Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Linh Đàn. Show all posts
Showing posts with label Linh Đàn. Show all posts

Friday, January 18, 2019

NHỮNG BÀI THƠ SỚM NHẤT VỀ SỰ KIỆN MẤT HOÀNG SA - Linh Đàn


                                 Tác giả Linh Đàn



NHỮNG BÀI THƠ SỚM NHẤT VỀ SỰ KIỆN MẤT HOÀNG SA

Những ngày giáp tết Năm Giáp Dần 1974, trên chuyến xe đò từ Đalat đi Saigon, những người ngồi trên xe chuyền tay nhau tờ báo đăng về sự kiện mất Hoàng Sa, ai nấy đều rơm rớm nước mắt, mới biết lòng người Việt mình yêu nước như thế nào, mà hồi ấy chiến tranh ác liệt lắm, hơn 3/4 đất đai Miền Nam thuộc về quân Giải Phóng chiếm đóng thì không ai tỏ vẻ điều gì oán trách mà còn thán phục nữa là đằng khác, nhưng khi Hoàng Sa bị mất vào tay Trung Cộng thì lòng người rớm máu
Cùng một tâm trạng nên tôi sáng tác ngay trên xe một bài thơ:

NIỀM ĐAU HOÀNG SA

Từ thuở khai nguyên mãi tới giờ
Dấu chân phá thạch chẳng phai mờ
Biết bao thế hệ vì sông núi
Đổi mấy máu xương giữ cõi bờ
Hồn Nước thấm sâu vào huyết quản
Lòng dân mang nặng cả tâm tư
Hoàng Sa nỡ để cho thay chủ
Nỗi nhục niềm đau kể mấy vừa

                          Linh Đàn
(Trên chuyến xe đò ĐaLat - Saigon gần tết Giáp Dần 1974)

Cùng nói lên tấm lòng thương tiếc và oán trách không giữ nổi Hoàng Sa
Về Bình Tuy ăn tết xong là về Huế, ghé lại Đà Nẵng ngồi ở bãi Tiên Sa thấy biển trời mà thương tiếc Hoàng Sa nên tôi cảm tác mấy câu thơ


PHÚT SUY TƯ

Về Đà Nẵng với biển trời vô tận
Ngọn sóng nào là ngọn sóng của Hoàng Sa
Về Đà Nẵng với cảnh tình vô tận
Ngọn gió nào là ngọn gió của Hoàng Sa
Cho tôi phút suy tư tưởng tiếc
Một niềm đau vô tận của Sơn Hà

                            Linh Đàn
                  (Đà Nẵng, xuân 1974)

Sau 1975 thì theo ruộng đồng, nên cũng chẳng làm thơ, đến năm 1990, thấy trong sách học sinh có bản đồ VN đất liền và hải đảo, Hoàng Sa với cái tên rất dễ thương như một người con gái thân yêu, lâu về cùng Tổ Quốc, nên tôi có cảm bài thơ

NỖI LÒNG HẢI ĐẢO

Hoàng Sa vời vợi ngóng trông về
Mười sáu năm dài ruột tái tê
Nhớ Mẹ chay vay sầu kể lể
Tiếc Con lưu lạc kéo lê thê
Bao tàu khách đến bao nong nỗi
Bấy lượn sóng xao bấy não nề
Ai có nghe chăng lời Đảo gọi
Nhắn về Đất Tổ - cả tình quê

                  Linh Đàn
      (Bà Rịa, Canh Ngọ 1990)

45 năm sau lặng lẽ trôi trong não lòng thương nhớ :

"Ai có nghe chăng lời Đảo gọi"
Hoàng sa ơi sao lâu về cùng TỔ QUỐC VIỆT NAM

                                                                     LINH ĐÀN

READ MORE - NHỮNG BÀI THƠ SỚM NHẤT VỀ SỰ KIỆN MẤT HOÀNG SA - Linh Đàn

Sunday, April 8, 2018

BỔ SUNG CHỮ QUỐC NGỮ CHẾ NÉT BÚT LÔNG - Linh Đàn


      
                                      Tác giả Linh Đàn


     BỔ SUNG CHỮ QUỐC NGỮ CHẾ NÉT BÚT LÔNG










 

 












