Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, December 4, 2012

BIỂN MAI HỒNG - La Thuỵ

 
                 BIN MAI HNG
          Hòn Bà ngắm sóng trầm tư
    Đi Dương ng nng liu ru ven b   
          Sương lam sc tnh hn mơ   
    Chao mình theo gió lượn l cùng mây 
          C xanh, mượt tri đt dày
    Dã tràng se cát lnh gy du chân             
          Bay cùng cánh mng bâng khuâng
    Tình thơ ý nhc như ln tuôn ra     
          Tiếng lòng xưa vn mn mà 
    Ồ sao gn gn âm ba ni mình   
          Lng l rùa bin đinh ninh           
    Nghìn năm hóa kiếp đng tình rong rêu      
          Dt dào bin dy nim yêu 
    Lung linh khói sóng phiêu diêu mng lòng 
                                                  LA THU


READ MORE - BIỂN MAI HỒNG - La Thuỵ

Phạm Ngọc Thái - NHỮNG BÀI THƠ TÌNH HAY NHẤT (2)


11. HÀNG CÂY LÁ ĐỔ



Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió...

Ta lang thang qua lá đổ hàng cây

Bản tình xưa em hát ở đây

Nơi ngày nay xác các con thiên nga đã chết.



Ôi, hàng cây! Cùng ta bao đêm từng tha thiết

Những nụ hôn và tấm thân bất hủ của em

Giờ ta sống trong hoang tàn sụp lở

Bên những chiếc bóng của đàn thiên nga.



Thời gian phôi pha - Tóc ta hoá đá

Gió cũng làm lau ngàn năm ru rất khẽ!

Xin rụng một bông buồn

                                          lắt lay…



                                             




12.  KÍ ỨC MÙA THU



Mùa thu khuấy lên bao kí ức

Xác thời gian trôi trên tóc em

Em đi trong trăng mùa thu thổi gió

Lá vàng rơi mênh mông…



Em đi qua mùa thu không gian

Trăng mặc đồi con gái

Nhớ đến lâu cái hương con gái

Nó thơm say và rất nhẹ nhàng.



Đường dạo ấy trên đồi trăng sáng

Đêm chia tay em dúi cả vào anh

Để bóng lạc suốt đêm ngoài phố

Mây lãng phiêu mãi không về!



Giờ đây chắc trên đồi thông đó

Gió vu vi và trăng vu vơ

Em đi trong trăng mùa thu thổi gió

Mùa thu lang thang chẳng bến bờ…



                              


13.  EM BÁN XOÀI



- Anh trai mua xoài cho em đi?

Nha Trang! Ta nhớ Nha Trang!



Em bán xoài đi đêm trên cát trắng

Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang

Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm

Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh.



Xoài em chín, đêm tàn canh em đón khách…

Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi

Em bán xoài thơm! Em bán xoài thơm!

Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm

Linh hồn treo ngoài thế giới em đi

Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?



Thế giới em đi “vòng thiên la địa võng“

Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi

Xoài em thơm, hương toả mát thân người

Ai mua xoài? Còn ai có mua em?



Các cô gái đi đêm như các cột đèn

Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...

Biển ru ta và ta ru em

Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.



Tác giả PHẠM NGỌC THÁI



14. KHÓC BÊN HỒ NÚI CỐC



Anh đã đến bên Hồ Núi Cốc

Gửi hồn theo dòng nước trôi thây...

Gió gào thét trong lặng chìm tim óc

Em khoả thân nằm trên bóng bến xưa bay.



Nước mắt nàng Công khóc tan ra suối

Cốc chết bên sồi lại hoá thành non...(*)

Nhưng để làm gì khi tình vô vọng?

Chút hương nàng vẫn ấm khoảng đời con.



Bóng ngàn than huyền thoại tang trắng phủ

Mà miệng còn muốn cắn vú người yêu!

Ôi, hồ núi cứ xanh rì muôn thuở

Máu ta đổ đầy cho tạo hoá tạc phù điêu.



Anh đến bên Hồ Núi Cốc giữa chiều

Thơ rỏ đôi hàng, lệ tràn một chén

Khóc chuyện tình xưa là khóc mình lắm lắm

Mai chết rồi làm nước tắm cho em...



                                         Đêm 9/7/1997



(*) Huyền thoại kể: Nàng Công (con gái quan lang dân tộc) thương nhớ chàng Cốc, khóc mà chết. Nước mắt nàng chảy thành suối nay biến ra hồ. Chàng Cốc (chỉ là một tiều phu đốn củi), thương nàng Công cũng chết dưới gốc cây sồi, hoá thành non bao bọc lấy hồ - nên mới có tên gọi: Hồ Núi Cốc!





15. MÁI TÓC CON GÁI



Mái tóc phố màu mây

Xõa ngang đời con gái

Em đi lấy chồng rồi

Lòng anh buồn biết mấy.



