Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Huy Uyên. Show all posts
Showing posts with label Huy Uyên. Show all posts

Tuesday, April 26, 2022

Thi ca Thi nhân: HUY UYÊN - Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

 



Tên thật là Lê Sinh

Nguyên quán Quảng Trị

học sinh trường Nguyễn Hoàng

trình độ Đại Học Văn Khoa Huế

Sau năm 1975 làm HDV/DL Freelance

có thơ đăng trên Nguyệt san Văn trước 75

và các web&blog Văn Học Hải Ngoại

*

Đọc trọn vở Kịch Thơ của Nhà Văn Hoàng Công Khanh là "Bến Nước Ngũ Bồ" trên hai trăm trang 

giấy bây giờ chỉ còn sót lại trong đầu vài câu:

8 hướng 10 phương nhớ?

không biêt nhớ em thì nhớ ai?

-

yêu em vì bảo rằng em đẹp

nên mộng binh đao vẩn thái bình 

[ thơ Hoàng Công Khanh ]

*

Có lẽ Huy Uyên là một nhà thơ ở vào tuổi sáu bó gập, nhưng sức sáng tác vô cùng phong phú và chưa từng bíệt mỏi, y như thơ Bùi Quang Đoài:

tôi đã từng yêu từng chán nản

chưa bao giờ thấy nguội con tim

chưa bao giờ thỏa mãn

khát khao em tôi vẫn mải công tìm.

[ thơ Bùi Quang Đoài ]

Nhà Thơ Huy Uyên sau năm 1975, vì tôt nghiệp Đại Học Văn Khoa có trình độ Anh Ngữ khá cao, khá vững nên được chọn hành nghề Hướng Dẫn Du Lịch. 

Từ những miền đất địa đầu quê hương đất nước cho đến những vùng cực nam, những vùng biển đảo, anh đều  đi qua cả, đi tới đâu anh làm thơ tới đó, y như cụ Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc và tiên sinh ghi chép lại mấy trăm bài thơ trong Bắc Hành Thi Tập.

Thơ Huy Uyên làm rất nhiều và rất khỏe, toàn là những địa danh hữu tình và phong cảnh kỳ quan trên toàn quốc, và những kỷ niệm "Quán bên Đường" lất phất như những hạt mưa đầu mùa thu.

-

tháng năm chim én bay về phố

bao lâu ghềnh đá  - đĩa sương mang

Quán Cau đợi người bên đầm Ô Loan

về lại Xuân Đài mà nghe lời gió

-

sao mai sao hôm sáng phố Tuy Hòa

hoa đầu thềm nở căng lồng ngực

tháp Nhạn ngàn năm mòn cổ tích

lung linh chiều điệu múa Shiva

-

em về mà có ghé sông Ba

La Hai tháng ba ngập đồng lúa chín

Đá Bia một đời câm nín

đợi người về đẹp nắng Đông Hoa

[ Một ngày với Tuy Hòa ]

*

đêm qua đi ai lầm lũi bước

Xiên Khoang bóng người đổ vạt dài

đèn cao trên cây thao thức

đợi em về cầm giữ giêng hai

-

cuối phố và con đường buồn tênh

sương tan theo từng đời lá

nhớ đôi mắt ai hình như Huyền

đã lâu rồi em ở hoài xứ lạ

-

hỏi em qua đi thời xuân sắc

tháng năm phơi nắng tuổi về chiều

thôi xưa rồi ai quên mắt biếc

ai rưng rưng theo nụ hôn yêu

{ Giêng Hai Người Về ]

*

bao năm rồi Út qua xứ lạ

bỏ quê nghèo mái khói chiều hôm

bỏ thuyền bỏ sông tháng ngày tôm cá

chim uyên trên cành

lẻ bạn kêu buồn

sáng chiều tôi ngơ ngác đường cái -quan

đợi Út về mà xe không ngừng lại

trong quán rượu nghèo gió lùa mây giăng

biền biệt trôi đâu ghềnh cuối bãi

[ Thư Quê Chưa Gửi Ut ]

*

Đọc thơ Huy Uyên là cả một trời quê hương đất nước, từ đồng cỏ lá cây, từ dòng sông con suối, từ rừng đến rú, từ đồi tới núi, thoang thoảng nhạc Văn Cao "về đây khi gió mùa thơm ngát, ơi lũ chim giang hồ". Thơ đương đại Việt Nam, sau 1975  nhà thơ Huy Uyên là một nhà thơ có đầy đủ tầm vóc chiều ngang chiều dầy và chiều cao xứng đáng với danh hiệu thi sĩ.


Phụ lục:
Chùm thơ Huy Uyên

Một lần về Sài-Gòn

Vây quanh trái tim bão dữ

Cuộc tình chia biệt bao năm

H.xưa một thời mộng-ảo

Bơ vơ trời đất Sai-Gòn.

Tôi chong mắt nhìn quanh tôi

Đã mất em từ dạo đó

Tình em phố rộng sông dài

Trên cao ngọn đèn vàng võ. 

Nước mắt liệm-khâm quá-khứ

Hoang trôi quay lại Sài-Gòn

Mưa, mưa ầm ào thác đổ

Quên thôi ngày cũ nụ hôn.

Tôi về ngày tháng ngậm tăm

Kể từ đêm ta từ-biệt

Nhớ không thôi đã mười năm

Trời Sài-Gòn buồn da-diết.


Ở sân bay em không nói

Lúc ta lặng im cầm tay

Em Pennsyl. tôi ở lại

Xa bỏ cuộc tình hôm nay.

