có lẽ là tất cả!

Kế đó là chiếc “đòn triêng” (đòn gánh), một kỷ vật quê hương tiêu biểu không thể không nhắc tới. Là biểu trưng cho đức tính chịu thương chịu khó, một nắng hai sương của những người chân quê. Là chiếc đòn triêng oằn vai mẹ với gánh những thúng rau cải, hàng tạp hoá mỗi sớm mỗi chiều. Hay chiếc đòn triêng kĩu kịt của chị em gánh lúa về mùa gặt.

Cái hay ở chỗ tác giả như nghe được, cảm được cả tiếng chiếc đòn triêng nghiến vào vai, như nghiến vào mỗi phận đời lam lũ, cơ cực. Mỗi câu thơ vì thế mà như miên man, khắc khoải hơn rất nhiều :

“Tôi về dưới mái tranh xiêu.

Còn ai chằm lợp lòng chiều xác xơ.

Nhện giăng bồ hóng đợi chờ.

Kèo tre tiếng mọt nghiến phờ phạc đêm.

Có gì trong hạt nắng nghiêng.

Khi đàn chim mải miết tìm lối bay.

Có gì trong cọng heo may.

Nỗi se sắt nhớ những ngày xa xôi”

Càng về cuối, bài thơ càng se sắt, khắc khoải. Người đọc cảm nhận rất rõ cái miên man, đắm chìm trong suy tư, suy tưởng của tác giả. Càng đọc càng thương, càng xúc động. Thương quê hương, thương bà con và thương mình, thương tuổi thơ nghèo khó, túng thiếu mà chẳng thể nào quên.

Tôi rất ngạc nhiên bởi sự đủ đầy trong ký ức tác giả. Nhiều thứ nhưng không hề lan man. Trái lại đó là một xúc cảm liền mạch. Khi viết bài thơ “Ngày trở về” hẳn rằng tác giả không hề muốn giới hạn, gò bó số câu chữ, mà để mặc dòng suy tư trôi chảy.  Đúng thôi, ký ức và kỷ niệm, tuổi thơ và dĩ vãng thì biết mấy cho vừa !

Dù không muốn lan man nhưng miên man thì bắt buộc phải có. Cố hương “Ngày trở về” mà. Vì vậy đoạn thơ tiếp theo này không hề gây cảm giác “dài” cho người đọc, mà chỉ thêm bồi hồi rất lắng. “Mái tranh xiêu”, “nhện giăng bồ hóng”, “tiếng Mọt nghiến”, “hạt nắng nghiêng”, “cọng heo may”, v.v … có thể là nhiều nhưng đều rất chọn lọc. Kèm với đó là một loạt bút pháp nghệ thuật: “bồ hóng đợi chờ”, “mọt nghiến phờ phạc đêm”. Tôi đặc biệt thích thú và đánh giá cao câu: “Còn ai chằm lợp lòng chiều xác xơ”. Nó thoát khỏi cảnh diễn tả chị em ngồi chằm nón, mà còn là những gì sâu xa hơn, xót xa và mến thương hơn thế.

Nói cách khác, xen giữa các hình ảnh kỷ niệm theo nghĩa đen thực tế, là các ẩn dụ biểu trưng nâng cao, được tác giả lồng ghép rất khéo và dụng ý, tôn lên, làm trọng lượng hơn ý nghĩa khái quát của bài thơ. Qua đó khắc hoạ đậm nét hơn mọi thứ vào lòng người đọc. Đọc bài thơ có cảm giác “không thiếu thứ gì”, dồn dập, ngồn ngộn nhưng lại lắng sâu nhiều kỷ niệm.

Tôi đọc lại một lượt nữa từ đầu đến cuối bài thơ “Ngày trở về” và nhẩm thấy có hơn 20 hình ảnh kỷ niệm. Chính điều này làm bài thơ dài hơi và trọng lượng. Thường một bài thơ nói chung và một bài lục bát nói riêng, có khoảng 4 - 5 hoặc 6 khổ, tức khoảng từ 16 đến 24 câu. Bài “Ngày trở về” khá dài gồm 7 khổ = 28 câu. Cộng với 2 câu kết cuối bài là tròn 30 câu.

Dẫu biết rằng 30 câu thơ chưa thể nói hết được những gì 45 năm xa quê, nhưng với sự thể hiện qua bài thơ, người đọc cảm nhận được rất rõ tình cảm sâu sắc, tấm lòng và tài năng của tác giả, dành tặng cho quê hương Trường Sanh - Hải Trường yêu dấu.

“Có gì trong tiếng à ơi.

Mỗi khi lòng vịn tao nôi trở về”

Chân thành cảm ơn Khê Giang đã nói hộ một cách đầy xúc động. Tôi nghĩ thật khó có câu kết nào hay và trọn vẹn hơn câu kết này. Sau hơn 20 hình ảnh rất gợi cảm, gợi tình, gợi thương và gợi nhớ của bài thơ, để cuối cùng khép lại bằng chiếc tao nôi ngày thơ ấu - thấm đẫm cả tình cha nghĩa mẹ, tình chị ơi hời ru em ... Nơi từ đó ai trong mỗi chúng ta ra đi và đều luôn đau đáu, mong muốn được trở về …

(Kim Long,  BRVT - TP.HCM  6 -8 -2025)

Phạm Cảnh Thượng

READ MORE - PHÂN TÍCH BÀI THƠ “NGÀY TRỞ VỀ” CỦA KHÊ GIANG - Phạm Cảnh Thượng

Saturday, October 18, 2025

SƠN NỮ CA : “Thời gian lôi cuốn bao lần …” - Phạm Cảnh Thượng

 


SƠN  NỮ  CA :

“Thời gian lôi cuốn bao lần …”

Phạm Cảnh Thượng


Bữa nay 17-10 (1965-2025) sinh nhật 60 tròn vòng giáp.Với lại quan niệm sinh nhật chủ yếu là dịp để nhớ về công ơn các bậc sinh thành, đã cho mỗi chúng ta đến góp mặt với cuộc đời này.

Chỉ thế thôi, và nhân ngày này muốn viết một cái gì đó để chơi và truyền chút cảm hứng. Hôm nay chọn nghe bản “Sơn nữ ca” của nhạc sĩ Trần Hoàn, kèm vài điều nhận xét. Chúc anh chị em và bạn bè một ngày mới thứ sáu khoẻ, an vui và nhiều năng lượng!


“Sơn nữ ơi, hoàng hôn xuống dần đợi chờ ai đây ?” là câu cuối của bản nhạc. Nhưng thực ra nguyên bản ban đầu không phải vậy, mà bằng một câu nghe “lạnh người” và hơi … ớn. Vì thế mỗi lần nghe bản nhạc dễ thương này là tôi thường vẩn vơ tự hỏi :

Nếu hồi đó nhạc sĩ Trần Hoàn không vì ngại sự kiểm duyệt của chính quyền thời Pháp, mà đổi một vài câu từ, thì liệu bản nhạc có còn âm vang trên bầu trời Tân nhạc Việt Nam, và đọng lại trong lòng các thế hệ yêu nhạc sau ngót 77 năm ?