Hàng phố người có thấy

Những vòm cây đứng thầm

Chiều hoàng hôn cũng vậy

Gió như là để tang.



Đây bông hoa yêu thương

Ta ủ vào nỗi nhớ

Em đã không còn nữa

Chỉ có sao trên trời.



Vầng trăng khuyết, em ơi!

Giống đời anh cô độc

Sáng ngày treo tưởng chết

Hắt hiu và nhỏ nhoi.



Em đi lấy chồng rồi!

Màu hoa xưa trinh trắng

Tháng năm cùng mưa nắng

Tóc hoá thành mây bay…

         


                    

16. DƯỚI HÀNG SẤU ĐÊM

                    & CON PHỐ NHỎ



Phố vẫn phố, hàng sấu xưa rụng lá

Ngỡ yên rồi còn lạc bước canh khuya

Nên câu thơ anh theo đông về vội vã

Tình của đôi ta dòng sông chảy man mê...



Đêm đã lạnh vầng trăng còn thao thức

Trăng bay trên trời, anh cứ thương em

Xưa mộng nguyệt này, nay sao thấy khác

Gió nhắc thầm thì, em có nhớ không?



Em ngủ bên chồng. Thôi, cũng đừng tiếc nữa!

Mấy ai yêu trọn vẹn đâu em?

Thưở đó đẹp nhiều mộng mơ em nhỉ

Thơm mát cõi thơ, hồn ta ru êm.



Anh lưu giữ chút tình trên trang giấy

Đi hết phố xa về khắc khoải bên thềm

Rồi tự trách với mình sao buổi ấy:

Lại giục em lấy chồng để đau mãi con tim?



                                            Mùa đông 2010
                                            Phạm Ngọc Thái
 thai_quanthanh@ymail.com

.
READ MORE - Phạm Ngọc Thái - NHỮNG BÀI THƠ TÌNH HAY NHẤT (2)

HÁT GIỮA TRẦN GIAN - Truyện ngắn của Phan Trang Hy


Tác giả PHAN TRANG  HY



      Tôi thẫn thờ cầm chiếc điện thoại lên nghe. Vẫn điệu nhạc chờ mà tôi ưa thích. Điệu nhạc của một thời làm lay động bao trái tim. Điệu nhạc đã lôi cuốn tôi tập tành yêu ca hát. Biết bao điệu nhạc đã mang lại lợi nhuận cho kẻ đầu tư. Biết bao tiếng hát được cài làm nhạc chờ trên điện thoại. Có thể chỉ cần nghe điệu nhạc chờ ấy là bạn có thể đoán được tính của chủ nhân chiếc điện thoại, không biết điều đó có chính xác không thì tôi chưa rõ. Tôi bấm nút, và cất tiếng a lô. Vấn giọng điệu buồn bực, tiếng thằng bạn tôi vang bên tai: “Tau chịu hết nỗi rồi. Nó đã lừa gạt tau, tau không ngờ nó như thế?”. Tôi ừ ừ… Bạn tôi nói liên tu bất tận. Tôi chịu trận. Tính tôi vẫn thường cả nễ, ít nói, nhưng chịu lắng nghe. Nên khi bạn tôi có điều gì muốn trút nỗi lòng thì thường tìm tôi tâm sự. Tôi biết rõ điểm yếu của mình, nhưng đã là tính nên cũng khó sửa. Thôi thì ráng chịu cho nó qua. Hắn nói như ra lệnh tôi: “Mi đi với tau gấp. Tau cần mi!...”. Tôi vẫn ừ ừ.

      Và rồi tôi đến với hắn. Tôi phải chiều hắn, uống cà phê cùng hắn để cho hắn hạ hỏa. Qua chuyện trò, tôi biết hắn bị một lãnh đạo cùng công ty đưa hắn vào chỗ mất tiền, mất của. Tôi chỉ biết thở dài. Chỉ an ủi hắn. Chớ biết nói gì cho phải.



***

      Tôi đang ngồi đánh lại truyện ngắn. Tôi chăm chú nhìn từng chữ cái trên bàn phím nhằm tránh sơ sót, tránh lỗi, nếu được. Bỗng bên tai tôi vang lên tiếng hát bâng quơ. Và tiếp theo là tiếng hò hét của bọn trẻ trong xóm.

      - Ê, tụi bay coi ông điên đi!

      - Ồ, ông điên đến rồi tụi bay!

      Bọn trẻ túa ra vây lấy y, chọc ghẹo y.

      Trước mắt tôi là tên lãnh đạo của bạn tôi. Tôi không ngờ cuộc đời lên voi xuống chó nhanh đến vậy. Nhanh như trở bàn tay.

