Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 19, 2026

KHÚC TỤNG CA CHIM TRỜI: MỘT CÁI ÔM NGUYÊN SƠ VƯỢT QUA MỌI BIÊN GIỚI - Authors: Tiến Sĩ Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India. & Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany



Lời tác giả:

Bài thơ “Khúc Tụng Ca Chim Trời” gửi gắm thông điệp về tình yêu, tự do và sự hòa hợp vượt qua mọi ranh giới tôn giáo, văn hóa và chính trị. Qua hình ảnh loài chim và bầu trời, tác giả nhấn mạnh rằng thiên nhiên không có sự chia rẽ, và tình yêu chính là “tôn giáo” cao nhất—kết nối con người trong sự thuần khiết và bình đẳng giữa một thế giới hiện đại đầy phân tách.

(1)
Bầu trời không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ ai;
sắc xanh của nó vẫn chưa học được ngôn ngữ của chia rẽ.
Có lẽ bạn chưa từng để ý—
khi một chú chim đậu trên đỉnh tháp vàng của ngôi đền,
hướng về phía tháp giáo đường Hồi giáo
và thực hiện một nghi thức “tẩy rửa” bằng giai điệu,
Đấng Tạo Hóa khẽ mỉm cười trong lặng lẽ;
bởi Người biết rằng
ngọn gió không giữ sổ sách nào
và cũng chẳng mang tên của một tôn giáo.

(2)
Tình yêu có phải chỉ là một cuộc diễu hành chính trị?
Không—
nó giống như làn khói trầm lan tỏa từ ngôi Namghar,
không hề biết rằng
làn gió đã đi qua sân nhà nào trước đó.
Chiếc kính của thời hiện đại chúng ta đã trở nên quá hẹp;
chúng ta tìm kiếm cả dòng dõi trong đôi cánh của loài chim,
và khắc những bản đồ chính trị
lên chính trái tim sống động của thiên nhiên.

(3)
Hãy lắng nghe, hỡi người yêu dấu—
hãy đến với tôi vào một buổi chiều hậu hiện đại nào đó,
nơi chúng ta sẽ không bị rỉ máu bởi gai nhọn của bất kỳ “chủ nghĩa” nào.
Nơi vệt son đỏ trên trán em
và dấu lặng thầm của lời sajda nơi tôi
sẽ cùng uống chung từ suối nguồn nhân loại.
Bởi tình yêu chính là tôn giáo chân thật duy nhất—
tôn giáo dạy con người
biết trở thành một cánh chim:
tự do, can đảm và thuần khiết.

(4)
Hiện thực thật kỳ lạ, phải không?
Giữa những khu rừng cơ khí của các tòa nhà thành phố,
lũ chim không còn tìm kiếm đền hay giáo đường;
chúng chỉ tìm
một cây niềm tin duy nhất—
để nghỉ ngơi đôi chút
dưới bóng mệt mỏi
của nhân loại thế kỷ hai mươi mốt.


Giới thiệu 2 tác giả:

- Dr. Musharraf Hussain là nhà thơ, học giả và nhà phê bình văn học đến từ Goalpara, bang Assam, Ấn Độ. Các sáng tác của ông thường khám phá bản sắc con người, tình yêu mang tính đạo đức, phẩm giá nhân loại và khả năng chung sống hài hòa giữa các nền văn hóa.

- Thi Lan Anh Tran là thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kế toán, tài chính và thuế, đồng thời là một nữ thi sĩ đương đại sống tại Đức. Thơ của cô phản ánh sự mong manh của cảm xúc, sức mạnh thầm lặng của nội tâm và sự chân thành sâu sắc trong trải nghiệm tinh thần của con người.

 

 

PHIÊN BẢN TIẾNG ANH

The Avian Hymn: A Primal Embrace Beyond Borders

Authors:
Musharraf Hussain
Goalpara, Assam, India.
Thi Lan Anh Tran, Germany

(1)
The sky holds no title deeds of faith;
its vast blue has not yet learned the language of division.
Perhaps you have never noticed—
when a bird, perched upon a temple’s golden spire,
turns toward the mosque’s minaret
and performs a melodic ablution of song,
the Creator smiles quietly;
for He knows
the wind keeps no ledger
and carries no religious name.