READ MORE - BỔ SUNG CHỮ QUỐC NGỮ CHẾ NÉT BÚT LÔNG - Linh Đàn

Saturday, February 25, 2017

THƠ CHỮ HÁN CỦA QUAN HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN ĐÌNH TÚC VÀ QUAN CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ

 
     HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN ĐÌNH TÚC



Linh Đàn trân trọng kính giới thiệu
   
Thơ Chữ Hán của quan Hiệp Biện Đại Học Sĩ TRẦN ĐÌNH TÚC (1816-1899) 
 Quê làng Hà Trung, huyện Gio Linh, Tỉnh Quảng Trị, đỗ cử nhân khoa Thiệu Trị Nhâm Dần 1842 tại trường thi Thừa Thiên, làm quan triều Nguyễn. 
Dưới đây là bài thơ tặng quan Kinh Lược Sứ Nam Kỳ Lục Tỉnh CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ
- Bài thơ viết bằng loại thảo thư Hán văn trong TIÊN SƠN THI TẬP lưu trữ tại Viện Hán Nôm – Hà Nội, 
Do Linh Đàn NGUYỄN HỮU KIỂM chuyển qua loại chữ chân, phiên âm tiếngViệt   
-Trong đó có thêm các bạn thơ cùng tham dự chuyển dịch thơ Đường tiếng Việt

從勤政官張大人經畧六省

TÙNG CẦN CHÁNH QUAN TRƯƠNG* ĐẠI NHÂN 
             KINH LƯỢC LỤC TỈNH

苍茫一望水雲端  Thương mang nhất vọng thủy vân đoan

囬首家山数畝間  Hồi thủ gia sơn sổ mẫu gian
萬里壯心惟破浪  Vạn lý tráng tâm duy phá lãng
十年學力識觀瀾  Thập niên học lực thức quan lan
山河到處皆生色  Sơn hà đáo xứ giai sinh sắc
天地由來不老顏  Thiên địa do lai bất lão nhan
自許此身輪彈若  Tự hứa thử thân luân đạn nhược
往來随化孰留難  Vãng lai tùy hóa thục lưu nan 
            陳廷肅                  TRẦN ĐÌNH TÚC

Giải nghĩa


THEO CẦN CHÁNH QUAN TRƯƠNG ĐẠI NHÂN 

ĐI KINH LƯỢC LỤC TỈNH
Trông xa ven nước mây xanh xanh mịt mờ
Ngoái đầu nhìn rặng núi quê hương trong mấy mẫu
Lòng hùng tráng muôn dặm chỉ mong quẫy sóng
Việc học trải qua mười năm, thấu hiểu những cuồng phong rình rập
Đến đây cảnh núi sông đều tươi mới
Trời đất xưa nay vẫn không già
Tự hứa thân này dầu lăn tròn như hòn đạn
Đến lui tùy theo giáo hóa, ai khó mà lưu giữ được


*CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ

 TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ
 勤政殿大學士張登桂 (1793-1865)
Tự: Diên Phương, hiệu: Đoan Trai, biệt hiệu: Quảng Khê;
là danh thần trải 4 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong lịch sử Việt Nam. Trong 43 năm làm quan, có 20 năm ông giữ trọng trách lớn (có hai lần nhận di chiếu tôn phò vua mới). Ngoài ra, ông còn là nhà thơ, nhà sử học, là thầy học của vuaThiệu Trị và một số quý tộc nổi tiếng khác, trong đó có Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương.

Dịch thơ : 
     
THEO CẦN CHÁNH QUAN TRƯƠNG 
ĐẠI NHÂN KINH LƯỢC LỤC TỈNH
Mênh mông nước biếc - giữa trời mây  
Ngoái lại quê nhà mấy mẫu đây
Muôn dặm cõi lòng ghềnh thác tỏ
Mười năm đèn sách sóng cồn hay
Non sông tô điểm vun màu mới
Trời đất nhìn chung đẹp cảnh nầy
Tự hứa tấm thân nề lửa đạn
Lại qua ai tỏ chuyện xưa nay”
Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm Phụng dịch 
               12th-11-2013

THEO CẦN CHÁNH ĐIỆN TRƯƠNG                    

 ĐẠI NHÂN KINH LƯỢC LỤC TỈNH
Chân mây ven nước thẳm...giăng mùng....
Nhìn rặng núi quê khuất khuất trùng !
Hùng tráng dặm dài mong quẫy sóng
Sách đèn chầy tháng rõ cuồng phong
Đương thời sông núi luôn tươi mới...
Tự cổ đất trời vẫn trẻ trung.
Thầm hứa thân này lăn tựa đạn...
Tùy cơ tiến hóa để giao phòng.
          Trần Lệ Khánh - Trúc Lệ
                      11-11-2015