      Trước đây, y cũng là người bình thường như bao người. Y mang cái tính “mỗi người vì mọi người, mọi người vì một người” khi y bắt được cái triết thuyết khoa học xã hội. Y đã sống trong cái thế giới đầy mơ ước. Quả là cái thói mơ mộng của kẻ không thoát khỏi cái ao làng. Như con ếch ngồi dưới giếng mơ về chuyện thần tiên, mơ về kiến thức của những con nòng nọc, mơ về sự tiến hóa của thế giới trong lý luận của Darwin, như chú Dế Mèn trong truyện của Tô Hoài, y nghĩ về cái thế giới đại đồng, cái thế giới chỉ có trong sự tưởng tượng kỳ thú của tôn giáo hay của cái chủ thuyết viễn vông từ những bộ óc siêu việt không tưởng. Y nhiệt thành nghĩ về cái thế giới chỉ có trên sách vở, trên những trang lý luận của các học thuyết vô bổ.

      Cuộc đời dạy cho y nhiều bài học sinh tử, dạy cho y muốn thăng hoa, bên cạnh mơ ước, mộng đẹp, thì cần biết bao nhiêu thứ phải có.

      Thế rồi, y đổi tư duy. Từ cái tư duy cũ kĩ, chỉ biết phục vụ mọi người, y phải quay 180 độ, để mọi người phải phục vụ y. Y biết và thực hiện cho kỳ được điều đó. Và y biết chắc, chỉ là kẻ có tiền, có quyền thì mới được kẻ khác phục vụ. Dù không phải là người có tài, có đức, nhưng dẫu sao, y cũng muốn điều đó. Không có quyền, thì ít ra cũng phải có tiền. Dù thiên hạ không phục, dù thiên hạ không ưa, nhưng có tiền thì có thể có những thứ y ao ước.

      Y đâu quên được cái ngày tập tành kinh doanh địa ốc. Trăm điều xảy ra với y. Những lý thuyết trong sách vở thánh hiền đã gây khó cho y. Những thứ dính líu đến lòng nhân ái, vì mọi người mà phục vụ, phục vụ bằng chữ tâm, chẳng đem lại cho y được một bữa no nào. Những đồng tiền vay ở ngân hàng ngày càng nhiều, những nợ nần mượn ở các nhân viên dưới quyền ngày càng chồng chất. Có khi, y phải nhịn ăn sáng, nhịn cả thư giản, vui chơi ngày chủ nhật mà làm bộ kiêng khem, mà làm bộ bận rộn. Y ngộ ra một điều những thứ giáo điều nhân đạo, có thời y đã coi như là máu thịt, chỉ đáng nằm trong thư viện, để rồi con cháu y muốn hiểu rõ cuộc đời y thì vào thư viện hoặc lên mạng tra cứu. Còn không thì để cho mối mọt gặm nhấm hoặc để thả lửng trên mạng.

      Để tồn tại, y đổi mới tư duy theo định hướng kinh tế thị trường mang cái nhãn mác mới trong cách nghĩ, cách làm. Bằng mọi cách trong kinh doanh, y dùng nước bọt để làm giàu. Chỉ cần “cò” qua “cò” lại là y có thể kiếm ra khối tiền. Y không ngờ thời cuộc thay đổi nhanh đến vậy.

      Và lại thay đổi thời cuộc. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã kéo theo khủng hoảng trong kinh doanh địa ốc. Y cũng không thể thoát khỏi sự khủng hoảng đó. Mọi người quanh y đã dè sẻn cách sống. Họ dịch biến để tồn tại. Y cũng muốn dịch biến để tồn tại. Nhưng, cái tư duy đổi mới quá nhanh, cái tư duy muốn hốt của của người khác cứ ám ảnh y trong khi ăn, khi ngủ.

      Rồi ngân hàng đòi nợ. Các nhân viên đòi tiền. Rồi vợ li dị. Cả đứa con trai độc nhất cũng bị vợ y quyết không cho y gặp mặt. Y không còn gì cả!

      Trằn trọc, nghĩ suy mấy đêm, y ngẫm khối thằng không ra gì mà vẫn sống phây phây. Biết bao thằng có tiền, có quyền, tham lam mà vẫn sống sướng. Bọn chúng ngày một giàu có thêm, ngày một được trọng vọng. Quả là chúng xứng đáng là những kẻ có tài! Nếu có vỡ lở chuyện tham nhũng, ăn cướp của công, bọn chúng trốn biệt như có phép tàng hình. Một sợi lông của chúng vẫn không bị rụng. Còn y có còn gì đâu? Y bứt tóc. Y đấm vào đầu. Y mệt mỏi, thẫn thờ. Từ đó, y không ngủ được. Y luôn thức. Thức 24 trên 24.