(2)
Is love merely a political procession?
No—
it is like the drifting incense of the Namghar,
unaware of which courtyard
the breeze once passed through.
The lenses of our modernity have grown narrow;
we now search for lineage even in a bird’s wing
and carve political maps
into the living heart of Nature.

(3)
Listen, O beloved—
come to me on some postmodern evening
where we shall not bleed upon the thorns of any “ism.”
Where the vermilion upon your brow
and the silent mark of my sajda
shall drink from the same fountain of humanity.
For love alone is the truest religion—
the one that teaches humankind
how to become a bird:
free, fearless, and profoundly pure.

(4)
Reality is a curious thing, is it not?
Amid the mechanical forests of these city towers,
birds no longer search for mosques or temples;
they seek only
a single tree of trust—
where they may rest for a while
beneath the weary shadow
of a twenty-first-century humanity.

 

PHIÊN BẢN TIẾNG ĐỨC

Der Vogel-Hymnus: Eine Urzeitliche Umarmung Jenseits der Grenzen

Autoren:
Musharraf Hussain
Goalpara, Assam, India.
Thi Lan Anh Tran, Germany

(1)
Der Himmel gehört niemandem;
sein Blau hat die Sprache der Spaltung noch nicht gelernt.
Vielleicht hast du es nie bemerkt—
wenn ein Vogel auf der goldenen Spitze eines Tempels sitzt,
sich dem Minarett der Moschee zuwendet
und eine melodische „Waschung“ aus Gesang vollzieht,
lächelt der Schöpfer leise;
denn Er weiß:
Der Wind führt kein Register
und trägt keinen religiösen Namen.

(2)
Ist Liebe nur ein politischer Umzug?
Nein—
sie ist wie der verwehende Weihrauch aus dem Namghar,
der nicht weiß,
aus welchem Hof der Wind einst kam.
Die Brille unserer Moderne ist zu eng geworden;
wir suchen nun sogar Abstammung in den Flügeln eines Vogels
und ritzen politische Karten
in das lebendige Herz der Natur.

(3)
Höre, Geliebte—
komm zu mir an einem postmodernen Abend,
an dem wir nicht an den Dornen irgendeines „Ismus“ bluten.
Wo das Vermilion auf deiner Stirn
und das stille Zeichen meiner Sajda
aus derselben Quelle der Menschlichkeit trinken werden.
Denn die Liebe allein ist die wahrste Religion—
die Religion, die den Menschen lehrt,
ein Vogel zu werden:
frei, furchtlos und vollkommen rein.

(4)
Die Wirklichkeit ist seltsam, nicht wahr?
Mitten im mechanischen Wald dieser Stadttürme
suchen die Vögel weder Moschee noch Tempel;
sie suchen nur
einen einzigen Baum des Vertrauens—
um für einen Moment zu ruhen
unter dem müden Schatten
der Menschheit des einundzwanzigsten Jahrhunderts.


Dr. Musharraf Hussain và Thi Lan Anh Tran



 

READ MORE - KHÚC TỤNG CA CHIM TRỜI: MỘT CÁI ÔM NGUYÊN SƠ VƯỢT QUA MỌI BIÊN GIỚI - Authors: Tiến Sĩ Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India. & Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

NGÔI NHÀ CỔ BÊN DÒNG Ô LÂU - Bài: Hoàng Thư Uyên - Ảnh: Nguyễn Hải

Dòng Ô Lâu huyền thoại trước khi hòa mình vào đầm phá Tam Giang rộng lớn đã để lại bên mình một không gian ấn tượng: Hội Kỳ – ngôi làng cổ lưu dấu nhiều giá trị văn hóa.