TÙNG CẦN CHÁNH ĐIỆN TRƯƠNG 

ĐẠI NHÂN KINH LƯỢC LỤC TỈNH 
Nước mây xanh ngắt thoáng trông xa
Quay lại quê hương thấy nhớ nhà
Biển cả muôn trùng nghe sóng vỗ
Cuồng phong vạn dặm gội mưa sa
Núi sông thanh tú đời thêm trẻ
Trời đất bao dung sống bớt già
Căn dặn với lòng dù lửa đạn
Tùy cơ ứng xử chuộng nhân hòa.
         Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


                      11th-1-2016

READ MORE - THƠ CHỮ HÁN CỦA QUAN HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN ĐÌNH TÚC VÀ QUAN CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ

Monday, February 20, 2017

THƠ CHỮ HÁN CỦA QUAN HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN ĐÌNH TÚC (1816-1899)


       
     HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN ĐÌNH TÚC


THƠ CHỮ HÁN CỦA QUAN HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ 
                    TRẦN ĐÌNH TÚC (1816-1899)

 Quê ở làng Hà Trung, huyện Gio Linh, Tỉnh Quảng Trị, đỗ cử nhân khoa Thiệu Trị Nhâm Dần 1842 tại trường thi Thừa Thiên, làm quan triều Nguyễn. dưới đây là bài thơ đề lên vách điện Vân Quán theo yêu cầu của Tùng Thiện Vương, viết bằng loại thảo thư Hán văn trong TIÊN SƠN THI TẬP lưu trữ tại Viện Hán Nôm – Hà Nội, do Linh Đàn NGUYỄN HỮU KIỂM phiên âm và dịch ra thơ Đường Luật tiếng Việt   

            從國公彤雲舘題壁應教


TÙNG QUỐC CÔNG* ĐỒNG VÂN QUÁN ĐỀ BÍCH ỨNG GIÁO


帝子城南壹畝宮   Đế tử thành nam nhất mẫu cung

薔蘭花氣入簾櫳   Tường lan hoa khí nhập liêm lung
桃園勝會留群季   Đào viên thắng hội lưu quần quý
桂樹高歌引入公   Quế thụ cao ca dẫn nhập công
斑綵辰從金母席   Ban thải thần tòng kim mẫu tịch
倚羅噙續玉臺風   Ỷ la cầm tục ngọc đài phong
天顏咫只心仍戀   Thiên nhan xích chỉ tâm nhưng luyến
五色祥雲在望中   Ngũ sắc tường vân tại vọng trung
             陳廷肅                       TRẦN ĐÌNH TÚC

   *Tùng Thiện Vương  NGUYỄN PHÚC MIÊN THẨM

                     松善王 阮福綿審, (1819 – 1870)
Tự Thận Minh, Trọng Uyên, hiệu Thương Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử. Ông là con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, và là em vua Thiệu Trị đồng thời là một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng  thời nhà Nguyễn.

Dịch thơ:


ĐỀ THƠ TRÊN VÁCH ĐIỆN VÂN QUÁN

DO TÙNG QUỐC CÔNG TRUYỀN DẠY

Cung thất  thành nam tọa một phương

Rèm trong lan tỏa ngát đưa hương
Vườn đào hội lớn niềm cao quý
Gốc quế danh lừng nếp kỹ cương
Yến tiệc áo màu oai quốc mẫu
Ngọc đài gấm lệ rạng thân vương
Long nhan gần gũi lòng lưu luyến
Năm sắc mây lành tỏa ánh dương      
                  Phụng dịch: Linh Đàn

READ MORE - THƠ CHỮ HÁN CỦA QUAN HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN ĐÌNH TÚC (1816-1899)

Wednesday, August 7, 2013

VẠT NHỚ MÊNH MÔNG - thơ Linh Đàn

Linh Đàn


Sự đời như thể trời đề
Thương bao bạn cũ kẻ về… người đi
Dùng dằng ngồi dưới cội si
Bởi trong thầm lặng những gì xót xa