Em, tôi chiếc lá cuối cùng

Ngậm ngùi Sài-Gòn mưa nắng

Giữ hoài nỗi nhớ, đợi, mong

Đi trọn một đời xa vắng. 

Chiều sông Sài-Gòn chầm chậm

Trôi nghiêng lỡ hẹn ngày về ...

Huy Uyên

 Đợi mùa thu về 


Ở đó mùa thu chưa về

Chiếc lá âm thầm rơi rụng

Bỏ lại trong vườn nụ cười

Cầm giữ trong tay khoảng lặng.

Em đi mang theo con tim

Hát khúc ca buồn con phố

Gió có quay lại bên em

Mắt môi buồn chi lắm thế!

Thiếp mê một đời giấc ngủ

Xa nhau có làm em buồn

Sông xa chảy hoài nỗi nhớ

Bên đường dấu xưa bước chân

Đà-Nẵng lá thu chín vàng

Mây bay lang thang trú ngụ

H.xưa cổ-tích tháng năm

Em, tôi giấc mơ loài quỷ.

Phải mắt em buồn bên cửa

Có đợi chờ không thu về?

Cuộc vui trốn miền nhung nhớ

Bia mộ riêng tôi ngày về.

Em có về không tôi chờ

Ngoài trời sắc thu vàng lá

Con đường nhớ dấu chân xưa

Đâu đây âm vang tiếng gọi.

Nhớ người !!!

Huy Uyên 



BẾN ĐÁ CHIỀU QUÊ


Em bâng khuâng trên cầu Bến Đá
Dòng sông êm chảy giữa làng xưa
Chiều mây bay từng dải lụa
Tóc cũng bay theo
người chửa thấy về .

Ký-ức tôi xóm chợ quê nhà
Nước chia sông hai bờ hoang hoải
Tháng ngày mong đợi chiếc xe qua
Cầm tình gởi nước trôi dòng chảy .

Đường cái-quan chuyến xe chở gió
Những lần em lặn ngập bên sông
Ai gởi cho ai niềm thương nhớ
Dồn mãi nỗi đau xa xót tận lòng .

Cây đa một đời soi bóng sông Ô
Những lần em đi dưới trời đầy nắng
Phía sau sân ga đợi chuyến tàu về
Lữ-khách "cầm-tư-lương" chôn bóng .


Bao năm ngọn đèn dầu le lói
Ba-lô, áo bạc tiễn người đi
Tháng tám thu quê hương đạn lửa
Những chiều xe tang chở xác ai về.

Chùm hương xưa ngát một loài hoa
Trái sầu đậu trên vai dịu ngọt
Áo em xanh màu xanh thiên-nga
Để bên người
"chiều đi không hết" .

Lộc-vừng cạnh ngã ba hàng quán
Ngày xưa tôi những buổi dừng chân
Em quanh năm sắc màu áo tím
Buổi chợ mai "phiên" em chân bước vội vàng .

Em đội trên đầu rau đắng, măng rừng
Dạo quanh làng tiếng rao ngày trước
Ngược xuôi theo mây ngủ tím hoàng-hôn
Ngày đó tối trời
tội cho em về nhà có kịp !


Bao năm rồi em còn thao thức
Có quên xưa nắng lửa quê nghèo
Con đường bên Ô-giang xuôi chảy
Dấu chi tôi
dầu dãi một tình-yêu .

Buổi em đầy nước mắt chia tay
Thuyền người chở ai ra phía biển
Quạnh quẻ tháng ngày em mãi trông theo
Đã xa chôn mối tình của lính .

Người lính cũ không quay về Bến-Đá
Dõi tấc lòng mù mịt truông mây
Khúc sông xưa bây giờ còn đó
Dài chi thêm nỗi nhớ đến bây giờ ...

     Huy Uyên (12-8-2016)

READ MORE - Thi ca Thi nhân: HUY UYÊN - Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

Sunday, February 20, 2022

KÝ ỨC QUÊ NHÀ - Tùy bút - Lê Sinh

Nhà thơ Huy Uyên (Lê Sinh)

 

KÝ ỨC QUÊ NHÀ 

Tùy bút

Lê Sinh

 

 1- Ở giữa làng là xóm chợ, bên cạnh đường quốc lộ vắt ngang, mùa đông về trên những chòm hoa sầu đông đứng lặng lẻ.. Chiếc cầu sắt bắc qua sông như nhón chân đứng nhìn một chiếc cầu xi-măng bên dưới đã gảy nhịp từ thời Pháp thuộc. Con sông Ô Khê hiền hòa chia hai thôn, nước êm đềm chảy qua đôi bờ yên ả. Những bờ tre làng rợp bóng soi mình trên mặt nước trong xanh.

 Ký ức trong tôi với những tháng ngày hai buổi đi về, lòng cứ nhớ mãi về những mùa đông làng xóm chìm ngập một màu trắng xóa vì cơn lụt. Những chiếc thuyền xuôi ngược giữa “đại dương” nước mênh mông, nước bạc màu đến bất ngờ, nước tuôn vào sân, vào nhà rộn vang những tiếng bì bõm khi lội trong nước, làng trên xóm dưới gọi nhau í ới, mùa xuân đã đến ngoài hiên và nước vẫn ngập đầy vườn. 