Làng Hội Kỳ bên dòng Ô Lâu

Có lẽ sẽ là thiếu sót khi đề cập đến vùng đất miền Trung mà không gợi nhớ cuộc hôn nhân lịch sử giữa nàng công chúa nhà Trần – Huyền Trân với vị vua Champa Chế Mân vào đầu thế kỷ 14 (năm 1306). Sau cuộc hôn nhân này, châu Ô và châu Lý của Champa nhập vào lãnh thổ nước Đại Việt như một món quà sính lễ với tên gọi châu Thuận và châu Hóa – vùng đất Quảng Trị và Thừa Thiên Huế hiện nay. Giữa 2 miền đất, dòng Ô Lâu tự xưa đã như là ranh giới của tự nhiên, của khu vực hành chính cho đến thời hiện đại, và còn là ranh giới của những vùng văn hóa, của giọng nói, của tập quán sinh hoạt… Là ranh giới, nhưng chính bản thân nó lại là con đường nối kết, từ văn hóa của bộ phận người cư trú trên vùng bán sơn địa ở thượng nguồn tới văn hóa của làng xã nông nghiệp, của những làng nghề truyền thống, và của những cộng đồng cư dân sinh sống trên mặt nước. Những địa danh như Hội Kỳ, Câu Nhi, An Thơ, Hưng Nhơn, Phú Kinh, Văn Quỹ… phía tả ngạn; hay Phước Tích, Mỹ Xuyên, Ưu Điềm, Phò Trạch, Vân Trình, Thế Chí… ở hữu ngạn, đều là những danh hương lưu dấu làm nên hình ảnh của một miền di sản.

Chân dung làng cổ…

Nằm trải dài chừng 1km bên dòng Ô Lâu, với chiều rộng khoảng 0,5km, Hội Kỳ (xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) là ngôi làng có diện tích khá khiêm tốn với hơn 100 hộ, lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo.

Ngược dòng lịch sử, sau cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông vào năm 1471, vị khai canh của làng đã lựa chọn mảnh đất bồi tụ phù sa bên khúc quanh của dòng sông để làm nơi dừng chân, đặt tên là Hội Kỳ. Ngôi làng từ ấy luôn hướng mặt về phía dòng nước như nguồn sống, lấy lũy tre ngà làm thành trì, mở những ngõ xóm hình xương cá về phía ruộng đồng mặt sau như hậu phương vững chắc.


Đình làng Hội Kỳ


Từ buổi đầu, thập nhị tông phái (12 dòng họ) của làng như Nguyễn, Nguyễn Văn, Dương Quang, Dương Văn, Trần, Ngô, Nguyễn Đức… đã cùng nhau vỡ đất khai hoang, chọn nghề nông làm sinh kế. Trải qua hơn 500 năm, làng Hội Kỳ có đầy đủ các thiết chế văn hóa tín ngưỡng đình, miếu, nhà thờ tộc họ, tất cả đều hướng mặt ra bờ sông. Đình làng là nơi dân làng tổ chức nghi tiết xuân thu nhị kì hàng năm, là nơi trao truyền văn hóa truyền thống với các lễ tục, lệ làng. Bên cạnh đó, những ngôi nhà thờ họ là nơi lưu giữ các văn bản gia phả, sắc phong, văn sớ cúng tế, nơi cố định nề nếp, gia phong của dòng họ. Đặc biệt, trong không gian của làng, khoảng đất phía sau khu vực cư trú hiện còn lăng tẩm của bà phi Dương Thị Ngọt – người con tài sắc của làng, vị cửu giai tài nhân – phi tần của vua Thành Thái – vị vua thứ 10 của triều Nguyễn.

Làng Hội Kỳ nhỏ, hẹp, nhưng ẩn mình bên trong không gian ấy lại là cảnh sắc trữ tình với hệ thống di sản văn hóa đồ sộ được hun đúc qua nhiều thế hệ.

… với những nốt trầm mộc mạc

Trong một chuyến khảo sát vào năm 2014, ông Kitani Kenta, chuyên gia thuộc Viện Di sản Thế giới của UNESCO, đại học Waseda, Nhật Bản đã từng nhận xét “… nhìn chung, các cung điện ở Huế không đạt độ tinh xảo, chi tiết như những ngôi nhà rường ở Hội Kỳ”. Sự tinh xảo và chi tiết ấy đến từ bàn tay tài hoa của những người thợ mộc ở Quảng Trị, vốn là những kíp thợ xây dựng nhà rường nổi tiếng ở miền Trung.