Các chi tiết đổi lại đó là :

 - “Có anh du kích nhìn trời xa xa” (2 lần)

 - “Ngắm anh du kích rồi lòng bâng khuâng”

 - “Sơn nữ ơi, thời cơ đến rồi đợi ngày ra tay”

3 câu có chữ “du kích” ấy đều được thay bằng “lữ khách”. Còn câu cuối cùng “thời cơ đến rồi đợi ngày ra tay” được thay bằng “hoàng hôn xuống dần đợi chờ ai đây”

Tôi nghĩ đó chính là sự may mắn. May ở chỗ nhạc sĩ biết ngại, sợ kiểm duyệt mà đổi - dù chỉ mấy chữ đó thôi - nhưng đã làm thay đổi hẳn số phận bản nhạc.



Ra đời 1948 lúc nhạc sĩ Trần Hoàn tròn 20 tuổi. Giai điệu hay, bắt tai và trữ tình nên dĩ nhiên ca khúc được yêu thích. 3 năm sau (1951) được nhà xuất bản Tinh Hoa - Huế phát hành rộng khắp cả nước. Để lọt qua được kiểm duyệt, nhạc sĩ đã sửa lại những chỗ như vừa nói trên.

Nhìn tổng thể, trước hết thấy “Sơn nữ ca” là một bản Ballad khá điển hình diễn tả tâm trạng. Là chất trữ tình nhẹ nhàng, những rung động đầu đời mãnh liệt nhưng thường thoáng qua ở những chàng trai mới lớn như Trần Hoàn thuở ấy.

Bản nhạc cung trưởng, nhịp 4/4 và thường chơi theo điệu Tango. Tiết tấu khá nhanh với nhiều chỗ melisma tạo một melody mượt và uyển chuyển, là điểm cộng hấp dẫn của bản nhạc. Hát “Sơn nữ ca” nói chung cần giọng cao chút xíu mới hay. Trường giọng phải vững để giữ nhịp.

Đó là về nhạc lý. Còn về lời cũng có nhiều chỗ khá đặc biệt :

Điểm thứ nhất, thấy 4 câu giống nhau nằm vị trí đầu trong 4 phân đoạn phần đầu :

“Một đêm trong rừng vắng” - mở ra một không gian quá thơ mộng và phù hợp cho bản nhạc. Để qua đó nhạc sĩ mặc sức trải lòng diễn đạt. 4 câu giống nhau, chỉ khác 1 chữ cuối “vắng” và “núi”. Trong đêm vắng giữa rừng, những cung bậc tâm tư và giai điệu dường như được đẩy lên tối đa - âm vang và thanh thoát hơn, dễ chạm lòng người hơn.

Điểm thứ 2 là danh từ “Sơn nữ” được nhạc sĩ dùng đến … 11 lần. Thêm cái đầu đề nữa là 12. Đành rằng “Sơn nữ ca”, chủ thể là “Sơn nữ” thì việc dùng nhiều lần là đúng. Nhưng nhiều đến 12 lần thì quả là lạ và khó tưởng tượng. Cũng hiếm thấy trong một bản Tân nhạc.

Điểm thứ 3 cũng rất đáng chú ý, là câu gọi cảm thán “Sơn nữ ơi” được dùng đến 6 lần ở đầu các phân đoạn sau của bản nhạc. Tạo sự thống thiết, thiết tha - dù giai điệu của “Sơn nữ ca” không buồn. Có phần nhẹ nhàng trong sáng nữa là khác.

6 câu gọi cảm thán chính là tiếng lòng của tác giả. Có một chút gì day dứt và tiếc nuối ở trong đó. Thích thì thích đấy, yêu thì yêu đấy - mà con đường người lính phía trước hãy còn xa quá. Mịt mùng, lắm bất trắc và đâu nói trước được điều gì.

Nếu xét ý tưởng nội dung lời của “Sơn nữ ca”, rõ ràng thấy không nhiều ý, không rộng. Nhưng có lẽ chính cái “không nhiều, không rộng” ấy làm nên nét tập trung, cô đọng, đậm đặc cho bản nhạc.

Còn chuyện nhiều điệp từ, điệp ngữ mà lại không cảm giác trùng lặp, thì đó chính là điều trước giờ tôi thường thắc mắc, suy ngẫm mà thực tình chưa giải đáp được, khi mỗi lần có dịp nghe Sơn nữ ca. Tôi tiếc mình không được học sâu về nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật ca từ âm nhạc để có thể hiểu thấu đáo vấn đề hơn, ví dụ như vừa nói. Chỉ biết rằng dụng từ trong âm nhạc hẳn có những điểm đặc trưng, khác biệt với cách dụng từ trong văn chương ?!

Điểm thứ 4 cũng là điểm cuối cùng đáng lưu ý, đó là đọc hết một lượt lời bản nhạc, dễ thấy có 4 chủ thể chính tạo thành một trục : Cô sơn nữ + anh lữ khách + rừng thu + ánh trăng chênh chếch (thêm gió cuốn, lá thu rời cành, …)

Những chủ thể này được đan xen, lẫn lộn nhưng lại rõ ràng và rất lớp lang. Quyện vào nhau, bổ sung và làm nền cho nhau. Chúng ta thường nói đến “tứ thơ” trong thơ thì ắt cũng phải có “tứ nhạc” trong nhạc. Tôi cho rằng cái trục “bộ tứ” ấy chính là “tứ nhạc” của bản “Sơn nữ ca” vậy.

Bài viết chỉ nêu những cảm nhận ca khúc. Bạn đọc có thể đọc báo hoặc tư liệu để biết về nhạc sĩ Trần Hoàn. Ở đây chỉ tóm lược sơ qua để tránh bài viết khỏi dài :

Ông tên Nguyễn Tăng Hích, sinh 1928 mất 2003 thọ 75 tuổi. Quê làng Câu Nhi xã Hải Tân cũ giờ là xã Nam Hải Lăng - Quảng Trị.

Thuở nhỏ ông học trường Quốc học Huế. Đến 17 tuổi tham gia Đoàn văn hoá nghệ thuật kháng chiến vùng rừng núi Quảng Bình.

Cuộc đời nhạc sĩ Trần Hoàn (bút danh khác là Hồ Thuận An khi hoạt động vùng Trị Thiên) gắn liền kháng chiến và làm cán bộ : Giám đốc các Sở văn hoá thông tin thành phố Hải Phòng, tỉnh Bình Trị Thiên, Phó bí thư thành ủy Hà Nội, Bộ trưởng văn hoá thông tin, Chủ tịch liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam.

Bởi vậy nhạc ông đa số “nhạc đỏ”, nhạc phong trào như : Bài ca Bạch Long Vĩ, Tiếng hát trên Gio Cam giải phóng, Lời ru trên nương, Một mùa xuân nho nhỏ, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh, Thăm bến Nhà Rồng, v.v …

Nói cho ngay, công chúng nhớ và yêu Trần Hoàn hẳn không vì những ca khúc như vừa nói, mà bởi “Sơn nữ ca” (1948 lúc 20 tuổi) và “Lời người ra đi” (1950 lúc 22 tuổi). Trớ trêu là 2 bản nhạc này đều bị cấm lưu hành tại vùng cách mạng, vì bị cho là “lãng mạn tiểu tư sản”.

Bẩm sinh ông có năng khiếu âm nhạc, biết chơi đàn mandolin, guitar, Hawaiene từ nhỏ, được học nhạc, tham gia dàn nhạc trường học.

Nghĩa là ông có đủ tố chất và các điều kiện phát triển âm nhạc. Và thực tế ông sáng tác từ rất sớm năm 17 tuổi với ca khúc “Học sinh vui tươi” được giải thưởng. 18 tuổi có tác phẩm “Hồn nước”.