 Đâu dó tiếng nghé ọ trên cánh đồng vàng mùa bội thu, tiếng hò đối đáp rộn ràng trong mùa gặt, tiếng kẻo kịt của những chiếc đòn gánh nhún nhảy trên những đôi vai người nông phu. Những bát nước chè xanh bốc khói bày ra trên sân với đêm đập lúa, những ông già rung rinh chòm râu bạc khề khà nhấp chén rượu đầu mùa.

 Đêm treo lơ lửng ngọn trăng trên đầu, trăng bàng bạc khiến không gian càng tỉnh lặng, trăng soi sáng vườn khoai đang bắt đầu lên ngọn, vườn chè xanh biếc dưới ánh trăng dịu hiền, những bờ tre trở mình rên kèn kẹt, thoảng dưới ánh trăng là tiếng hò giả gạo khoan hụi dìu dặt rộn niềm vui ngày mùa. Làm sao nói hết cái lâng lâng giữa đêm trăng qua làng! quá mường tượng, kỳ ảo.

 (Con đường đó tôi và em từng dìu bước nhau đi biết bao lần, con đường của kỹ niệm ngàn đời ẩn nấp trong tim đứa con trai thời mới lớn. Lời thề xa xăm: Mai sau nếu có xa nhau cũng không quên con xóm cũ dòng sông xưa với chiếc cầu đi về hai xóm. Thế rồi em đã ra đi, đi biền biệt với một khung trời đầy kỹ niệm cháy bỏng trong tôi, lời thề hẹn đó đã vội vàng chôn ở nơi con dốc đầu làng khi hai đứa cầm tay từ biệt và đã ở lại đó vĩnh viễn. Tôi cũng ra đi ôm theo mối tình đầu đau đớn, đứng ngắm nhìn quá khứ chưa một lần trọn vẹn, hỏi em giờ này còn nhớ gì không, quê hương hai tiếng nặng lòng cho đến lúc nhắm mắt, quê hương với những sớm mai, những chiều về tay trong tay kể nhau nghe những chuyện vui buồn, những ước mơ thời trẻ dại. Lần đầu gặp em e ấp dưới chiếc nón lá, áo dài màu tím với nụ cười long lanh dưới nắng chiều, hoàng hôn rãi cùng khắp xóm làng, em đã mang đến cho tôi cái ngày mà cuộc đời bắt đầu biết vui buồn chờ đợi.) 

Chiến tranh đã đày ải làng quê với ngày đêm đì đùng tiếng súng, chiến tranh đã cướp đi tháng năm bình lặng, yên ả. Trai tráng lên đường để lại những cánh đồng trơ gốc rạ, trâu bò không người cày lơ lửng bước trong đêm.

 Con đường qua làng nhiều lần bị cắt chia bởi đạn bom và chiếc cầu cũng không tránh khỏi nỗi đau số phận, đã sụm xuống giữa dòng, lỡ nhịp đôi bờ hai thôn. Những tiếng khóc và những chiếc quan tài mang dấu hiệu binh lửa cứ trở về đốt cháy thân xác quê hương, những mái  tranh ngập chìm khói lửa, chiến tranh đi qua bỏ lại xóm làng xơ xác gảy đổ, giáo đường trơ nóc, đình chùa ngã nghiêng.

 

 Những trảng cát bây giờ đã lấp đầy những ngôi mộ nằm san sát, những hàng Bạch đàn mọc thẳng tắp thay thế tre làng bị thiêu cháy, lớp lớp người đi không trở về, có người xác thân còn nằm lại đâu đó. Biệt ly và chia rời ngày một lớn dần thêm, xóm nhỏ bổng tiêu điều sau những cơn mưa bom bão đạn.

 Rồi người cũng quay về khi hòa bình trở lại. Trên bờ đê những trai tráng trong làng vai vác cày theo sau đàn trâu chậm rải bước, đồng quê lại rộn ràng tiếng cười tiếng nói sau mùa binh lửa, những cụ già lại khề khà chén rượu bên bầy con cháu vui đùa ngoài sân. Con đường về xóm dưới bây giờ đã được bắc qua sông một chiếc cầu chắc chắn thay chiếc cầu tre đã gảy nhịp từ lâu rồi, ngày tôi đưa em qua chiếc cầu này với bao rộn ràng của con tim mới lớn, em bảo giá mà hai ta suốt đời đưa đón đi về, thế rồi em bỏ đi mà không bao giờ quay lại.

 Sông xưa vẫn nước chảy hiền hòa, nuôi nấng đồng ruộng quanh năm, tre làng vẫn kẻo kẹt rung rinh trước gió, tre che mát cho đời người nông phu quanh năm lam lũ, trong vườn đã sum suê, rập rờn từng nụ hoa cà, hoa bí mang lại cho người niềm vui bình dị, những mùa đông đến sớm, bà con được ấm lòng với những củ khoai luộc hay những trái bắp ngô nướng thơm giòn, niềm vui ấm áp nhân đôi với tiếng hít hà phả ra những làn sương trắng trên đường đến trường. Thầy cô, bạn bè  đã trôi đi khắp bốn phương trời, mỗi người một đoạn đời riêng rẻ, có mấy ai quay về đúng trước mái trường xưa để ngậm ngùi với những tàn phá của ngày xưa cũ?