Có khoảng hơn 20 ngôi nhà rường có tuổi đời hàng trăm năm ở làng Hội Kỳ. Kết cấu của chúng là dạng 1 gian 2 chái (phương đình/ nhà bánh ú), 3 gian, hoặc 3 gian 2 chái. Bộ rường nhà được làm từ gỗ mít, liên kết với nhau bằng các ngàm, mộng, nêm, chốt mà không dùng đinh, ốc, vít, dây néo hay bất cứ chi tiết nào làm bằng kim loại. Cột được đặt trên các chân bằng đá đẽo thành hình khối vuông hoặc hình trái bí để chống ẩm, mối mọt. Mái nhà lợp ngói liệt, phía trước mở 18 lá cửa thượng song hạ bản, tường xây gạch, nền bằng đất nện, lát gạch hoa hoặc tráng xi măng. Nét tinh xảo trên những bộ rường nhà thể hiện ở chi tiết chạm khắc hình rồng, cù… các đề tài trang trí mang chủ đề tứ thời, bát bửu, những hình tượng hoa mai – chim hạc, hoa cúc – con bướm, chùm nho – con sóc.


Cổng làng đượm màu thời gian


Điển hình trong số những ngôi nhà rường ở Hội Kỳ là Tích Khánh Đường, được dựng vào năm Thành Thái nguyên niên (1889) bởi ông Dương Văn Vĩ – vị chánh tổng tổng An Thơ dưới thời Nguyễn. Ngoài lối kiến trúc đặc trưng, ngôi nhà này có những vật dụng như sập gụ, tràng kỷ, tủ chè, cùng với hoành phi, câu đối được bố trí hài hòa, tôn trí lẫn nhau. Đây thực sự là một tác phẩm nghệ thuật về kiến trúc, sắp đặt.

Đến với Hội Kỳ, chúng ta cảm nhận một cách trọn vẹn vẻ đẹp của những ngôi nhà rường nằm ẩn mình thấp thoáng trong các khu vườn được bao bọc bởi một vòng rào tạo bởi những cây chè Tàu luôn cắt xén phẳng phiu… Từ cổng ngõ, sau lối đi giới hạn bởi hàng cây là bức bình phong, bể cạn, hòn non bộ, khoảng sân nhỏ. Sắp bày nơi khoảng sân là những chậu trồng cây kiểng, vài giò phong lan được treo rải rác dưới mái hiên, 2 bên và sau vườn trồng cây lưu niên, hoa trái, cây gia vị.

Mang đầy đủ thuộc tính của một loại hình kiến trúc đặc thù, những ngôi nhà rường ở Hội Kỳ hiện lên trong mắt người quan sát với một vẻ gì đó e ấp, thầm kín và tĩnh lặng… Tuy thế, ta vẫn có thể cảm nhận được chất mãnh liệt, mạch sống ẩn tàng dưới vẻ hiền hòa ấy. Đây cũng là thế ứng xử rất thông minh của con người với môi trường sống.

Hoàng Thư Uyên

Nguồn:

https://heritagevietnamairlines.com/


 

READ MORE - NGÔI NHÀ CỔ BÊN DÒNG Ô LÂU - Bài: Hoàng Thư Uyên - Ảnh: Nguyễn Hải

Ô LÂU HUYỀN THOẠI - Thơ Nguyễn Văn Trình

 

Cửa sông Ô Lâu. Ảnh từ  Facebook Cố Đô Huế

Ô Lâu huyền thoại

Nguyễn Văn Trình

              

Mãi cội nguồn Trường Sơn

ở độ cao chín trăm, lẻ năm mét

sông Ô Lâu kết duyên vùng châu thổ

Thuận Hóa một thời phân tranh   (1)

muôn đời sông vẫn chảy

từ Phong Điền tới Phước Tích làng cổ

đến Vân Trình

rồi đổ vào phá Tam Giang

Cửa Bắc dịu dàng đón nước nguồn sâu  (2)

Ô Lâu chảy giữa hai làng:

“Bên ni Phước Tích, bên kia Hội kỳ”  (3)

Phước Tích làng cổ tích di  (4)

Hội Kỳ “làng cổ” đợi còn ghi danh  (5)

 

Sông uốn lượn, quanh quanh xứ sở

dải lụa mềm vắt giữa hai quê

phù sa bồi đắp đôi bờ uyên ương

thêm xanh thẳm nương ngô, bãi đậu

nuôi dân làng năm tháng

qua ngặt nghèo giáp hạt

sắn, khoai, mì, bắp… đợi mùa ấm no

 