***

      Thằng bạn tôi vẫn còn buồn bực mỗi khi có ai đó nhắc lại chuyện hắn bị lừa gạt. Tôi thường khuyên hắn thôi thì cứ sống vui đi. Biết hắn thích nhạc Trịnh Công Sơn, nên khi hắn có tâm trạng bực buồn, thì tôi lại chọc hắn qua điện thoại: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui…

      Thằng bạn tôi lại gọi điện mời tôi uống cà phê. Tôi muốn biết thêm về tên lãnh đạo lừa phỉnh bạn tôi, nên tôi nhận lời. Qua trò chuyện, tôi được biết thêm cái tình tiết làm cho y phải chuốc lấy tai ương sống trong tâm thế dật dờ . Ôi, có phải đó là nhân quả?

      Một hôm, lúc nửa đêm, đứng trên ban công khu chung cư cao tầng dành cho người thu nhập thấp – vì nhà y bị tịch thu trừ nợ xấu, y nhìn chung quanh. Trước mắt y đâu rôi thành phố đẹp về đêm? Đâu rồi hàng cây bên đường, nơi y hẹn hò cùng vợ thuở học trò? Đâu rồi những buổi tiệc tùng vui thâu đêm suốt sáng? Đâu rồi những lần y lên sân khấu nhận giấy khen trong tiếng vỗ tay chúc tụng của mọi người? Đâu rồi những cái bắt tay cùng quan chức? Đâu rồi? Đâu rồi?... Y ôm đầu, tức tưởi. Y cảm thấy cả thành phố như đảo lộn. Rồi y thét một tiếng rõ to. Y nhảy xuống đất tìm những cái đâu rồi ấy. Không may, y không chết được. Từ đó, y sống trong tâm thế dật dờ.

      Chỉ thấy y hàng ngày nghêu ngao hát, nghêu ngao cười khóc. Gặp gì ăn nấy. Gặp gì mặc nấy. Y đeo một cái bao đựng đồ ăn thức uống. Còn quần áo, ai cho gì, y cũng mặc vào. Càng ngày áo quần dơ bẩn như bám lấy y. Y giắt áo quần đủ loại quanh người, kể cả xu chiêng, xi lip...

      Y trở thành một con người lạ lẫm ở cuộc đời. Y nghêu ngao hát giữa trần gian...

      Y không còn biết những gì đang xảy ra. Dù ở đâu đó có chiến tranh vì khí dầu, vì biển đảo. Dù ở đâu đó có động đất, sóng thần. Dù ở đâu đó đức Cha đang làm thánh lễ. Dù ở đâu đó các Tỳ Kheo, Hòa Thượng đang cầu an bình đến với thế gian. Dù trên cả thế gian mọi người đang sợ ngày tận thế…

      Y vẫn hát nghêu ngao ở giữa trần gian...

      Trên cuộc đời này, y hát như chưa bao giờ được hát.

      Y hát về cõi viễn vông giữa trần gian…

      Và các bạn có biết không? Tôi cùng bạn tôi đang uống cà phê. Những âm thanh của những bản nhạc không lời đang cùng chúng tôi hiện hữu. Tôi nghe âm thanh yên bình Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui…





Tháng 4-2012

Phan Trang Hy
phantranghy@gmail.com
READ MORE - HÁT GIỮA TRẦN GIAN - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

NHỚ NHÀ - thơ Nguyễn Thanh Bá

Xóm bên sông. Ảnh của Lê Đăng Mành



Chiều nay như mọi buổi chiều qua

Lòng những bâng khuâng nỗi nhớ nhà

Nhớ mẹ tảo tần phiên chợ sớm

Thương cha lầm lũi cánh đồng xa

Nửa đời sự nghiệp chưa thành đạt

Một hướng tương lai cứ nhạt nhoà

Mong ước mai sau tròn ý nguyện

Đáp đền nghĩa mẹ với công cha!


Nguyễn Thanh Bá

READ MORE - NHỚ NHÀ - thơ Nguyễn Thanh Bá

THỊ XÃ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TỪNG MỘT LẦN CHẾT - Truyện ngắn của Nguyễn Bá Trình