“Sơn nữ ca” là kết quả cảm hứng từ các nữ sinh trường Phan Bội Châu - Huế cũng theo kháng chiến như ông. Chứ không phải là nàng Sơn nữ thực sự nào của miền sơn cước nơi ông công tác.

Bản nhạc nói về rung động đầu đời nhưng cũng là sự khước từ, chạy trốn tình cảm ấy khi ông viết : “Sơn nữ ơi, đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian …” hay “Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương, rồi nhớ” …

Không phải “chảnh” đâu. Tuổi 20 nồng nhiệt làm sao có thể thờ ơ được. Viết thế nhưng hẳn ông rất buồn và day dứt. Là sự khước từ đầy ý thức của một chàng trai biết sống có trách nhiệm.

Điều nữa, khi bàn “Sơn nữ ca” tự nhiên liên tưởng đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương với “Đêm đông” và nhạc sĩ Tô Hải với “Nụ cười sơn cước”. Cả 3 đều chào đời khi tác giả cùng tuổi 20.

Tuổi 20 của Nguyễn Văn Thương còn đi học nên cái buồn trong “Đêm đông” cũng hơi não nùng, chơi vơi và uỷ mị chút. Còn tuổi 20 của Tô Hải và Trần Hoàn đi kháng chiến nên nỗi buồn của “Nụ cười sơn cước” và “Sơn nữ ca” phóng khoáng và có phần nhẹ nhàng hơn. Điểm chung của cả 3 là phảng phất nét hào hoa, nho nhã kiểu tiểu tư sản.

“Nụ cười sơn cước” và “Sơn nữ ca” thì tương đồng hơn. Một bên núi rừng Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình và một bên núi rừng Ba Rền của tỉnh Quảng Bình (phía đông Phong Nha - Kẻ Bàng). Một bên là “chiều xuân chia phôi” với “dâng sầu lên mi mắt”. Một bên là “đêm trong rừng vắng” với “đầy hương bát ngát trời thu”. Nhưng hình như Sơn nữ của Tô Hải e ấp hơn với “chiếc thắt lưng xanh, với nụ cười nàng quá xinh”. Còn Sơn nữ của Trần Hoàn thì tinh nghịch, đáo để hơn với “miệng cười khúc khích”, “ngắm anh lữ khách” và biết “nhìn đăm đăm”

Cuối cùng, nếu nói về một điều gì đó tiếc nuối cho ông, thì đó là tiếc ông đi vào con đường quan chức. Không có điều kiện và thời gian để viết được nhiều tình khúc bất hủ kiểu như “Sơn nữ ca”.

Nhưng không sao, chỉ với một “Sơn nữ ca” thôi được rồi, cũng đủ để chúng ta và hậu thế nhớ mãi nhạc sĩ Trần Hoàn.

“Sơn nữ ơi,

Sơn nữ ơi, làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ.

Sơn nữ ơi, hoàng hôn xuống dần đợi chờ ai đây ?”

Tiếng gọi thiết tha, tiếng lòng hỏi lòng, ngân lên từ 77 năm qua của nhạc sĩ Trần Hoàn đọng lại dư âm trong lòng bao thế hệ, để mỗi chúng ta còn đong đầy một niềm tin vào tình yêu bất tận …

(Kim Long, BRVT- TP.HCM, viết cho ngày sinh nhật 17-10-2025)

Phạm Cảnh Thượng

READ MORE - SƠN NỮ CA : “Thời gian lôi cuốn bao lần …” - Phạm Cảnh Thượng

Sunday, September 22, 2024

PHẠM CẢNH THƯỢNG, MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC - Khê Giang

 


PHẠM CẢNH THƯỢNG

MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC

Khê Giang

 

Những năm gần đây trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết phân tích cảm nhận về âm nhạc của tác giả Phạm Cảnh Thượng, đây là những bài viết đã để lại dấu ấn trong lòng công chúng và đang có sức lan tỏa tương đối nhanh.

Rất nhiều người muốn tìm hiểu về cây viết này, không biết Phạm Cảnh Thượng là ai: nhạc sỹ, nhà văn hay nhà phê bình lý luận âm nhạc?

Xin thưa, ông là một người “ngoại đạo” về âm nhạc lẫn văn chương, ông không theo học hay có một bằng cấp gì liên quan đến hai lĩnh vực này và tất nhiên cũng không tham gia công tác nào liên hệ về mảng văn học nghệ thuật. Ông chỉ là một bác sỹ y khoa.

Phạm cảnh Thượng sinh ra và lớn lên tại làng An Thơ thuộc xã Hải Hòa cũ nay là xã Hải Phong, huyện Hải Lăng , tỉnh Quảng Trị, một ngôi làng nhỏ bên bờ bắc của con sông Ô Lâu thơ mộng, gần làng Phú Kinh của ca sỹ Lê Thu Uyên và đối diện quê hương nhà thơ Thanh Hải (bờ Nam sông Ô Lâu – thuộc Thừa Thiên - Huế).

Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, Phạm Cảnh Thượng học giỏi cả hai nhóm bộ môn tự nhiên và xã hội. Ông tốt nghiêp trường Đại học Y khoa Huế năm 1990. Sau khi ra trường Phạm Cảnh Thượng vào làm việc tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ông có niềm đam mê âm nhạc một cách kỳ lạ, ông mê mẫn nó như một tín đồ ngoan đạo chiêm nghiệm thánh kinh, nói về nghề nghiệp hay ngôn ngữ dân gian thì ông là một con nghiện ở cấp độ “ không có thuốc chữa”. Ngoài công việc chuyên môn, hầu như ông không có thú tiêu khiển hay giải trí nào ngoài âm nhạc. Từ những năm chín mươi đầy khốn khó của thế kỷ trước, cái gia tài quý giá và đồ sộ nhất của ông cũng chỉ là những sản phẩm liên quan về âm nhạc, trong một ngôi nhà cấp bốn khiêm tốn của một vị bác sỹ mới ra trường ai cũng phải ngạc nhiên trước khối lượng sách báo tài liệu khủng về âm nhạc. Các thiết bị, khí cụ, máy móc băng đĩa chiếm dụng gần như toàn bộ không gian phòng khách, chúng được sắp xếp bày biện như một viện bảo tàng nhỏ về bộ môn nghệ thuật này.

Ông sẵn sàng ngồi hàng giờ hàng buổi để chìm đắm trong từng ca khúc mà mình yêu thích và thi thoảng vẫn buông lời tiếc rẻ cho một số ca từ, ngữ điệu chưa được thăng hoa cho dù đó là sản phẩm của một nhạc sỹ trứ danh.

Phạm Cảnh Thượng cảm nhận về ca khúc không chỉ bằng cái thính lực trời cho mà bằng nhiều giác quan trộn lại, ông bị lôi cuốn như kẻ nhập thiền khi giải phẩu từng ca từ, giai điệu cấu trúc bản nhạc, ông bềnh bồng say khướt khi gặp phải chất giọng, nội lực, tính truyền cảm của ca sỹ thể hiện. Ông lần sờ, cầm nắm, giải phẫu được sự đồng điệu của nhạc sỹ và nhà thơ trong các sản phẩm phối tác… để rồi ông viết lên sự cảm nhận sâu sắc các ca khúc mà ông yêu thích bằng chất văn thiên bẫm của mình.