Dòng Ô Lâu đong đầy nỗi nhớ

ngàn năm bền bỉ xanh bờ rêu phong

ôm vào lòng Hải Lăng đất mẹ

nghe ray rứt

khúc sông quê huyền thoại

hoang hoải chiều nhạt nắng bâng khuâng

sông còn xanh, hoàng hôn còn tím

hạt nắng cuối ngày ngọt lịm tàn phai…

 

Bên bờ sông

rặng tre dài còn thức

lặng ngắm những con thuyền xuôi ngược

đưa nhau về bến xưa

sông miệt mài ngày nắng ngày mưa

buồn vui trầm tích đời sông

ưu tư chớp bề mưa nguồn

có ai hiểu hết, nguồn cơn cuộc đời …?!

 

Sông cứ chảy đôi bờ bồi lỡ

Phước Tích, Hội Kỳ bên nhớ bên mong

bên sông hoa rụng, còn vương lối về

tình quê bến đợi

bến chờ sông thương

tháng năm ngày đục, ngày trong

chìm trong mê khúc

bồng bềnh thuyền trôi

chạm vào nỗi nhớ bồi hồi

Ô Lâu huyền thoại, đắp bồi mưu sinh…

 

                          Ô Lâu, 2018

                               N.V.T

                             

1) Thuận Hóa: Vùng đất dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, còn ở Đàng Ngoài là vua Lê, chúa Trịnh.

2) Nước nguồn sông Ô Lâu chảy vào cửa phía Bắc phá Tam Giang trước khi đổ ra Biển Đông.

3) Câu nói dân gian của vùng đất nơi con sông Ô Lâu chảy qua.

4) Làng Phước Tích được công nhận xếp hạng di tích là làng cổ của Việt Nam.

5) Làng Hội Kỳ cũng là một làng cổ, nhưng chưa được công nhận xếp hạng di tích làng cổ Việt Nam.

READ MORE - Ô LÂU HUYỀN THOẠI - Thơ Nguyễn Văn Trình

BẦY ÉN MÙA XUÂN - Hoàng Công Danh



BẦY ÉN MÙA XUÂN


Ai đã từng sinh ra và lớn lên ở một làng quê hẳn sẽ không thể quên cái trò bẫy én vào mỗi độ xuân về. Ngày xưa tôi là một đứa bé mê chim chóc, mê đến nỗi bây chừ thèm mình là con chim én ấy, để được bay về cánh đồng quê hương và tình nguyện mắc vào một cái bẫy ai đó đã đặt chờ đợi.

Con nít làng tôi lớn lên như thế! Lớn lên từ cánh đồng mỗi mùa ban tặng một thứ sản vật, có cái cầm được có cái không, nhưng tất cả đều đáng yêu đáng nhớ. Mùa hạ cho thóc trảy vỏ bóc ra gạo trắng. Mùa thu toóc rạ đốt lên khói đồng xoáy vào mắt, cay! Mùa đông có lũ cá lội ngược nước chảy vào những chiếc nơm đặt ở cống. Còn mùa xuân thung thăng bầy én về, thung thăng lũ trẻ đi bẫy én... Dường như mùa xuân, cánh đồng dành riêng cho lũ con nít thì phải?


Làng tôi là khuông đất nhỏ, không sông không biển, được bao quanh bởi ba làng khác; chính vì thế mà ngày nhỏ tôi lọt giữa những ngọn lúa bờ đê và không định vị được phương hướng. Đến một hôm mặt trời chỉ cho tôi hướng đông hướng tây ứng với chân trời nó mọc và lặn. Mùa xuân năm ấy bầy chim én bay về giúp tôi biết được hướng bắc hướng nam theo chiều bay của chúng. Tôi cảm ơn loài chim mùa xuân này, én đã dạy cho tôi bài học về sự định hướng quê nhà, để đi xa tôi không đánh mất mình giữa bốn chiều quỹ đạo mông lung. Cũng nhờ cái hướng đàn chim đó mà tôi nhận ra làng mình như một cái bẫy dang tay đón lấy mùa xuân, ôm chặt những đứa con tha hương trở về, như tôi hôm nay.