Tác giả NGUYỄN BÁ TRÌNH


        Khi nói thị xã của những người từng chết, thường khiến ta nghĩ đến những nghĩa trang xinh đẹp sang trọng mà người chết thường là thân nhân của những kẻ giàu có. Họ muốn tỏ lòng thương tiếc người quá cố thật sự, mà cũng có thể đó là cách để người sống phô trương sự giàu sang của mình. Biết đâu người nằm dưới lòng ngôi mộ có lối kiến trúc như một đền đài tráng lệ thu hẹp kia, lúc sống lại bị con cái ghẻ lạnh, có khi còn bị bỏ đói nữa là đằng khác. Ôi có nhiều nguyên nhân để người ta đổ tiền của ra để xây một ngôi lăng mộ cho thật hoành tráng. Mà biết đâu số tiền bỏ ra xây cất chỉ bằng một phần trăm phần ngàn số tiền thu lại được… Nhưng không. Tôi không nói đến cái thị xã kiểu đó. Cái thị xã tôi nói ở đây là thị xã của những con người sống thực sự và họ là những người thực sự đã trải qua một cái chết. Có người được moi lên từ đống gạch vụn. Có người được đem về từ nhà xác sau khi bệnh viện hoặc trạm xá nào đó đã lập giấy chứng tử. Có người đã thấy tận mắt người nầy đã bị nổ tung trong một chiếc xe trúng mìn. Nhưng giờ thì người ấy vẫn còn sống sờ sờ ra đó. Vậy thì gọi thị xã nầy là gì? Cái thị xã có đến trên mười ngàn người chết trong vòng ba tháng ấy! Tất nhiên không có sự thống kê người chết nào trên thế giới mà chính xác cả. Có người chết đã qua mấy cái giỗ lại lù lù trở về. Có kẻ đã chết mười đời tu huýt mà người thân vẫn nhận lương tháng đều đều. Đấy là chưa kể những người còn sống lồ lộ trước mắt mà thực sự tâm hồn họ đã bị giết chết do hoàn cảnh nghiệt ngã nào đó. Tôi trở về thăm thị xã của những con người như thế. Trong đó có một người thân thương nhất của đời tôi trước đây.   

        Sở dĩ tôi nhớ không sai ngày tôi rời xa thị xã nhỏ ấy, nơi tôi sống qua tuổi học trò của mình, đến nay là đã trên hai mươi năm, vì quê tôi chỉ cách thị xã chưa đầy mươi cây số và ngày đó tôi cùng bà con thị xã rời quê hương mình trong cảnh trên đầu thì đạn vãi như mưa, dưới chân thì ngổn ngang xác chết. Trong sóng người giẫm đạp lên nhau mà chạy đó có người tôi yêu. Một nữ sinh nhỏ hơn tôi hai lớp của trường trung học thị xã. Ra đi như thế có muốn quên, và tôi đã bao lần muốn quên, nhưng  quên sao được. Tôi bay đi như con chim bị bão lùa. Quay cuồng, vùi dập, xác xơ. Mấy mươi năm sau lại quay về. Trong lòng nguyên vẹn những thương tích. Cùng với mặc cảm của người vô tình bạc nghĩa. Đi chi mà đi dữ rứa. Một người bà con đã vịn vai tôi khóc khi thấy tôi trở về.

        Từ thành phố nơi tôi đang sinh sống, về quê chưa đầy mấy tiếng tôi vội vã lên thăm thị xã với hy vọng mỏng manh sẽ gặp lại những người thân yêu cũ.

        - Xin lỗi, chị cho tôi hỏi, chị ở đây đã lâu chưa?

        Người đàn bà ngồi ở ngưỡng cửa đang cho đứa bé ăn cháo, nghe hỏi nhìn ra.

        - Lâu rồi, có chuyện gì không anh?

        - Tôi muốn hỏi con đường Quang Trung trước giải phóng giờ là đường nào đây chị?

        - Dưới chân anh đấy. Người đàn bà trả lời và giải thích thêm - Giờ là đường Trần Phú.

        - Vậy thì bến xe thị xã hồi đó ở đâu?

        - Ngay sau lưng anh.

        Tôi ngoảnh lại phía sau lưng, bên kia đường là một dãy nhà san sát. Mấy cái nhà cấp bốn như bị mấy ngôi nhà lầu kẹp chặt không thể vùng vẫy. Bán tín bán nghi tôi hỏi lại:

        - Chị ở đây lâu chưa.
        - Cũng mấy chục năm.

        - Trước hay sau giải phóng.

        - Sau. Vợ chồng tôi đều là thương binh. Sau giải phóng được nhà nước cấp ngôi nhà nầy. Người đàn bà thở ra: Cả hai vợ chồng tôi chết đi sống lại giờ mới được được cấp ngôi nhà nầy đây anh à. Anh hỏi ai?

        - Nhà một người bạn gái trước ngày giải phóng. Tôi nhìn quanh và nói - Nếu đây là đường Quang Trung và bến xe phía bên đó thì nhà người ấy chắc cũng là một trong mấy cái nầy.

        Người đàn bà lắc đầu cười:

        - Khi chúng tôi đến đây thì chẳng còn nhà cửa gì cả. Xe ủi đã san bằng để phân lô lại. Nhà nầy tôi xây năm… Người đàn bà nhìn lên phía trên bậu cửa có đúc hàng số ghi năm xây cất.