 Ở đầu làng là ga xép quanh năm phơi mình dưới trảng cát trắng xóa, nằm chờ những chuyến tàu qua hiếm khi dừng lại. vẽ đìu hiu trùm lên vài người khách lẻ lên xuống từ đầu hạ đến cuối đông, một mình đi, một mình về thui thủi, lòng lại nghẹn khuất với những hồi còi tàu kéo lên giữa không gian xám xịt . Tiếng còi như ứ nghẹn ở trong tim, ôi những tiếng còi tàu buồn bã trườn qua làng sao nghe đến não nuột. Ngày tôi tiễn em đi sân ga chỉ có hai người, tay trong tay bịn rịn nói lời chia biệt, hẹn hò, em nước mắt lưng tròng ngã lên vai tôi, chiếc khăn tay em thêu tên hai đứa lồng vào nhau nghẹn ngào đưa tay vẫy khi tôi làm người ở lại, con tàu bỏ đi mang theo em làm cho tôi thêm quạnh hiu tiếc nhớ. Ngày đó đã qua mất rồi .

 Cô đơn xưa hình như trở lại quanh đây, nơi đó tít mờ ánh sương mai, nơi lung linh nắng chiều rọi soi ngày đầu tôi gặp em, nụ cười rạng rỡ tỏa sáng quanh em, làm sao tôi nói hết nổi bồi hồi xao xuyến với một buổi chiều đầy kỹ niệm

 Em còn đó với hiện thân của một bóng hình miên viễn quanh tôi, vẫn dịu dàng với hai bàn tay vẫy, vẫn đong đưa từng nhịp bước, từng tiếng thở dài về một mối tình đến sớm đầy tràn niềm hạnh phúc nhưng cũng rất đỗi mong manh của thời trẻ dại.

 Ngày tôi đưa em qua chiếc cầu chông chênh, không lối nhỏ về nhà, em chợt im lặng níu giữ một mối tình vừa mới hái, hạnh phúc bàng bạc, sương khói, ngày em đi qua nhà tôi, bước chân không hề có tiếng động, dấu kín một mối tình. Em trong tôi cuộc tình đầu chứa chất bao đắng cay khốn khó.

 Tôi một mình biết bao lần quay lại nơi xưa tìm kiếm mối tình đầu dù trải qua những tháng năm dâu bể, ngược xuôi, em về một phương trời xa xăm nào đó để lại trong tôi ánh mắt nụ cười, điều đó đã theo tôi suốt đoạn đời còn lại, đã mang trong tôi dấu ấn đậm đà, hỏi em có còn nghĩ lại, hỏi em có còn nhớ về ảnh hình của thời xưa cũ, giấu trong tim hết cả thời mới lớn?

 Em đi rồi làng xóm bổng chìm khuất trong nổi buồn lặng lẻ, không gian u trầm trong sầu vạn cổ, những ước mộng ban đầu, đắng cay theo bóng hình em. Có thể trong tôi vẫn mãi giữ những kỹ niệm buồn, có thể trong em vẫn ẩn chứa hình dáng quê hương, nơi đó được đặt tên là nơi trú ngụ của tình yêu.

 Có chăng mong một lần quay lại, trở về bên sông cũ, xóm nghèo xưa để nhớ để nghĩ về cuộc tình tan vỡ, đau đớn cho đến lúc bạc mái đầu có còn để gọi nhau là cố nhân không ?

 Ở giữa làng là xóm Chợ nơi em ngày hai buổi sáng chiều quang gánh, vẫn khuôn mặt đỏng đãnh, nụ cười chúm chím, em đã để lại trong tôi nỗi u hoài của những nụ hôn xa, của con tim liên hồi đập mỗi lần đón đợi người thương, em còn lại trong tôi những đêm trăng hò hẹn, những đêm lễ hội, lòng hồi hộp dưới ánh trăng cổ tích, tay cầm tay lãng đãng đợi chờ .Thế rồi em đi, xóm làng xưa vẫn bên biền cuối bãi, con sông xưa vẫn đổ từ triền núi ra biển cả.

  Ngày đó ai mơ một ngày về.

 

2- Lần lửa hẹn mãi lòng một lần quay về với Bến Đá, nơi quê nhà xưa đã một thời tắm mát bên dòng sông Ô-Khê xanh biếc hiền hòa, nơi những người thân hai mùa mưa nắng dầm mình trên đồng chiêm cày ải, nơi tiếng chim bìm bịp kêu chiều theo con nước, nơi tuổi thơ tôi vốn sinh ra trong một gia đình khó khan, lam lũ…

  Ngày tháng rồi cũng đi qua, nhiều lần tôi đã về ngồi lại bên sông, bên chiếc cầu tre gảy nhịp nhìn dòng nước chảy, nhìn bóng chiều tà đậu dài hai bên bờ ngẫm nghĩ đến đời mình cho đến khi chiều tối. Tôi vốn sinh ra nơi quê nghèo, nơi đây ngày xưa ăm ắp những tiếng hò ngọt lịm, gạo trắng trăng thanh, thế nhưng sau chiến cuộc mọi chuyện đã đổi thay không còn nữa, biết đến bao giờ, đợi đến bao giờ cho quê nhà thay da đổi thịt.

 Quê ơi cứ hẹn một lần về.