Bài viết của ông cảm giác như một bộ phim lần đến từng hơi thở tửng ngóc ngách của không gian và thời gian làm cuốn hút người đọc. Không bị rập khuôn theo cấu trúc của một bài phê bình, mỗi bài viết của ông là một sự sáng tạo, những đường dẫn mới những gam màu mới, đẹp nhưng thuần khiết, phóng khoáng nhưng chắt lọc, các mệnh đề mở nhưng dữ kiện số liệu được truy xuất tra cứu nguồn gốc một cách thuyết phục.

Nhìn cách phân tích sâu các bài hát về sự phát triển chủ điệu (motif), kiến trúc câu nhạc (phrase), đoạn nhạc (periode) và sự chuyển âm (modulation), mọi người nhầm tưởng ông là một nhạc sỹ kỳ cựu, hay khi ông nhận định các yếu tố làm nên một ca khúc thăng hoa như giai điệu đẹp, ca từ thu hút, cấu trúc hài hòa hợp lý, sự tương thích ca từ và nhạc…người đọc cứ ngỡ ông là nhà phê bình lý luận âm nhạc chuyên nghiệp. Thì ra tất cả cái uyên thâm kia ông chỉ dày công mày mò nghiên cứu mà không hề qua trường lớp.

Ông nghiên cứu và viết cảm nhận với nhiều thể loại âm nhạc, nhưng nhạc Tiền chiến, trữ tình lãng mạn vẫn là những dòng nhạc mà ông ưa thích. Các tác giả như Lê Thương, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Từ Công Phụng, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn…và sau này là Thanh Tùng, Phú Quang là những nhạc sỹ được ông nghe và viết cảm nhận nhiều nhất…

Người nghe trong những năm qua vẫn thích thú khi bắt gặp những bài viết cảm nhận về âm nhạc của bác sỹ Phạm Cảnh Thượng như: Bản sonat Ánh trăng (Beethoven); Chuyện tình buồn- “Mắt nhạt nhòa mưa qua” (Phạm Duy); Còn đây một “Nụ cười sơn cước” (Tô Vũ); Nhớ ngày xưa Hoàng Thị (Phạm Duy); Con Thuyền không bến (Đặng Thế Phong); Ai lên xứ hoa đào với nhạc sĩ Hoàng Nguyên; Mưa Hồng-một khúc phiếm du (Trịnh Công Sơn); “Vĩnh biệt mùa hè”- từ tiểu thuyết, phim đến âm nhạc (Thanh Tùng) và mới đây là Se sắt “nỗi nhớ mùa đông” (Phú Quang)…

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sản phẩm âm nhạc đang chạy theo thị hiếu dễ dãi của đám đông, sự thẩm định chuyên môn lại được đo đếm bằng view bằng like trên thị trường âm nhạc trực tuyến, trong khi đó công việc đánh giá và phê bình âm nhạc đang đìu hiu như những phiên chợ chiều. Thì những bài viết cảm nhận về âm nhạc của Bác sỹ Phạm Cảnh Thượng là điều đáng trân trọng, nó như cơn gió – cho dù là một cơn gió nhẹ nhưng biết đâu nó sẽ góp phần đánh thức sự trì trệ của ngành lý luận phê bình âm nhạc mấy thập niên qua vẫn đang loay hoay trong dòng chảy nghệ thuật.

 

DALK LAK ngày 11/01/2024.

Khê Giang

 

 

READ MORE - PHẠM CẢNH THƯỢNG, MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC - Khê Giang

Thursday, January 11, 2024

PHẠM CẢNH THƯỢNG, MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC - Khê Giang




PHẠM CẢNH THƯỢNG

MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC

Khê Giang 


Những năm gần đây trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết phân tích cảm nhận về âm nhạc của tác giả Phạm Cảnh Thượng, đây là những bài viết đã để lại dấu ấn trong lòng công chúng và đang có sức lan tỏa  trên mạng xã hội. 

Rất nhiều người muốn tìm hiểu về nhân vật này, không biết Phạm Cảnh Thượng là ai: nhạc sỹ, nhà văn hay nhà phê bình lý luận âm nhạc?

Xin thưa, ông là một người “ngoại đạo” về âm nhạc lẫn văn chương, ông không theo học hay có một bằng cấp gì liên quan đến hai lĩnh vực này và tất nhiên cũng không tham gia công tác gì liên quan về mảng văn học nghệ thuật. Ông chỉ là một bác sỹ y khoa.

Phạm cảnh Thượng sinh ra và lớn lên tại làng An Thơ thuộc xã Hải Hòa cũ nay là xã Hải Phong, huyện Hải Lăng , tỉnh Quảng Trị, một ngôi làng nhỏ bên bờ bắc của con sông Ô Lâu thơ mộng, gần làng Phú Kinh của ca sỹ Lê Thu Uyên và đối diện quê hương nhà thơ Thanh Hải (bờ Nam sông Ô Lâu – thuộc Thừa Thiên - Huế).

Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, Phạm Cảnh Thượng học giỏi cả hai nhóm bộ môn tự nhiên và xã hội. Ông tốt nghiêp trường Đại học Y khoa Huế năm 1990. Sau khi ra trường Phạm Cảnh Thượng vào làm việc tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ông có niềm đam mê âm nhạc một cách kỳ lạ, ông mê mẫn nó như một tín đồ ngoan đạo chiêm nghiệm thánh kinh, nói về nghề nghiệp hay ngôn ngữ dân gian thì ông là một con nghiện ở cấp độ “ không có thuốc chữa”. Ngoài công việc chuyên môn, hầu như ông không có thú tiêu khiển hay giải trí nào ngoài âm nhạc. Từ những năm chín mươi đầy khốn khó của thế kỷ trước, cái gia tài quý giá và đồ sộ nhất của ông cũng chỉ là những sản phẩm liên quan về âm nhạc, trong một ngôi nhà cấp bốn khiêm tốn của một vị bác sỹ mới ra trường  ai cũng phải ngạc nhiên trước khối lượng sách báo tài liệu khủng về âm nhạc. Các thiết bị, khí cụ, máy móc băng đĩa chiếm dụng gần như toàn bộ không gian phòng khách, chúng được sắp xếp bày biện như một viện bảo tàng nhỏ về bộ môn nghệ thuật này.

Ông sẵn sàng ngồi hàng giờ hàng buổi để chìm đắm trong từng ca khúc mà mình yêu thích và thi thoảng vẫn buông lời tiếc rẻ cho một số ca từ, ngữ điệu chưa được thăng hoa cho dù đó là sản phẩm của một nhạc sỹ trứ danh.

Phạm Cảnh Thượng cảm nhận về ca khúc không chỉ bằng cái thính lực trời cho mà  bằng nhiều giác quan trộn lại, ông bị lôi cuốn như kẻ nhập thiền khi giải phẩu từng ca từ, giai điệu cấu trúc bản nhạc, ông bềnh bồng say khướt khi gặp phải chất giọng, nội lực, tính truyền cảm của ca sỹ thể hiện. Ông lần sờ, cầm nắm, giải phẫu được sự đồng điệu  của nhạc sỹ và nhà thơ trong các sản phẩm phối tác… để rồi ông viết lên sự cảm nhận sâu sắc các ca khúc mà ông yêu thích bằng chất văn thiên bẫm của mình.

Bài viết của ông cảm giác như một bộ phim lần đến từng hơi thở tửng ngóc ngách của không gian và thời gian làm cuốn hút người đọc.  Không bị rập khuôn theo cấu trúc của một bài phê bình, mỗi bài viết của ông là một sự sáng tạo, những đường dẫn mới những gam màu mới, đẹp nhưng thuần khiết, phóng khoáng nhưng chắt lọc,  các mệnh đề mở nhưng dữ kiện số liệu được truy xuất tra cứu nguồn gốc một cách thuyết phục.