Nhà tôi hướng ngõ về phương nam và quay lưng về phương bắc. Vào một ngày xuân thuở trước, tôi nghe sau lưng nhà những tiếng sột soạt vờn gió, chạy lui xem thì thấy mấy cánh én nhỏ về đậu trên bờ ruộng. Rồi chúng bay vút theo hướng nam sà xuống cánh đồng trước mặt nhà. Mấy tấm ruộng ngày giêng đang xanh thắm hệt một tấm áo choàng, bỗng nhiên được đơm thêm những chiếc cúc đen nhỏ. Và những chiếc cúc én ấy như muốn báo với người làng một mùa ấm êm sắp tới.

Én đầu mùa bạo dạn, chúng dừng lại rất lâu trên đồng làng, vỗ cánh lượn đi lượn lại trên đám lúa non. Lúc đầu một vài con, sau là từng đàn, cứ thế chúng kéo nhau về làm dạ hội chính giữa đồng làng. Mắt lũ trẻ rói lên theo nắng xuân để chuẩn bị chơi một trò mới mà chỉ độ này mới có. Cái bẫy én rất đơn giản, đứa nào cũng có thể tự làm được. Lấy đoạn tre ngắn, một đầu chẻ ra rồi nêm vào giữa nét chẻ một hòn đá để tạo thành cái nạng chãng ba. Dùng sợi chỉ buộc qua một cái vòng thòng lọng. Mồi bẫy én là ruồi, ruồi đen nhỏ hoặc ruồi xanh càng tốt. Bắt ruồi xong thì cột vào giữa cái vòng dây chỉ thòng lọng đó. Nhớ là phải dùng chỉ mảnh để én không phát hiện ra. Cắm bẫy giữa đồng, để cái chặng mồi cao hơn ngọn lúa chừng một gang tay. Én về ngang đồng thường bay sà sà thấp ngang mặt ngọn lúa để tìm mồi, thế nên phải đặt bẫy sao cho đánh lừa được chúng. Giữa một cánh đồng mênh mang lúa xanh, tự dưng nổi lên chấm đen con ruồi mồi, lũ én tranh nhau bay đến đớp và cái dây thòng lọng thắt lại.

Hôm thằng Cưng làm bẫy, mấy đứa tôi ngồi quanh xem nó vót tre buộc chỉ, rồi về nhà làm theo. Con nít làng tôi chơi với nhau và học nhau là chính, tất cả những trò chơi hay kinh nghiệm làm đồng đều thế cả, một đứa biết thì tất cả biết, không giữ riêng mình làm gì.

Làm xong bẫy và nơm mồi ruồi, chúng tôi mỗi đứa cầm theo độ dăm cái bẫy ra đồng, chia nhau vùng ruộng và cắm bẫy. Cắm xong thì kéo nhau vào trong ngõ đứng chờ. Nắng rói mấy tia hồng hồng xuyên qua lớp sương mai, đàn chim én bay ngang qua, lượn đi lượn lại trên những chiếc bẫy. Khi một con én mắc vào chiếc bẫy nào đó là cả lũ con nít lại réo toáng lên cùng nhau chạy ra xem.

Chúng tôi lấy bẫy én làm trò để chơi cho vui là chính. Thế nên mỗi khi có én mắc bẫy thì gỡ ra, chuyền tay nhau mỗi đứa nắm giữ một lúc như cầm lấy cái may mắn đầu năm, xong rồi thả ra cho chúng bay đi. Cánh én được trả tự do vút thẳng lên bay lượn mấy vòng mừng rỡ. Cũng nhờ sự độ lượng nhân ái ấy mà năm nào vào mùa xuân én cũng về nhiều; bởi chúng quý con nít làng tôi, chúng biết lũ trẻ sẽ không nhẫn tâm giết hại nên chẳng ngại ngần lấy mình ra làm trò cùng vui.


Những thằng Cưng, thằng Hụ, thằng Tí, con Xíu và tôi ngày ấy giờ lớn cả rồi. Bầy én năm xưa chắc cũng ít về lại, có con đã chết và con nào còn sống chắc cũng già lắm. Nhưng mùa xuân thì cứ trẻ mãi, mỗi năm đúng hẹn lại về. Trong cái miên man suy tưởng ấy, ai như tôi đang khóc!

Có một cánh én vừa vút ra từ ngực tôi, vượt muôn ngàn dặm trở về làng. Và tôi nghe từ phía cánh đồng trước nhà mình những tiếng reo vui của lũ con nít.