Tôi mất cha từ năm lên một, mẹ tôi ở vậy tảo tần sớm hôm nuôi tôi khôn lớn. Những đêm, những ngày quanh quẩn sau lũy tre làng với con đường quê hai bữa đến trường, ngoài những buổi học tôi thường phụ mẹ tôi bắt ốc mò cua, mót khoai mót lúa. Cuộc sống cơ cực ở thôn làng đã rèn luyện cho tôi nên người từ thuở đó. Đến năm mười hai tuổi mỗi ngày tôi phải đi bộ năm bảy cây số ra phố quận Hải Lăng để theo học Trung học. Hình ảnh ghi đậm trong tim tôi là ngày tôi dự thi vào trường, cảnh  bác Sáu tôi đứng bồi hồi chờ trước cửa trường Nam tiểu học, trưa bụng đói bác đưa cho tôi ổ mì"xíu" mà lần đầu trong đời tôi được ăn, cái hương vị tuyệt vời mãi đi theo tôi cả chiều dài năm tháng, cái mùi cay bùi đó không làm sao tôi quên được. Chiều trời đổ mưa tôi gói mình trong tấm ni-lông màu nước mắm băng qua đường gặp bác, hai mắt của bác nhìn tôi ứa lệ, bác tôi nhẹ nhàng cởi tấm ni-lông rồi lặng lẻ mặc cho tôi chiếc áo mưa hiệu Blair màu khói hương, đó cũng là lần đầu tiên trong đời một đứa trẻ quê được khoác lên mình một chiếc áo mưa tươm tất. Tôi nuốt nước mắt vào lòng mừng vui khôn tả và lặng thinh nắm lấy tay bác đi bộ về chỗ trọ lòng đầy bồi hồi xúc động. Kỳ đó tôi đổ Trung học.

 Tôi không thể nào quên những năm tháng đi học xa nhà, những ngày hè oi bức, nhễ nhại mồ hôi trên con đường cái quan rãi nhựa bốc khói, những sớm mai, chiều đông rét lạnh căm căm tôi bó mình trong chiếc áo tơi do tôi chằm từ lá nón, lầm lũi bước với bụng đói lép kẹp.

Để có cơm ăn tôi đi làm Precepteur suốt ba năm học trường Nguyễn Hoàng, với một bà mẹ quê quanh năm ruộng lúa nương khoai thì làm sao kham nổi cho con ăn học xa nhà, nên đôi lúc cũng đành phó thác tôi cho trời cho đất. Những ngày đầu bỡ ngỡ với lớp với trường tôi xoay quanh với nghề gia sư ở nhà sách Tao Đàn, đêm kèm ba đứa nhỏ đang học Tiểu học, cho đến năm Đệ nhị (lớp 11) thì chuyển lên kèm cho một gia đình ở xóm chài, cái xóm chài ven sông Thạch Hãn cứ theo mãi tôi đến bây giờ, những con đò nằm sát bên nhau nơi bến đổ...và rong rêu dập duềnh theo từng đợt sóng lô xô, những bữa cơm có lúc nghèn nghẹn không nuốt nỗi khi trong cơm có lẫn mùi dầu hỏa (dầu lửa).

 

 Chủ nhà tôi dạy kèm vốn chẳng khá giả gì nên tôi cũng chẳng phiền lòng về chuyện ăn uống hay trú ngụ, nữa niên khóa sau tôi phải ghi tên ăn cơm Xã hội (miễn phí) và thuê một cái giường để ngũ và học hàng ngày.

Tôi học ban C nên được xếp học ở dãy nhà dọc phía trái của trường, nơi có cái cổng phụ rất dễ cho những lần chúng tôi cúp cua lang thang ngoài phố. Tôi vốn không có một bạn gái nào để vắt vai cho một mối tình, có lẽ vì nghèo, vì gia cảnh khó khăn…, lúc này đối với tôi đám nữ sinh như đang ở một thế giới xa vời, khó lòng tôi với tới. Cứ mỗi chiều cuối tuần tôi háo hức về lại quê nhà, bên mâm cơm nghèo cùng mẹ tôi với những trái cà, đọt bí, hương vị của đất trời  tõa một mùi thơm dìu dịu, hình như để bù lại cho những ngày ở tỉnh lị thiếu đói mẹ tôi lại chạy vạy lo cho từng bát cơm có trứng, có cá.

 

 Ở trường tôi được  thầy cô  để ý quan tâm đến hoàn cảnh của mình như cô Thanh, thầy Gary Carkin, thầy Diên, thầy Nguyễn Đăng Ngọc. Về việc học hành, hình như chỉ có môn Việt văn và Anh văn là tôi chăm chút còn các môn khác tôi lại lơ đểnh, nhất là môn Vạn vật, vì thế mà năm thi Tú tài tôi bị thiếu điểm của cô Toàn, thật nghiệt ngã.

 Hồi này tôi bắt đầu có thơ trên các báo Sài Gòn, Tết đó tôi viết bài thơ buồn:

                Nói với lớp học

    Dĩ vãng đó xin người đem dấu kín

    Kỹ niệm buồn đứa con nhỏ hoang mê

    Đến với người bằng tháng ngày đông tím

    Bằng hạ buồn bằng thu chết ngất ngư .

 

    Tôi chong mắt nhìn đời mình ở đó

    Lớp học buồn khuôn mặt lạ trầm ngâm

    Ghế bàn trơ im lìm lên nước gỗ

    Buồn lưng đầy theo từng tháng từng năm .

    ....

    Người về đó xem xóm làng tôi gục chết

    Bầy trâu nghèo lơ lửng bước trong đêm

    Ruộng cằn khô bên từng khoang mạ cháy

    Người bỏ đi nhung nhớ cả trăm miền .

 

    Xin dung tha một đời tôi vô phước

    Sớm xa người về trong cảnh nát tan ....