Lời huyền thoại bay về quê ngoại
Nét dịu dàng xưa trông vạt áo em
Xóm Giếng Máng đôi mắt xanh đã gặp
Tuy không lời, mà anh thao thức trắng đêm
Chiều Lạc Tân, cụ Đồ Nam ngâm bài Thu Ẩm
Chén dâng sầu trà Tam Hỷ dâng hương
Ai quên được nương dâu vàng nắng thắm
Bỗng Chợ Cầu chinh chiến phủ tang thương
Và từ đó quê hương mình rát mặt
Lửa Cồn Tiên tràn ngập xuống Linh Phong
Ký ức ấy, quyển thơ chưa lời bạt
Vẫn nhớ thuở nào, nước vội ngăn sông
Rời Đà Lạt quay về Hòa Khánh
Thoáng gặp nhau  như tỏ chuyện xa xưa
Thời bom đạn làm chúng mình thất học
Thăm thẳm một thời… em viết lại chi chưa ?

                             Linh Đàn
READ MORE - VẠT NHỚ MÊNH MÔNG - thơ Linh Đàn

Wednesday, July 10, 2013

Hạ Thái Trần Quốc Phiệt dịch thơ của Trần Đình Túc qua phiên bản của Linh Đàn

Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


Linh Đàn (phải) và Võ Văn Luyến

























從國公殿雲舘題壁應教

TÙNG QUỐC CÔNG ĐIỆN VÂN QUÁN ĐỀ BÍCH ỨNG GIAO
       
帝子城南壹畝宮  Đế tử thành nam nhất mẫu cung
薔蘭花氣入簾櫳  Sắc lan hoa khí nhập liêm lung
桃園勝會留群季  Đào viên thắng hội lưu quần quý
桂樹高歌引入公  Quế thụ cao ca nhập dẫn công
斑綵辰談金母席  Ban thải thần đàm kim mẫu tịch
倚羅噙讀玉臺風  Ỷ la cầm đọc ngọc đài phong
天顏咫只心仍戀  Thiên nhan xích chỉ tâm nhưng luyến
五色祥雲在望中  Ngũ sắc tường vân tại vọng trung
陳廷粛                                      Trần Đình Túc
                                                   Phiên bản: Linh Đàn

QUỐC MẪU

Sảnh đình tọa lạc phía Nam thành
Vượng khí, phong lan tỏa ngát quanh
Lá ngọc vườn đào từng kết nghĩa
Cành vàng gốc quế đã thành danh
Chiếu Tơ Thượng Hải ngồi đàm đạo
Điện Ngọc Đài Phong đến luận tranh
Quốc sắc thiên hương đời ngưỡng mộ
Gió vờn mây hội giữa trời xanh.
                   Hạ Thái Trần Quốc Phiệt



題畫鷄闓             ĐỀ HỌA KÊ KHẢI

莎鷄花下引離隨     Sa kê Hoa Hạ dẫn ly Tùy
祝一相呼聲正希     Chúc nhất tương hô thanh chính hy
得意奮冠俱尒尒     Đắc ý phấn quan câu nễ nễ
虚心待哺獨依依     Hư tâm đãi bổ độc y  y
從來有養籠牢迫     Tùng lai hữu dưỡng lung lao bạch
看到無情艸木知     Khán đáo vô tình thảo mộc tri
千古無青仍不俗     Thiên cổ vô thanh nhưng bất tục
人間鷄口也寧爲     Nhân gian kê khẩu dã ninh vi 
陳廷粛                                    Trần Đình Túc
                                                 Phiên bản: Linh Đàn

XEM TRANH GÀ

Tranh gà Hoa Hạ, có thời Tùy
Nét vẽ như truyền tiếng gáy đi
Nhí nhảnh quây quần khi vỗ cánh
Hồn nhiên thưởng thức lúc nhâm nhi
Chim lồng cá chậu lờ cân nhắc
Cỏ bãi cây rừng biết nghĩ suy
Màu sắc đơn sơ mà ấn tượng
Dân gian truyền tụng, hóa thần kỳ.
                    Hạ Thái Trần Quốc Phiệt