Nhìn cách phân tích sâu các bài hát về sự phát triển chủ điệu (motif), kiến trúc câu nhạc (phrase), đoạn nhạc (periode) và sự chuyển âm (modulation), mọi người nhầm tưởng ông là một nhạc sỹ kỳ cựu, hay khi ông  nhận định các yếu tố làm nên một ca khúc thăng hoa như giai điệu đẹp, ca từ thu hút, cấu trúc hài hòa hợp lý, sự tương thích ca từ và nhạc…người đọc cứ ngỡ ông là nhà phê bình lý luận âm nhạc chuyên nghiệp. Thì ra tất cả cái uyên thâm kia ông chỉ dày công mày mò nghiên cứu mà không hề qua trường lớp.

Ông nghiên cứu và viết cảm nhận với nhiều thể loại âm nhạc, nhưng nhạc Tiền chiến, trữ tình lãng mạn vẫn là những dòng nhạc mà ông ưa thích. Các tác giả như Lê Thương, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Từ Công Phụng, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn…và sau này là Thanh Tùng, Phú Quang  là những nhạc sỹ được ông nghe và viết cảm nhận nhiều nhất…

Người nghe trong những năm qua vẫn thích thú khi bắt gặp những bài viết cảm nhận về âm nhạc của bác sỹ Phạm Cảnh Thượng như: Bản sonat Ánh trăng (Beethoven); Chuyện tình buồn- “Mắt nhạt nhòa mưa qua” (Phạm Duy); Còn đây một “Nụ cười sơn cước” (Tô Vũ); Nhớ ngày xưa Hoàng Thị (Phạm Duy); Con Thuyền không bến (Đặng Thế Phong); Ai lên xứ hoa đào với nhạc sĩ Hoàng Nguyên; Mưa Hồng-một khúc phiếm du (Trịnh Công Sơn); “Vĩnh biệt mùa hè”- từ tiểu thuyết, phim đến âm nhạc (Thanh Tùng) và mới đây là Se sắt “nỗi nhớ mùa đông” (Phú Quang)…

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sản phẩm âm nhạc đang chạy theo thị hiếu dễ dãi của đám đông, sự thẩm định chuyên môn lại được đo đếm bằng view bằng like trên thị trường âm nhạc trực tuyến, trong khi đó công việc đánh giá và phê bình âm nhạc đang đìu hiu như những phiên chợ chiều. Thì những bài viết cảm nhận về âm nhạc của Bác sỹ Phạm Cảnh Thượng là điều đáng trân trọng, nó như cơn gió – cho dù là một cơn gió nhẹ nhưng biết đâu nó sẽ góp phần đánh thức sự trì trệ của ngành lý luận phê bình âm nhạc mấy thập niên qua vẫn đang loay hoay trong dòng chảy nghệ thuật.

DALK LAK ngày 11/01/2024.

Khê Giang


READ MORE - PHẠM CẢNH THƯỢNG, MỘT CÂY VIẾT MỚI VỀ ÂM NHẠC - Khê Giang

Friday, September 8, 2023

“MẮT NHẠT NHOÀ MƯA QUA ...” - Phạm Cảnh Thượng

Nhà thơ Phạm Văn Bình


 “MẮT NHẠT NHOÀ MƯA QUA ...” 

Phạm Cảnh Thượng

Cảm nhận về "Chuyện tình buồn", 

thơ Phạm Văn Bình, Phạm Duy phổ nhạc

 

Có những con người, chỉ một đôi lần thoáng qua thôi, là làm ta nhớ mãi. Có những thân phận nổi trôi, bọt bèo, lặng lẽ nhưng trần gian khó thể nào quên. Có những khoảnh khắc một lần là mãi mãi. Tôi đang nói về thi sĩ Phạm Văn Bình. Ông là một người con của đất Đông Hà-Quảng Trị, đã từ giả cõi đời ở tuổi 79 tại miền Nam California vào tuần trước (chiều  22 tháng 7, 2018) trong niềm thương tiếc của đông đảo bà con hải ngoại và mọi người yêu mến ông.

 

Cơn mưa chiều tháng 7. Ở cái xứ miền Nam này ít khi mưa dai, hiếm khi dầm dề rả rích. Nhưng chiều nay, một thoáng mưa qua đã đủ làm lòng người se sắt:

 

“Năm năm rồi không gặp.

Từ khi em lấy chồng.

Anh dặm trường mê mải.

Đời chia như nhánh sông”

 

Đó là những câu mở đầu trong bài thơ “Chuyện tình buồn” của Phạm Văn Bình. Bài thơ vốn đã nổi tiếng thời đó, không lâu sau lại được Phạm Duy phổ nhạc. Bài hát quá hay, nên bài thơ càng được chắp cánh.

 

Gần 50 năm trôi qua, ca khúc vượt thời gian này đã làm lay động biết bao con tim của bao thế hệ. Dù ít dù nhiều, không phân biệt chính trị bên này hay bên kia, ai đã từng yêu (mà có ai không yêu?), đều có thể tìm thấy một chút bóng dáng mình trong đó.

 

Phạm Văn Bình tài hoa từ thuở nhỏ. Nhà nghèo, sống nhờ nhuận bút từ những trang báo mà ông cộng tác. Ông từng dạy học ở trường Bán công Đông Hà. Vừa qua tuổi 20 đã là cộng sự Dạ Lan trong chương trình “Mẹ Việt Nam” tại Đông Hà cùng với thi sĩ Nhất Tuấn. Ông đi lính Thuỷ quân lục chiến, nhưng lại có tài văn bút và tâm hồn nghệ sĩ, nên sau đó chuyển sang làm Đại uý phòng tâm lý chiến.

 

Theo lời kể của một người bạn cùng thời chơi thân với ông, hồi đó ở Đông Hà có cô Lê Thị Tuý nổi tiếng xinh đẹp. Ông đem lòng yêu thương. Nhưng do nhiều vấn đề nên sau đó cô Tuý lên xe hoa với một Sĩ quan không quân chế độ cũ, là bạn của ông.

 

Một buổi chiều cuối thu, ông trở lại đất Đông Hà. Cảnh cũ còn đó mà người xưa theo chồng đã 5 năm. Ông bồi hồi theo dòng suy tưởng:

 

“Phong thư tình ngây dại.

Những vai mềm, môi ngoan.

Những hẹn hò cuống quýt.

Trên lối xưa thiên đàng”

 

Chợt lòng quặn thắt và cảm thấy nhói đau nơi trái tim người lính trẻ. Lời ông tự sự:

 

“Ngày nhà em pháo nổ.

Anh cuộn mình trong chăn.

Như con sâu làm tổ.

Trong trái vải cô đơn”

 

Nổi đau chất chứa, dồn nén đến đỉnh điểm, nó tự nhiên buộc người ta phải thốt lên thành lời. Không phải là với người yêu, với mọi người nữa, mà là với chính mình:

 

“Ngày nhà em pháo nổ.

Tâm hồn anh rướm máu.

Ôi nhát chém hư vô.

Ôi nhát chém hư vô.