 

 Thời gian cứ mãi trôi đi, đi mãi cho đến một ngày tôi cũng bỏ trường mà đi sau những năm tháng sống cực nhọc, gian khó. Có ai biết đến một đứa con Nguyễn Hoàng trong bổng chốc thấy mình cô đơn quá đổi giữa một quê hương đầy súng đạn, xác xơ, không có đường về cho ngày mai, lại những lần ra đứng thơ thẩn bên sông Thạch Hãn, nhìn bên kia ẩn hiện ngôi chùa Sắc Tứ thong thả gióng từng hồi chuông, những hàng cây liêu xiêu, dòng nước lững lờ…

Những tháng ngày khó khăn lại diễn ra với cảnh thiếu thốn: ăn nhờ ở đậu, tôi không có một bộ đồng phục tươm tất, (quần xanh áo trắng)  để đi đến trường mà thay vào đó là những bộ đồ cũ xì. Thầy cô hàng ngày chẳng lạ gì tôi, một đứa học trò nghèo khó. Lần tôi nhớ nhất là lần cô giáo Thanh dạy Pháp văn (sinh ngữ phụ) gọi tôi lên trả bài nhưng tôi không biết một cái gì cả, cô bảo tôi ở lại sau giờ học, sau khi tôi trình bày về hoàn cảnh khó khăn nên nhiều khi xao nhãng chuyện học. Cô thông cảm và bảo ban tôi như một người chị với đứa em, đã nhiều lần cô tìm cách giúp đỡ tôi. Thế hệ Nguyễn Hoàng dường như ai cũng biết cô Thanh, những cảm thông của cô đã chắp cánh cho tôi sau này bay lên với cuộc đời vốn không hề bằng phẳng.

 Những đứa con xưa của Nguyễn Hoàng có lẻ đã đơm hoa kết trái trên vạn nẻo đường, tiếp nối mãi về một thân tình ấm áp, mãi cầm tay nhau cho dù tuổi đời đã sửa soạn về chiều. May thay vẫn còn lại những trái tim người đầy nhân ái và đậm đà thủy chung tình bạn, tình thầy trò.

 (Đoạn viết này xin được gởi đến cô Thanh để nhớ đến một đứa học trò đã từng khốn khó) .

3-

      Khi xuôi từ Nam ra, qua khỏi cầu Mĩ-chánh, ngã ba con lộ “Không Vui” là quê làng tôi. Hơn bốn mươi năm trước trường Trung học Hải Lăng nằm sát bên con đường đó đối mặt với huyện lị Hải Lăng với hàng kẻm gai chằng chịt. Năm một ngàn chín trăm sáu mốt, trường được xây trên bãi cát mọc đầy xương rồng lẩn hoa mua, sim dại. hàng dương dập dìu trước gió, trống trường điểm từng hồi. Tuổi thơ bồng bềnh trôi về một ngôi trường bé nhỏ nép mình trong thời buổi chiến tranh loạn lạc.

 Tôi trở về đây, chốn xưa đã thành một khu mới, giữa ngã ba đi về khi xưa không tìm đâu ra dấu vết của ngôi trường cũ. Ngày đó thời bé nhỏ, ngày hai buổi đi về cùng bè bạn thầy cô chung vui trường lớp, xẻ chia đau thương mất mát một thời súng đạn, Trong nổi đau chung của Hải Lăng từ cuộc chiến trong đó có ngôi trường mẹ Hải Lăng.

 Ngày ấy làm sao nói hết những chiều thu hạ đến xuân đông ở phố nhỏ Diên Sanh lạnh buồn, ở  giữa ngã ba đường quốc lộ băng ngang là những mái ngói của một thị trấn đìu hiu. Ở dưới gốc đa già là bến xe nhỏ hằng ngày đi về tỉnh lị, bên cạnh đó là ngôi đình làng trầm lặng với những cây bàng lớn hơn vòng hai người ôm. Những buổi lên lớp mai nắng xiên, chiều cát gió, một tiếng trống, một tiếng còi tàu cũng không làm giảm đi nét cô quạnh cho con phố trầm buồn. Ở nơi đó có những Lộc, Hoa của Mai Đàn, Tục, Tiếp của Trung Đơn đã đi qua và đã nằm xuống, một thế hệ buồn !

 Ngôi trường tôi bị san phẳng sau một mùa hè khói lửa và vĩnh viễn bị mất đi ở cái huyện lị nghèo này. Những cánh chim bay không mỏi mãi nhớ về trường xưa, ở đó tôi vẫn nhớ về từng hồi chuông nhà thờ đổ trong những mùa giáng sinh từ nhà thờ cha Minh, tiếng chuông ngân nga tít mãi tận đồi cát bên kia, đã mất đi những bóng hình xưa cũ, còn chăng chỉ còn lại những đám mây trôi bàng bạc mỗi chiều. Cảnh cũ muôn năm đi vào cổ tích của nhớ nhung hoài niệm.

 

Em một mình bên giòng sông quê
ngập lòng mùa về tháng chạp
qua rồi tháng năm được mất
tình đi nào có quay về.
 
Ô Giang đầu bến hoa sim nở
tím mãi tim ai đợi chờ,
thôi lời nguyền buổi đó
mây đã xa, cây đời tương tư.
 
Sông xao chi mà chẻ hai giòng
võ vàng mấy bờ thương nhớ,
dăm sầu ai đi cách trỡ
xa nhau hỏi em có buồn.

 Phai trôi màu chiều xa vắng
chiều đi nắng tím hoa mua,
suối chao mấy giòng nhịp sóng 
còn lại tình trao người về
bên khe quê hoài hiu quạnh.
 