過橫山                  QUÁ HOÀNH SƠN

群峯到海終無路      Quần phong đáo hải chung vô lộ
遠水連雲似不流      Viễn hài liên vân tự bất lưu
北影此間傳飰語      Bắc ảnh thử gian truyền lỗ ngữ
瀘江當日割鴻溝      Linh giang đương nhật cát hồng câu
神傳聖傯今都貨      Thần truyền thánh tổng kim đô hóa
岐肇亟開古呂周      Kỳ triệu cức khai cỗ lữ chu
一帶橫山能萬代      Nhất đái Hoành Sơn năng vạn đại
数言先覺證千秋      Sổ ngôn tiên giác chứng thiên thu
陳廷粛                                           Trần Đình Túc
                                                        Phiên bản: Linh Đàn
  
ĐÈO NGANG

Núi chuồi ra biển cản đường qua
Nước kéo chân mây dạt sóng sà
Phía Bắc cư dân truyền thổ ngữ
Sông Gianh sử sách để bi ca.
Kinh Đô, Chúa muốn gom thâu thuận
Ngọn núi Kỳ ngăn giúp chống tà
Lưng dựa hoành sơn, thân trụ vững
Cổ nhân sáng suốt biết nhìn xa.
                     Hạ Thái Trần Quốc Phiệt



 過石跳堆            QUÁ THẠCH KHIÊU ĐÔI

天地河年造設奇     Thiên địa hà niên tạo thiết kỳ
古今塵迹亦由之     Cổ kim trần tích diệc do chi
一山衝海推潮共     Nhất sơn xung hải thôi triều cộng
鼓衆水摧沙浪旗     Cổ chúng thủy thôi sa lãng ki
踴躍自池尋曲徑     Dũng dược tự trì tầm khúc kính
巉岩惟石信心夷     Sàm nham duy thạch tín tâm di
險平二道么私辮     Hiểm, bình nhị đạo yêu tư biện
分付行人定是非     Phân phó hành nhân định thị phi
陳廷粛                                     Trần Đình Túc
                                                  Phiên bản: Linh Đàn

ĐỒI ĐÁ VỌT

Thiên hình vạn trạng giữa trần gian
Dấu tích nơi đây đáng luận bàn
Núi lấn lồi chân đùn nước cuốn
Gió dồn xua sóng dập luồng tan
Tung tăng lưu thủy tìm đường thoát
Năn nỉ thổ man hỏi lối sang
Hai ngõ an nguy kề cận ấy
Đúng sai định liệu khó vô vàn!
                   Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
READ MORE - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt dịch thơ của Trần Đình Túc qua phiên bản của Linh Đàn

Saturday, July 6, 2013

THÔN DÃ MÀ NÊN - Linh Đàn phụng dịch thơ Hiệp Biện Đại Học Sĩ Trần Đình Túc


Hiệp Biện Đại Học Sĩ TRẦN ĐÌNH TÚC
(1816 - 1899)
Hà Trung - Gio Linh - Quảng Trị
Tổng Đốc Hà Ninh
(Ảnh từ bài "Lời sấm truyền kỳ lạ về dòng họ 13 năm làm quan" đăng trên Zing News)


村居偶成
THÔN CƯ NGẪU THÀNH

屆年衰病故辭官  Giới niên suy bịnh cố từ quan
宅卜蟠門便養閑  Trạch bốc Bàn Môn tiện dưỡng  nhàn
客遜楚邱心獨壯  Khách tốn sở khâu tâm độc tráng
歸同杜衍鬂雙斑  Quy đồng đỗ diễn tấn song ban
囬思成說收功易  Hồi tư thành thuyết thâu công dị
却悟浮名屏跡難  Khước ngộ phù danh tịnh tích nan
恰似畫龍憑妙裏  Kháp tự họa long bằng diệu lý
崢嵘頭嶺竦人看  Tranh vanh đầu lãnh tủng nhân khan

                                                                Trần Đình Túc





Linh Đàn và phu nhân
Dịch thơ
THÔN DÃ MÀ NÊN 

Lâu năm yếu đuối muốn từ quan
Nhà chốn Bàn Môn tiện dưỡng nhàn
Trốn khách  gò hoang lòng khỏe lại
Về nơi cây rậm tóc dài lan
Nói niềm ký ức công đâu dễ
Gặp kiếp phù danh dấu khó bàn
Như vẽ rồng bay điều diệu lý
Chênh vênh đầu núi ngó mênh mang

                        Linh Đàn




READ MORE - THÔN DÃ MÀ NÊN - Linh Đàn phụng dịch thơ Hiệp Biện Đại Học Sĩ Trần Đình Túc