HOÀNG CÔNG DANH

ĐỌC THÊM

Mạn đàm về thơ
Xuân quê, thơ
Nỗi đau Quảng Trị, thơ
NẮNG QUÊ, tùy bút
READ MORE - BẦY ÉN MÙA XUÂN - Hoàng Công Danh

NHỚ MẸ MỖI LẦN “RÚT RƠM” - Lời bình của XUÂN LÊ về bài thơ "RÚT RƠM" của tác giả VŨ HÙNG

  

Nhà giáo-nhà thơ Vũ Hùng

 

RÚT RƠM


Ra vườn rút ít bó rơm

Rưng rưng nhớ mẹ nấu cơm mỗi chiều

Khói lam mấy sợi hắt hiu

Quyện trên mái rạ liêu xiêu dáng gầy

 

Thẫn thờ ngắm áng mây bay

Ngỡ như tóc mẹ dưới cây ngâu già

Nhớ tay mẹ bổ cau ba

Trầu têm cánh phượng người ta cậy nhờ.

 

Lấy chồng từ thuở còn thơ

Còng lưng gánh cực bơ vơ chợ đời

Cháu con giờ được thảnh thơi

Mẹ lâm trọng bệnh về trời đã lâu

 

Mẹ đi bỏ lại giàn trầu

Và nguyên cả một vườn cau xanh rờn...

Ra vườn rút ít bó rơm

Hoa cau rụng trắng hương thơm ...

Quặn lòng!

 

                   VŨ HÙNG

 

Lời bình:

 

NHỚ MẸ MỖI LẦN “RÚT RƠM”

 

Tác giả Vũ Hùng sinh năm 1959. Anh quê Bình Định. Tôi được biết thông tin về anh vỏn vẹn chỉ có thế. Trong một buổi chiều ngồi lang thang trên mạng, tôi đã đọc được bài thơ Rút rơm của anh. Bài thơ được anh chia sẻ trên một trang thơ Facebook. Tôi đọc qua bài thơ phù hợp với chủ đề mà tôi đang thực hiện. Nó thật sự có cảm xúc nên tôi xin có đôi dòng cảm nhận và chia sẻ.

 

Bài thơ lục bát không cầu kỳ nhưng rất mượt mà, với ngôn từ bình dị mà nội dung chứa đầy cảm xúc. Bài thơ là những nỗi niềm, tâm tư, tình cảm mà tác giả gửi gắm đến người mẹ quá cố của mình. Tác giả thể hiện tình cảm ấy qua hoạt động “rút rơm” thật đặc biệt. Rút rơm là một việc quá đỗi đời thường đối với những người sống nơi làng quê Việt Nam ngày xưa, cũng là một phần ký ức của một thời ấu thơ mà tôi vẫn còn lưu giữ trong tâm.

 

Trong thời buổi công nghệ hiện đại, những hình ảnh về nhà lá, mái tranh, cây rơm, lu nước, gáo dừa dường như đang dần xa rời cuộc sống của thế hệ trẻ. Chúng dần trở thành những “đặc sản” khó tìm. May mắn thay, thế hệ tôi vẫn còn được thưởng thức cái món đặc sản “rút rơm” ấy.

 

Mở đầu bài thơ, qua hoạt động rút rơm, tác giả tưởng nhớ mẹ mình. Rút rơm ở đây có thể để cho bò ăn hoặc nhóm bếp. Những ký ức về mẹ ngày xưa bất chợt ùa về trong tâm trí anh, lòng anh rưng rưng, ngập tràn nỗi nhớ thương da diết:

 

“Ra vườn rút ít bó rơm

Rưng rưng nhớ mẹ nấu cơm mỗi chiều

Khói lam mấy sợi hắt hiu

Quyện trên mái rạ liêu xiêu dáng gầy”

 

Hình ảnh người mẹ già tần tảo sớm khuya, lưng còng, tóc bạc, mắt mờ, chân yếu, với dáng hao gầy, liêu xiêu thật thương biết bao. Giờ mẹ đã đi xa cõi tạm đầy gian lao này rồi, anh chỉ còn biết mơ và nhớ thương mẹ mà thôi. Cho nên anh mới:

 

“Thẫn thờ ngắm áng mây bay

Ngỡ như tóc mẹ dưới cây ngâu già”

 

Giờ còn biết tìm đâu dáng mẹ ngồi bổ cau ba để têm trầu cánh phượng mà người ta hay cậy nhờ nữa. Có lẽ mẹ cũng khéo tay trong việc têm trầu, nên ngày xưa nhiều người đã nhờ mẹ làm giúp. Thật vậy:

 

“Nhớ tay mẹ bổ cau ba

Trầu têm cánh phượng người ta cậy nhờ.”