Một mình em với sông quê
đợi tới khi chiều nắng tắt,
người ơi nào có quay về
em giận ai
mà lòng đau muối xát.
 
Ngờ tình dặm chiều cay đắng
đợi chờ sông quê ngày nao
chở ai về
dỗ lòng theo sớm mưa chiều nắng.
 
Bên người xa cả trời trống vắng
nụ hôn xưa nay quá bẽ bàng,
quên trôi theo từng ngày tháng
dặm sầu ai đã theo mang.

                                                Lê Sinh


READ MORE - KÝ ỨC QUÊ NHÀ - Tùy bút - Lê Sinh

Monday, April 1, 2019

ĐỌC THƠ VỀ QUẢNG TRỊ CỦA HUY UYÊN - Châu Thạch

Nhà thơ Huy Uyên

ĐỌC THƠ VỀ QUẢNG TRỊ CỦA HUY UYÊN
Châu Thạch


Nhà thơ Huy Uyên tên thật là Lê Sinh, sinh ra và lớn lên bên làng Trường Sanh, huyện Hải Lăng Tỉnh Quảng Trị, nơi có nhánh của dòng sông Ô Lâu  với chiếc cầu Bến Đá. Trước 1975 ông học trường Nguyễn Hoàng rồi vào đời làm một người lính miền Nam. Sau 1975 ông chọn nghề Hướng Dẫn Viên Du Lịch nên có nhiều cơ hội đi, chiêm nghiệm và sáng tác.
Nói về Huy Uyên nhà thơ Chu Vương Miện đã viết: “Từ những miền đất đia đầu quê hương đất nước cho đến những vùng cực nam, những vùng biển đảo, anh đều đi qua cả, đi tới đâu anh làm thơ tới đó. Thơ Huy Uyên làm rất nhiều và rất khỏe, toàn là những địa danh hữu tình và phong cảnh kỳ quan trên toàn quốc, và những kỷ niệm”. “Đọc thơ Huy Uyên  là cả một trời quê hương đất nước, từ đồng cỏ lá cây, từ dòng sông con suối, từ rừng đến rú, từ đồi tới núi, thoang thoảng nhạc Văn Cao”. “Sau 1975 nhà thơ Huy Uyên là một nhà thơ có đầy đủ tầm vóc chiều ngang chiều dầy và chiều cao xứng đáng với danh hiệu thi sĩ”
Trong khuôn khổ bài viết nầy tôi chỉ xin đề cập đến một số bài thơ về quê hương Quảng Trị mà Huy Uyên đã viết. Thơ viết về Quảng Trị của Huy Uyên cũng rất nhiều, bài nào cũng phong phú nên dài, khó có thề đem một vài vế thơ mà diễn giãi được hết ý của ông. Trong vườn hoa thơ rộng và nhiều đó, Châu Thạch chỉ xin ngắt một vài đóa hoa trổi hương sắc trong một vài luống hoa để giới thiệu cùng bạn đọc mà thôi.  
Ai cũng biết Quảng Trị là quê hương bom đạn. Mua hè đỏ lửa năm 1972 với Đại Lộ Kinh Hoàn sẽ còn để lại muôn đời trong sử sách những đau thương và mất mát của người dân Quảng Trị. Huy Uyên đã viết:

Dấu cũ người phai mờ trận địa
Dốc miếu đau in vạn dấu chân
Thây người hai phía tấp về bễ
Lệ căm hờn xa xót trăm năm

Chiến-trường qua theo gió, núi, mưa bay
Nghĩa địa cũ chìm quên còn đó
Quảng-Trị căm hờn đau nhớ từng ngày
Nửa đêm hồn ai vừa thức dậy.
           (Thư Viết Về Quảng Trị)

Trong hoàn cảnh đó, Huy Uyên cũng như bao người con Quảng Trị khác, như chiếc lá bị gió cuốn bay đi đến những phương trời xa lạ để rồi mang hồn viễn xứ thương nhớ quê hương:

Cầm bằng ngày đó tôi về
Đứng bên sông nhìn Nhan-Biều, Ái-Tử
Xao xuyến chi tình trải mấy khúc quê
lặng lẽ đổ chuông chùa Sắc-Tứ

Bao năm xa rồi Quảng TRị
Nghẹn lòng từng bước con xa
Nước mắt chan cơm
Vọng tình cố lý
Nơi xưa đâu còn đọng lại quê nhà.
          (Xa Rồi Quảng Trị)

Nhớ Quảng Trị, nhà thơ nhớ gì trước? Huy Uyên nhớ tình yêu của tuổi học trò:

Quảng Trị mãi hoài trông ngóng
Đường xa tháng năm theo học
Ai đón trước cổng lớp Nguyễn Hoàng
Để em về mỗi chiều hong tóc
Phơi sầu riêng thôi mình tôi mang
 (Theo Em Về Quảng Trị)

Nhà thơ tả người em gái Quảng Trị thưở xưa đã làm xao xuyến tâm hồn ông như sau:

Gắn nụ hôn lên tóc em
Lung linh mắt sầu nổi nhớ
tháng năm biền biệt xa tìm
Sắc chín hồng lưu ly đỏ

Cầm mãi trong tay ngậm ngùi
Ngày xưa một đời mật đắng
Xa người đau đớn trong tôi
Quảng Trị đứng chờ
Đợi ai bên sông Thạch
 (Em Gái Quảng Trị)