 

Để ý một chút, chúng ta thấy câu “ngày nhà em pháo nổ” và câu “ôi nhát chém hư vô”  được nhắc đi nhắc lại 2 lần, càng làm ta thấm thía và đồng cảm với hoàn cảnh éo le, nghiệt ngã và nỗi đau cô đơn của tác giả. Thế mới biết, đâu cần chi phải là những nỗi đau “lớn lao, đại sự”, mà có khi chỉ là một nỗi đau nhỏ nhoi, riêng lẻ, nếu đồng điệu, thấu cảm và được thốt lên bởi vẻ đẹp nghệ thuật của ngôn từ, và đặc biệt là sự chân thành nơi trái tim, thì sẽ có sức lay động và trường tồn với thời gian.

 

Trở lại với mối tình si của tác giả, đọc cả bài thơ gồm 42 câu, chúng ta thấy mặc dù là một bài thơ tình, nhưng tuyệt nhiên thấy tác giả rất ít nhắc về những kỷ niệm. Có chăng chỉ thấp thoáng rất mờ ảo về một “đường xưa, lối về”, một “sân giáo đường”, một “gác chuông” nơi “xóm đạo”, làm nền tảng bối cảnh cho một cuộc tình dang dở, bi thương:

 

“Năm năm rồi ly biệt.

Đường xưa chưa lối về.

Trong đìu hiu gió cuốn.

Nằm chơ vơ gác chuông”

 

Chúng ta hãy tiếp tục lắng nghe tác giả trãi lòng:

 

“Năm năm rồi cách biệt.

Cỏ hoang sân giáo đường.

Chúa buồn trên thánh giá.

Mắt nhạt nhoà mưa qua”

 

Thiết nghĩ cũng cần nói thêm sự khéo léo, tài hoa của nhạc sĩ Phạm Duy khi phổ nhạc bài thơ này (và tên bài thơ cũng là tên bài hát). “Chuyện tình buồn” có cả thảy 42 câu, được chia thành 8 khổ không đều nhau, có khổ 4 câu, khổ 6 câu và có khổ 8 câu. Nhưng khi phổ nhạc, Phạm Duy sắp xếp thành 40 câu chia đều 5 khổ, mỗi khổ 8 câu bằng nhau. Trong bài hát, phần lớn là nguyên bản bài thơ, còn có một số câu phỏng tác, nhưng đều rất sát và theo đúng tinh thần của bài thơ một cách tài tình làm chúng ta có cảm giác như Phạm Văn Bình và Phạm Duy đang lồng ghép tâm thế mình vào nhau để cùng tạo nên một tuyệt phẩm. Hai đoạn Chorus (điệp khúc) được đặt xen kẽ vào giữa 3 đoạn Verse, đều bắt đầu bằng câu: “5 năm rồi không gặp - 5 năm rồi đi biệ t- 5 năm rồi không gặp” đúng theo nguyên bản bài thơ. Sự lặp đi lặp lại ấy như xoáy sâu thêm nỗi khắc khoải của tác giả và cả mỗi chúng ta khi đọc bài thơ hay nghe bài hát.

 

Khi tôi viết những dòng này cũng là lúc bên tai tôi tiếng hát Vũ Khanh từ dĩa CD nhấn nhá đầy tâm trạng:

 

 “Ngồi bâng khuâng nhớ biển.

Bên bãi đời quạnh hiu.

Anh mang hồn thủy thủ.

Cùng năm tháng phiêu du”

 

Các hợp âm La thứ- Fa trưởng- Mi 7- Son 7, rồi trở về gam chủ La thứ của đoạn điệp khúc:

 

“Anh một đời rong ruổi.

Em tay bế tay bồng.

Chiều hắt hiu xóm đạo.

Hồi chuông giáo đường vang”

 

Nó không lấn át âm hưởng của hợp âm trưởng chủ đạo, bao trùm toàn bài hát: Đô trưởng- Mi thứ- La thứ-Sol trưởng- trở về Đô trưởng. Nhờ vậy mà cảm giác nghe dù buồn, có thể buồn rất sâu, có thể chỉ buồn man mác, tuỳ theo cảm nhận khác nhau ở mỗi người, nhưng có lẽ đều cảm thấy nhẹ nhàng, trong sáng chứ không thê lương và ủy mị.

 

Với bài “Chuyện tình buồn”, tôi từng nghe qua 5-7 ca sĩ hát. Nhưng hay nhất và lột tả được hết cái hồn của bài hát nhất, có lẽ là giọng hát của ca sĩ hải ngoại Vũ Khanh:

 

“Năm năm rồi không gặp.

Từ khi em lấy chồng.

Bao kỹ niệm chôn kín.

Dường như đã lãng quên”

 

Tác giả đã nuốt nỗi đau vào trong cho riêng mình. Nhường chỗ cho niềm cảm thông và một tình thương sâu sắc dành cho người tình xưa. Bởi vài ba năm sau cái “ngày nhà em pháo nổ”, thì người chồng Sĩ quan không quân của cô Lê Thị Tuý qua đời, để lại người vợ trẻ với 2 đứa con thơ, “em tay bế tay bồng”.

 

Bốn câu cuối bài thơ không còn đơn thuần chỉ là tình yêu đôi lứa, mà trào dâng một tình thương đầy nhân văn, đủ làm bâng khuâng, ray rứt lòng người:

 

“Năm năm rồi trở lại.

Một màu tang ngút trời.

Thương người em năm cũ.

Thương goá phụ bên song”

 

Hình ảnh người em “góa phụ” bên song cửa không chỉ làm nao lòng tác giả, mà còn gợi lên trong mỗi chúng ta nỗi xót xa nhân thế. Đọc lại, thấy hai chữ “5 năm” trong nguyên bản bài thơ được Phạm Văn Bình nhắc đi nhắc lại tới 4 lần. Phạm Duy còn thêm một lần nữa là 5 lần, càng xoáy sâu vào nỗi da diết khôn nguôi.

 

Công tâm mà nói, bài thơ hay. Phải nói là rất hay. Thể thơ 5 chữ rất độc đáo, nhưng hẳn nhiên chưa thể gọi là tuyệt tác. Ấy mà khi được nhạc sĩ sáng tác và phổ nhạc thuộc hàng hay nhất Việt Nam là nhạc sĩ Phạm Duy, thì bài thơ được chắp cánh, được nâng lên một tầm vóc mới. Thơ-Ca đã giao hoà một cách đồng điệu đến mức lạ kỳ, tạo nên một “CHUYỆN TÌNH BUỒN” quá đẹp. Xứng đáng để người đời trong dĩ vãng, hiện tại và có lẽ cả mai sau mãi chiêm ngưỡng, nhớ về.

 

Phạm Văn Bình, ông như kẽ lữ khách lặng lẽ đi qua cõi đời, để lại dăm ba bài thơ đầy thân phận. Có hề chi, đâu cần phải nhiều. Chỉ duy nhất một “Chuyện tình buồn” thôi cũng đủ. Để mọi người ngưỡng mộ, thương mến và chẳng thể nào quên được ông, thổn thức cùng ông.


 Tôi cũng là một người con của đất Quảng Trị, sinh sau ông 26 năm, thuộc hàng con cháu, nhưng tôi xin thưa với ông rằng: Ông ơi, sau bao dâu bể thăng trầm, gian truân của cuộc đời, giờ thì ông đã có thể mĩm cười, yên tâm nhắm mắt ngủ giấc nghìn thu. Nơi quê hương Quảng Trị, rồi đây sẽ có nhiều cơn mưa Ngâu mát mẻ vổ về giấc ngủ của ông. Phạm Duy đã ra đi từ hơn 5 năm trước. Nay ông cũng theo về, để nối tiếp Thơ -Ca giao hoà nên những cung bậc mới đầy mê ly nơi tiên cảnh.