        Tôi chào người đàn bà rồi lửng thững bước đi. Cảnh cũ chẳng còn, người xưa cũng mất. Tôi không còn tâm trạng để dạo quanh tham quan nơi chốn mà trước đây lòng cứ thiết tha mong có một ngày trở lại.Tất cả đã hoàn toàn xa lạ.

        - Anh gì đó ơi!

        Tôi quay lại. Người đàn bà lúc nãy bước ra đường gọi vói theo.

        - Có gì không chị?

        - Cách đây năm nhà, người đàn bà chỉ tay hướng tôi đang đi, nói: Nhà của chị Ba, trước giải phóng là người của khu phố nầy. Anh đến đó hỏi thăm thử.

        Tôi gõ cửa, một cô gái có lẽ mới qua tuổi học sinh chưa lâu bước ra.

        - Chú hỏi ai?

        - Chú có chút việc muốn hỏi thăm chủ ngôi nhà nầy.

        - Chú đợi cháu đi gọi dì cháu.

        Cô gái chạy lui nhà sau.

        Một người đàn bà bước ra. Tôi không đoán được tuổi vì phía mặt bên trái của người đàn bà có vài vệt mầu đỏ hẩm, da láng căng. Có lẽ bà ta đã phải trải qua một cơn cháy bỏng khá nặng. Một cái sẹo tuy không lớn nằm sát dưới cằm cũng đủ làm môi dưới của người đàn bà biến dạng để khó ai có thể nhận ra nét vẻ thời con gái của người đàn bà. Chỉ còn lại đôi mắt với hàng mi cong vút và chiếc mũi thẳng đủ để cứu vớt khuôn mặt người đàn bà lại cho có vẻ dễ coi. Chắc chắn người đàn bà nầy có một thời xuân sắc. Trên tay đang bưng li nước, người đàn bà hỏi:

        - Anh hỏi ai?

        - Xin lỗi chị ở đây từ trước giải phóng phải không?

        - Dạ.

        - Cũng ngôi nhà nầy?

        - Làm gì còn ngôi nhà nào trước giải phóng. Anh muốn tìm cái gì đó trước giải phóng thì chỉ nước đào đất lên. Nói xong người đàn bà chăm chăm nhìn tôi. Có phải do mắt bà nhìn tôi không rõ chăng.

        - Tôi muốn hỏi thăm một người. Trước cũng ở quanh quẩn đâu đây, gần bến xe thị xã.

         Người đàn bà gật đầu. Cái gật đầu xác nhận có cái gì đó trong câu nói của tôi là đúng, khiến tôi phấn khởi.

        - Vậy anh hỏi ai?

        - Hồng. Cô Nguyễn Thị Hồng. Những năm bảy mươi cô ấy còn là nữ sinh trường trung học NH.

        Tôi để ý thấy bàn tay người đàn bà cầm chiếc li bỗng nhiên run run như không có khả năng cầm chặt một vật gì. Tôi hốt hoảng kêu lên khi bà ta buông chiếc li rơi xuống đất. Một tiếng xoảng nước bắn tung tóe. Cô cháu ở dưới bếp chạy lên. Gọi lớn:

        - Có sao không dì?

        Người đàn bà lắc đầu rồi quờ quạng tìm chiếc ghế đẩu bên cạnh ngồi xuống. Tôi thảng thốt hỏi:
        - Chị có sao không ?
        Người đàn bà lại lắc đầu chỉ tay vào chiếc ghế còn lại có ý mời tôi ngồi.

        Đứa cháu vừa nhặt mảnh vụn vừa nói:

        - Không sao đâu chú, lâu lâu có chuyện gì căng thẳng trong nhà dì cháu vẫn thường hay như vậy. Chỉ vài phút thì hết thôi.

        Người đàn bà nhìn ra đường đôi mắt không tập trung. Giọng bà chưa hết cơn run rẩy.

        - Khi nãy anh hỏi cô Nguyễn Thị Hồng phải không? Anh là gì của cô ấy.

        Đáng lẽ thấy sức khỏe suy sụp của người đàn bà tôi nên khuyên bà vào nghỉ, nhưng khi nghe bà nhắc tên Hồng, tôi không tự chủ được vội chụp lấy hỏi.

        - Tôi là bạn của Hồng thời trung học. Chị biết cô Hồng?

        Người đàn bà hỏi lại:

        - Chỉ là bạn thôi sao?

        Làm thinh một lát, rồi bằng thứ giọng lạnh như nước đá, bà nói:

        - Hồng chết rồi. Chết trong cuộc chạy loạn năm bảy hai.

        Bà hướng nhìn ra đường cái đôi mắt như vô hồn.

        - Chị biết chính xác chứ.