Kỷ niệm tình yêu thường đi chung với cảnh vật ghi dấu cuộc tình ấy. Thị xã Quảng Trị thời xưa với cổ thành, với những con đường nên thơ còn mãi trong tâm khảm nhà thơ khó mà phai nhạt được:

Đường Gia Long ngủ lặng bên sông
Theo em dặm dài về Quảng Trị
Xa khuất người ơi muối xát trong lòng
Bao năm rồi gọi hoài nỗi nhớ
  (Theo Em Về Quảng Trị)

Nhà thơ còn nhớ kỷ niệm về  người con gái của một thôn đẹp bên cổ thành Quảng Trị;  

Hai mắt em hồ như đuôi lá răm
Sáng nay về đâu mà coi đìu hiu lắm
Về Tri-Bưu giáo đường đầy nắng
Hay Hạnh-Hoa-Thôn chuyến chợ phiền buồn.

Ai theo em để kịp cùng đường
Nơi triền quê và bầy nghé ọ
Bên sông em gái làng hồng đôi má
Và hàng tre còn đọng lại hơi sương
         ( Hạnh Hoa Thôn)

Quê hương Quảng Trị còn có biết bao kỷ niệm với một người đã sinh ra và lớn lên tại đó. Quê hương Quảng Trị còn làm cho nối nhớ thiết tha thêm bởi chiến tranh đã đẩy con người rời xa muôn dặm mà ngày quay về khó lắm thay. Nhà thơ Huy Uyên đã hẹn một ngày về nhưng chắc chi lời hẹn ông sẽ thành hiện thực vì biết bao ngăn trở của kiếp sống con người:

QUẢNG TRỊ, HẸN MỘT NGÀY VỀ

Không về đâu ơi người em Quảng-trị
biền biệt xa quê góc bể chân trời
ai bỏ đi giọt lệ tình cố-lý
để tháng ngày hoài mãi với chơi vơi.

Đã tới vụ mùa phải không em gái
nụ cười xưa còn lại chút ấm lòng
một người đi, đi hoài đi mãi
để rồi ai ở lại đợi chờ, trông.

Chiều về em có ngồi lại bên sông
nhớ ai xưa mà vọng-sầu-cố-xứ
mai độ vào xuân chín nụ
hỏi anh có về, có nhớ em không ?

Đường về Hải-lăng ngập ngừng mây kéo
phố Đông-hà nghiêng mấy quán chợ buồn
qua Cam-lộ tình mây trôi mấy nẽo
để ai đi mà hát khúc Triệu-phong thôn.

Không về đâu ơi người em Quảng-trị
mai xa người theo nỗi nhớ quê-hương
em có đứng bên đường
đợi anh về không nhỉ ?
từ lúc nắng lên cho tới chiều buông.

Ơi em gái quê có trái tim thật buồn
bao năm chờ người đi không trở lại.

Với một bài viết ngắn gọn đăng trên mạng không thể nói được nhiều về thơ Huy Uyên. Như đã nói ở trên, Huy Uyên là nhà thơ có đầy bút lực, thơ ông nhiều và dài, chất chứa đầy những kỷ niệm trong cuộc sống, những biến động của cuộc đời qua thời gian. Nhà thơ cũng thổ lộ tâm tư của mình bằng thơ qua những biến động đó. Tiếng thơ của Huy Uyên trầm và buồn, có âm điệu đôi khi như tiếng gió rì rào, có khi như dòng nước róc rách chảy.
Bến Đá Trường Sanh, nơi Huy Uyên sinh ra và lớn lên có phong cảnh rất đẹp. Nơi nầy Châu Thạch đã có nhiều mùa hè về chơi với bạn, tắm dưới dòng sông trăng mà Huy Uyên đã viết trong bài “Ký Ức Quảng Trị” của đời ông: Con sông Ô-lâu hiền hòa chia hai xóm,nước êm đềm chảy qua bốn mùa yên ả. Những bờ tre làng rợp bóng soi mình trên mặt nước trong xanh.” “Đêm treo lơ lửng ngọn trăng trên đầu, trăng bàng bạc khiến không gian càng tỉnh lặng. Trăng soi sáng vườn khoai đang bắt đầu xanh ngọn, vườn chè xanh biếc dưới ánh trăng dịu hiền.Những bờ tre trở mình rên kèn kẹt. Làm sao nói hết cái lâng lâng giữa đêm trăng qua làng quá mường tượng, kỳ ảo. Thoảng dưới ánh trăng tiếng hò giả gạo, khoan hụi dìu dặt rộn niềm vui ngày mùa”

  Có lẽ nhờ cảnh quê hương đẹp như thế nên Huy Uyên có tâm hồn thi sĩ từ thưở ấu thơ. Ông làm thơ như nói, nói thành âm điệu và từng dòng thơ như những con thuyền trôi êm ái dưới trăng.

Hình như tôi chỉ mới nói một phần quá nhỏ mà cũng chưa đầy đủ  về thơ Huy Uyên. Vậy thì, xin mời ai đó bước vào khung trời thơ ấy, để không những chỉ nghe tiếng quê Hương Quảng Trị của Huy Uyên, còn nghe thêm tiếng của rất nhiều quê hương trên mặt đất hình cong chữ S mà Huy Uyên đã đi qua, trong hơn nửa đời người làm nghề Hướng Dẩn Viên Du Lịch của ông!
                                 Châu Thạch






READ MORE - ĐỌC THƠ VỀ QUẢNG TRỊ CỦA HUY UYÊN - Châu Thạch