“Năm năm rồi không gặp”, với Phạm Duy và Phạm Văn Bình, giờ là ngàn năm ly biệt ... Tôi viết những dòng này như một nén hương lòng, kính cẩn nghiêng mình tri ân và tiễn đưa ông. Chiều nơi đây với chút mưa tháng 7, sao tôi nghe lòng mình thấm lạnh. Thêm một lần tôi ngồi nghe lại “Chuyện tình buồn”, chợt thấy cay cay nơi sống mũi, và “mắt nhạt nhoà mưa qua” ...

 

Kim Long - BRVT, chiều tối 30/7/2018.

PHẠM CẢNH THƯỢNG 

READ MORE - “MẮT NHẠT NHOÀ MƯA QUA ...” - Phạm Cảnh Thượng

Sunday, February 12, 2023

CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG - THƯƠNG HIỆU CỦA TRÁI TIM - Phạm Cảnh Thượng

 

Các Thầy cắt băng khánh thành khu trưng bày HSNH 


CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG

THƯƠNG HIỆU CỦA TRÁI TIM


Có những niềm vui bất ngờ thú vị đến, để rồi sẽ làm chúng ta nhớ mãi. Ví như chiều hôm qua chủ nhật 12-02-2023, các anh chị học sinh Nguyễn Hoàng BRVT để dành cho mình một chổ trên chuyến xe đi SG dự cuộc họp mặt đầu xuân. Cũng là lễ kỷ niệm 30 năm thành lập hội cựu học sinh Nguyễn Hoàng Sài Gòn (HSNH SG - 1993-2023)

Đúng 1h30 chiều, sau khi đi vòng vòng rước thêm vài anh chị, chiếc xe 7 chỗ trực chỉ Tân Bình. 4giờ kém đến nơi, vừa đặt chân vào cổng nhà hàng Hoàng Long, tôi ngỡ ngàng trước quang cảnh đông vui của buổi chiều lễ hội. Một khuôn viên rộng lớn, thoáng đãng được trang trí bằng nhiều tranh ảnh hết sức trang trọng và vui mắt.

Cuộc hội ngộ đầu xuân của những anh chị mà theo lý thuyết không thể có học trò dưới 62 - 63t và cao nhất là 84t, các thầy cô thì còn cao hơn. Tôi tham gia với tâm trạng vui háo hức xen lẫn chút tò mò. Bởi từ lâu với tôi, cựu HSNH Quảng Trị là một tượng đài, một thương hiệu lớn. Thương hiệu của Trí tuệ và của Trái tim như tôi lấy làm tiêu đề cho bài viết này.

Còn tôi chỉ là lứa đàn em cấp 3 Hải Lăng sau giải phóng. Ở một khía cạnh nào đấy cũng được xem là đàn em hậu duệ của HSNH. Lý do là bởi ngôi trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị ngày ấy có một “thân phận” đặc biệt do hoàn cảnh chiến tranh mà Quảng Trị là địa đầu giới tuyến, mà lát nữa được trình bày những nét chính cơ bản như bên dưới đây.

Tò mò là vì muốn biết hội ngộ HSNH là như thế nào ? Xem các anh chị “người lớn” tổ chức ra sao ? Có gì hay, có gì lạ để mà học hỏi cho biết. Nghĩa là như trong vai một “quan sát viên” vậy thôi. Thêm nữa, cũng như có dịp được gặp gỡ một số đàn anh mà lâu nay nghe tiếng và ngưỡng mộ.

Sau các phần nghi thức và nghi lễ, giới thiệu khách mời, giới thiệu Thầy cô giáo, thì có lẽ không gì ấn tượng hơn chính là bộ phim, chiếu lại quá trình 30 thành lập, hoạt động và phát triển của HSNH SG. Phải gọi là một bộ phim đúng nghĩa, vì tôi canh xem đồng hồ thấy thời lượng kéo dài hơn 45 phút. Phim được dàn dựng và đạo diễn công phu với dạo đầu bằng ca khúc “Về đây nghe em” của nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Chủ đề phim là “30 năm đoàn kết - thân thương - chia sẻ”. Trên nền nhạc đầy trữ tình của ca khúc Torna a Surriento nổi tiếng của 2 anh em Giambattista và Ernesto De Curtis, mà sau này nhạc sĩ Phạm Duy đã lược dịch thành ca khúc tiếng Việt Trở về mái nhà xưa, càng làm không khí đông vui nhưng lại xúc động và lắng đọng hơn bao giờ ... Chỉ là phần nhạc, nhưng mọi người ngồi nghe không thể không liên tưởng đến phần lời của Phạm Duy lay động tâm tư trong bối cảnh vô cùng “ăn nhập” chiều tối nay :

“Về đây khi mái tóc còn xanh xanh

Về đây với màu gió ngày lang thang

Về đây với xác hiu hắt lạnh lùng

Ôi lãng du quay về điêu tàn ...”

Ngôi trường dấu yêu đã không còn tên sau ngày giải phóng 1975. Tất nhiên với các anh chị HSNH thì khỏi phải nhắc lại lai lịch và quá trình của trường. Bởi có lẽ tất cả đều đã thuộc nằm lòng và ở nơi dấu yêu nhất trong trái tim của các anh chị. Ở đây chỉ xin điểm qua vài nét chính để mọi người cùng biết, cùng hình dung về ngôi trường đặc biệt dâu bể và một thời vang bóng này.

Có thể nói một cách không quá rằng Thừa Thiên Huế có Quốc Học thì Quảng Trị có ngôi trường mang tên của vị Chúa tiên Nguyễn Hoàng. Dù chưa được lịch sử phán xét công minh và sòng phẳng, nhưng trong bài thơ Nhớ Bắc, nhà thơ cách mạng Huỳnh Văn Nghệ đã có những câu nói về công lao phải nói là vĩ đại của vị Chúa tiên - người đặt nền móng, khai sinh Đàng trong và triều Nguyễn :

“Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương”

Thật vinh hạnh khi miền đất Quảng Trị nghèo khó, đau thương, địa đầu giới tuyến thời đó có một ngôi trường mang tên Người.

Nguyên thuỷ của trường là do một nhóm nhân sĩ và phụ huynh có tâm, có lòng ở thị xã Quảng Trị lập ra năm 1951 với danh nghĩa là một trường trung học tư thục.

Chỉ một năm sau, tức niên học 1952-1953, trường đã được Bộ Quốc gia giáo dục công nhận là trường công lập với tên gọi là Trường trung học công lập Quảng Trị. Chỉ gồm 5 lớp : hai lớp đệ thất (lớp 6), hai lớp đệ lục (lớp 7), và một lớp đệ ngũ (lớp 8 )

Đến niên khoá 1953 -1954 lần đầu tiên trường được chính thức mang tên Trường trung học Nguyễn Hoàng. Như vậy nếu xét danh chính ngôn thuận, thì có thể nói trường Nguyễn Hoàng thành lập từ niên học đầu tiên 1953 -1954.

Thế mà chỉ 5 năm sau, trong bối cảnh chiến tranh, lại là địa đầu giới tuyến, mà trường Nguyễn Hoàng đã phát triển nhanh chóng với chất lượng đào tạo uy tín, năm học 1958-1959, trường đã phát triển lên thành 15 lớp, trong đó có 2 lớp đệ tam (lớp 10), cũng như khuôn viên trường được mở rộng thêm.