 

Đời mẹ đã chịu biết bao cơ cực. Mẹ lấy chồng sớm, phải bươn chải với những vất vả, lo toan, tần tảo trong bơ vơ, một mình gánh cả chợ đời. Mẹ không quản gian lao, khó nhọc, tháng ngày dãi nắng dầm sương để nuôi con khôn lớn nên người. Rồi đến lúc cháu con có chút ổn định, tưởng mẹ sẽ bớt vất vả, an vui trong sự sẻ chia của con cháu. Nhưng nào ngờ mẹ lại lâm bạo bệnh, rời bỏ tất cả mà ra đi. Lòng anh xót xa, thương mẹ quá:

 

“Lấy chồng từ thuở còn thơ

Còng lưng gánh cực bơ vơ chợ đời

Cháu con giờ được thảnh thơi

Mẹ lâm trọng bệnh về trời đã lâu”

 

Những tháng ngày cơ cực đã âm thầm lấy đi sức lực của mẹ, khiến mẹ ra đi đột ngột: “Mẹ lâm trọng bệnh về trời đã lâu”. Mẹ về trời đã lâu, để lại biết bao thẫn thờ, trống vắng và nhớ thương nơi con cháu. Con đã trưởng thành, cháu đã lớn khôn như trầu phủ xanh giàn, cau vươn cao mươn mướt ngoài vườn, tất cả đang chờ tay mẹ hái, têm để khoe với xóm làng về những lá trầu xanh, miếng cau tươi đẹp mơn mỡn. Thế nhưng giờ đây, mọi thứ không còn như anh mong muốn, mẹ đã ra đi mãi mãi:

 

“Mẹ đi bỏ lại giàn trầu

Và nguyên cả một vườn cau xanh rờn...”

 

Mẹ đã đi xa, bỏ lại vườn cau, giàn trầu. Tất cả giờ chỉ còn trong miền ký ức với bao kỷ niệm thân thương. Anh đã sớm rời vòng tay mẹ, giờ đã trưởng thành, nhưng hình ảnh của mẹ, của quê hương vẫn khắc sâu trong tim anh. Về thăm quê lần này, khi anh ra vườn rút rơm, ký ức về mẹ chợt hiện về, hoa cau rụng trắng tỏa hương ngát, nhưng bóng mẹ hiền thì giờ biết tìm đâu nữa. Anh nhớ thương mẹ diết da, quặn thắt cõi lòng:

 

“Ra vườn rút ít bó rơm                                                          

Hoa cau rụng trắng hương thơm…

Quặn lòng!”

 

Bài thơ chất chứa biết bao cảm xúc. Tôi đọc mà nước mắt dường như cũng rươm rướm. Những hình ảnh ấy thân quen với tôi, gợi nhớ tuổi thơ bên mái tranh nghèo, mẹ cha, trong làn khói bếp thơm ấm mỗi chiều về. Những cây rơm, vườn cau, giàn trầu là ký ức đặc trưng của miền quê, in đậm trong tâm trí với biết bao kỷ niệm thân thương.

 

Cảm ơn tác giả Vũ Hùng đã đưa tôi trở về với những ký ức xưa, trong những phút giây xúc động thật sự. Chúc anh và gia đình luôn nhiều niềm vui, sức khỏe và tiếp tục sáng tác những vần thơ hay, giàu cảm xúc để chia sẻ với người đọc.

 

 Bình Dương, Mùa Thu tháng 08/2024

XUÂN LÊ

READ MORE - NHỚ MẸ MỖI LẦN “RÚT RƠM” - Lời bình của XUÂN LÊ về bài thơ "RÚT RƠM" của tác giả VŨ HÙNG