        - Chính xác. Sao, sau mấy mươi năm mới trở lại tìm? À mà chỉ bạn học thôi. Tình cờ đi qua rồi ghé hỏi thăm thôi. Người đàn bà như tự nói với chính mình, rồi lặp lại:

        - Nguyễn Thị Hồng chết lâu rồi.

        Tôi thấy có giải thích cho người đàn bà hiểu rằng tôi yêu và thương nhớ Hồng mấy mươi năm qua như thế nào cũng chẳng ích chi. Bây giờ tôi chỉ muốn biết một điều là người đàn bà trước mặt mình có biết đích xác là Hồng đã chết chưa.

        - Chị thấy tận mắt cái chết của Hồng hay chỉ nghe người ta kể lại?

        Vẫn lạnh băng, giọng người đàn bà như thoát ra từ một xác ướp cách đây đã hàng trăm năm:

        - Tn mắt.

        Bất chợt tôi nhận ra có một cái gì đó của sự sống thoáng hiện trong ánh mắt vô hồn của người đàn bà. Chỉ một thoáng thôi rồi trở lại vẻ không thần sắc.

        - Chị có mệt lắm không? Nếu mệt thì chị vào nằm nghỉ. Tôi cảm ơn chị đã cho tôi biết cái tin vừa rồi.

        - Anh không muốn biết cặn kẽ cái chết của người bạn anh sao? Vậy thì xin phép tôi vào nghỉ.

        - Dạ rất muốn nhưng ngại chị còn mệt.

        - Không sao. Giọng nói của người đàn bà chậm rãi có khi như muốn hụt hơi, kể lại tình hình hỗn loạn lúc bấy giờ. Mỗi lần thế tôi ái ngại:

        - Chị mệt lắm không?

        Người đàn bà lại lắc đầu. Bà kể tiếp:

        - Gia đình tôi và gia đình cô ấy cùng định leo lên một chiếc xe quân sự lúc di tản. Nhưng Hồng không nhảy lên kịp phải bám vào chiếc xe sau. Chạy được chừng vài cây số đến gần Long Hưng thì tôi thấy xe của Hồng bốc cháy.. . Người đàn bà ngưng kể. Tôi cũng lặng người không hỏi gì thêm. Kể đến đây hình như nỗi thống khổ đã đánh thức đôi mắt người đàn bà khôi phục thần sắc trở lại. Chợt bà quay sang nhìn tôi. Không biết trong ánh mắt nhìn của bà có cái gì đó làm tôi hốt hoảng. Tôi định tâm và tự nhủ có lẽ do mình quá xúc động vì cái chết của Hồng. Chợt người đàn bà vịn ghế đứng dậy và nói:

        - Trước lúc chạy lui bám xe sau, Hồng ném cho tôi cái xách nhờ mang hộ. Trong đó tôi còn giữ cái nầy. Người đàn bà bỏ vào phòng. Lát sau bà liểng khiểng bước ra, trên tay cầm một mảnh giấy gì đó như là tấm ảnh. Người đàn bà chìa ra trước mặt tôi và nói:

        - Anh xem có phải Hồng nầy không.

        Nhìn kỹ. Hồng! Đúng là Hồng. Tôi không quên tấm ảnh nầy. Tôi và Hồng chụp trước cổng trường NH dưới gốc cây dương liễu. Đó là cuối năm Hồng học lớp đệ tam. Tôi quay sang người đàn bà và nói:

        - Đúng là Hồng, chị ạ.

         Sau cái cảm giác thảng thốt là một nỗi buồn nhào trộn với nỗi tuyệt vọng: Vậy là Hồng đã chết thật rồi. Một chặp thật lâu tôi mới mở miệng được.Tôi nói với người đàn bà:

        - Nếu được chị cho tôi xin tấm hình nầy.

        Người đàn bà vẫn nhìn ra ngõ:

        - Không. Đó là một kỷ niệm đau buồn đối với tôi. Cuộc đời thật kỳ lạ. Đôi khi con người ta sống được cũng nhờ biết giữ trọn vẹn cho mình những kỷ niệm đau buồn đấy anh ạ.                     

        Thấy người đàn bà đã quá mỏi mệt, tôi phải chào từ giã với một cảm giác thật kỳ lạ giống như khi phải xa một cái gì đó thật thân thuộc mà mình không còn có quyền giữ riêng cho mình nữa.

        Tôi không đi xe ôm, muốn tản bộ một mình cho hết con đường Trần Phú, trước đây là đường Quang Trung mà tuổi thơ tôi hàng ngàn lần qua lại. Trong lòng chẳng buồn hỏi thăm ai một điều gì nữa.