Cột mốc đáng nhớ là niên khoá 1962 - 1963 trường có lớp đệ nhất (lớp 12) đầu tiên, nên được công nhận là trường Trung học Đệ nhị cấp. Nghĩa là tính từ 1962 trở đi, trường Nguyễn Hoàng là một ngôi trường chính qui “toàn vẹn” với đầy đủ các lớp từ đệ thất đến đệ nhất (từ khối 6 đến khối 12).

Thời chiến người học ít và có sự chọn lọc : gia đình có điều kiện hoặc con nhà nghèo thì phải thật hiếu học và học giỏi. Dù không có cơ sở, nhưng tôi đồ rằng một học sinh tốt nghiệp tú tài toàn phần thời đó (tốt nghiệp 12) thì trình độ chất lượng và tư duy ngang với một sinh viên tốt nghiệp đại học bây giờ !

Qua tìm hiểu các tư liệu, cho thấy thi đầu vào của trường Nguyễn Hoàng cực kỳ chất lượng. Như những hạt gạo trên sàng, mới theo đuổi đến đoạn cuối con đường học vấn.

Như cây xương rồng trên cát, môi trường khắc nghiệt vẫn ẩn chứa một sức sống mãnh liệt. Sau Mậu thân 1968, năm học 1968 - 1969 trường đã có trên 50 lớp. Có thể nói thời kỳ đỉnh cao, phát triển huy hoàng nhất của trường chính là niên khoá 1970-1971, đạt 60 lớp với trên 3.000 học sinh (bao gồm nữ sinh trung học), trên 100 giáo sư + nhân viên hành chính.

Có thể nói, cùng với biến cố đất nước, thì mùa hè đỏ lửa 1972 cũng là biến cố bước ngoặc của trường Nguyễn Hoàng. Thầy trò cùng người dân tán loạn, “chạy giặc” nhiều vào Đà Nẵng. Thật khó tin và kỳ diệu, trường Nguyễn Hoàng vẫn tồn tại ở một địa điểm mới đó là Trại tạm cư Hoà Khánh và Non Nước với trên 40 lớp ! Thế mới biết sức sống của trường Nguyễn Hoàng là phi thường đến nhường nào !

Năm 1973 - 1974 chiến sự tạm lắng lắng, trường Nguyễn Hoàng rời Đà Nẵng trở về quê hương Quảng Trị nhưng không phải chỗ cũ mà là chỗ mới, đó là trường cấp 3 Hải Lăng bây giờ. Và năm 1975 giải phóng thống nhất đất nước, thì trường Nguyễn Hoàng mới chính thức kết thúc sứ mệnh một thời vang bóng của mình.

Với Thầy giáo Lân Bành Phi, cựu Trưởng ban liên lạc NH BRVT


Với anh chị Phó giáo sư Tiến sĩ, BS Lê Chí Dũng, TP.HCM.



Tôi được tham dự buỗi lễ với 4 niềm cảm hứng:

1/ Tự hào và ngưỡng mộ về một lứa đàn anh học hành đàng hoàng và chất lượng.

Rất nhiều HSNH sau đó trở thành những biểu tượng thành đạt của xã hội khắp nơi, kể cả ở hải ngoại. Đặc biệt nhiều anh chị HSNH trở thành những Thầy cô giáo đáng kính, trở về lại dạy tại trường. Nhiều anh chị sau này là Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Nhà văn, Nhà thơ, là Bác sĩ, Kỹ sư, là Doanh nhân, Nhà báo, Nghệ sĩ, v.v ... rất thành danh. Còn những anh chị do hoàn cảnh chiến tranh hoặc hoàn cảnh bản thân, gia đình mà không theo đuổi việc học đến nơi đến chốn được, thì cũng trở thành những con người hiểu biết, có tri thức trong xã hội, những người cha, người mẹ nuôi dạy con cái trở thành người có ích cho xã hội. Tất cả các anh chị đều chung một cái nôi xuất thân, đó là học sinh trung học Nguyễn Hoàng -Quảng Trị.

2/ Cảm hứng thứ hai, đó là sau giải phóng lứa đàn em chúng tôi cũng được học tại cấp 3 Hải Lăng. Ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể được xem là hậu duệ của học sinh Nguyễn Hoàng.

Cũng tại nơi đây năm 2017 cháu Phan Đăng Nhật Minh (Hải Thọ - Hải Lăng) đã giành chức vô địch Đường lên đỉnh Olympia nức lòng cả nước với biệt danh “chú bé Google”, gây ấn tượng mạnh với người hâm mộ là “cái gì cũng biết”

3/ Cảm xúc thứ ba, đó là như mọi người con của quê hương Quảng Trị, chúng tôi cảm thấy mình cần có trách nhiệm, và mong muốn góp một phần truyền cảm hứng, đến các thế hệ trẻ hiện nay và sau này. Rằng Quảng Trị từng có một ngôi trường trung học Nguyễn Hoàng, một thời vang danh về chất lượng, uy tín và độ tin cậy thương hiệu. Để thế hệ các em, các cháu biết mà phấn đấu và noi gương.

4/ Cuối cùng là niềm cảm hứng muốn biết các anh chị tổ chức ra sao và được gặp một số đàn anh, đàn chị đã nghe qua danh tiếng từ lâu nhưng chưa được gặp, như nói trên.

Slogan giảng dạy của trường ngày ấy là “nhân bản - dân tộc - khai phóng”, chứ không tuân theo bất cứ một chủ thuyết ngoại lai hay chính trị nào. Thiết nghĩ đây cũng là một yếu tố tạo nên giá trị cốt lõi và xác lập được tính bền vững độc lập của thương hiệu trường Nguyễn Hoàng cho dù thời gian và thời cuộc có dâu bể ra sao.

Và dù chỉ tồn tại chưa đầy 24 năm, nhưng trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã hoàn thành một sứ mệnh cao cả. Đó là đào tạo nên nhiều thế hệ học trò giỏi, chất lượng, để rồi như những cánh chim tung bay khắp 4 phương trời đất nước và cả Hải ngoại.

Giữa năm âm lịch Quí Mão này, chúng ta kỷ niệm 410 năm ngày giỗ của Thái tổ Gia Dụ hoàng đế Nguyễn Hoàng. Thiết nghĩ thế hệ con cháu tri ân Ngài không gì hơn là luôn biết phấn đấu lao động, học tập và sống tốt với các giá trị chân, thiện, mỹ.

Riêng đối với nhiều thế hệ HSNH, còn là niềm tự hào, tưởng nhớ và tri ân thầm lặng - để một thương hiệu trường Nguyễn Hoàng không thể dễ lãng quên.

Đúng 8g30 tối kết thúc. Buổi lễ để lại trong lòng tôi nhiều cảm xúc. Ấn tượng về cách thức tổ chức hết sức chu đáo, thân thiện, chuyên nghiệp và “rất người lớn”. Tức là vui và nhộn nhịp nhưng trang trọng và không xô bồ.

Dùng dằng một lát, mấy anh em chia tay lên xe với những lời chúc và hẹn hò nhau phía trước. Về đến cổng nhà nhìn xem đồng hồ đã thấy 10g30 đúng ...

(Kim Long, BRVT, Trưa thứ hai 13 -02 -2023 - PCT)

 Phạm Cảnh Thượng

READ MORE - CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG - THƯƠNG HIỆU CỦA TRÁI TIM - Phạm Cảnh Thượng