        Đi qua khỏi trường Trung học Phổ thông thị xã. Rẽ trái, tôi mường tượng ra vị trí ngôi trường NH, một thời tôi và Hồng đã học trung học ở đó. Nó phải cách chỗ tôi đang đi chừng năm trăm mét nữa. Và tất nhiên tôi cũng biết ngôi trường đó giờ cũng đã chôn sâu dưới mặt đất. Nhưng đến khúc đường mà tôi đinh ninh là vị trí ngôi trường xưa thì thấy nhà cửa hai bên cũng mọc san sát nhau.

        Đành phải hỏi thăm thôi.

        - Anh cho tôi hỏi thăm, anh ở đây lâu chưa?

        - Lâu. Anh hỏi ai ?

        - Tôi muốn hỏi ngôi trường Trung học NH trước giải phóng giờ ở đâu?

        - À, chỗ đó bây giờ là Trường trung học thị xã mà anh mới đi qua đấy.

        - Anh có nhầm không?

        - Sao lại nhầm! Tôi là học sinh lớp đệ thất đầu tiên của trường NH đây.

        - Vậy mà tôi cứ nghĩ tất cả những gì của cái thị xã bất hạnh nầy trước năm bảy lăm đều đã chôn vùi dưới mặt đất.

        - Nghĩ vậy thì có gì sai đâu. Tôi cũng được người ta moi lên từ dưới mặt đất đây. Mà sao lại gọi thị xã nầy là thị xã bất hạnh? Thị xã anh hùng nhất nước đấy chứ. Anh cứ nghĩ trên mười ngàn người chết trong vòng ba tháng cũng vì giành giật cái mảnh đất mười mấy hec-ta nầy. Nói xong, đôi môi của người đàn ông như bị co rút lại trong cái dáng vẻ khó biết là người nói muốn khóc hay muốn cười.

        - Anh ở đâu mới đến hả? Chắc cũng là học sinh cũ của trường NH phải không?

        Tôi trở lại Trường trung học phổ thông thị xã. Anh giáo viên trẻ giới thiệu cho tôi vị trí của trường NH. Chỗ nầy trước kia là cổng, phía đó là dãy lầu hai tàng… Tôi lắc đầu tỏ ra không hiểu nổi và xót xa với ý nghĩ rằng có lẽ vài trăm năm sau người ta mới đào lớp đất tôi đang đứng đây để tìm hiểu về những sự thực được vùi lấp dưới đấy, mà tôi là người trong cuộc cùng thời lại chẳng biết một điều gì cả.

            - Chú ở nước ngoài mới về?

        Tôi gật đầu. Dù tôi không phải ở nước ngoài về. Bạn đừng hiểu nhầm. Chỉ vì tôi thấy xấu hổ: Mình ở trong nước mà phải đợi đến mấy mươi năm sau cơn khói lửa mới trở về tìm tin tức những người thân yêu cũ. Hỏi còn tình nghĩa chỗ nào nữa mà trở về! Nhưng tôi có hoàn cảnh và tâm sự của riêng tôi.

        Ngoài việc tìm kiếm  tin tức của Hồng ra, tôi còn một điều tâm niệm nữa là tìm một thằng bạn thuở trung học. Quê nó trước kia thuộc ngoại vi thị xã nhưng nghe nói bây giờ đã nằm trong vùng quy hoạch thị xã mới. Thuở đi hoc tôi cũng thỉnh thoảng đạp xe đến nhà nó. Ăn cơm ở nhà nó mấy lần. Đường tới xóm cũ bây giờ tôi chỉ nhận ra được mỗi chiếc cầu đúc, còn tất cả đã đổi khác. Tìm hỏi những người cùng lứa tuổi  tôi trở lên, tuyệt nhiên không ai biết tên Họat. Ra đường hỏi trẻ con. Nghe có vẻ nghịch lí. Nhưng người lớn thì  tôi đã hỏi nhiều rồi. Tôi chuyển qua tìm hỏi những đứa trẻ. Cuối cùng phải đến mấy đứa, tôi mới chộp được một cu cậu đang chạy xe đạp liếng thoắng ngược hướng về tôi. Chắc là nó tưởng tượng đang lái xe con hay xe tải gì đó. Hai chân đạp vù vù hai tay không ngớt bẻ vô lăng trái phải.

        - Nầy cậu bé. Tôi đưa tay ra chận thằng cu lại. No thắng gấp quá nên bánh xe sau trượt một  đoạn dài mới dừng lại trước mặt tôi.

        - Cho chú  hỏi một chút. Ở khu nầy cháu biết có người nào cỡ tuổi chú mà tên Hoạt không?

        Thằng bé im lặng suy nghĩ một đỗi.

        - Dạ có, chú Năm Hoạt phải không? Chú ấy chết rồi.

        - Chú Hoạt chết rồi sao. Nhà chú ấy ở đâu cháu dẫn chú đến thăm một chút được không?

        - Chú theo cháu. Đứa bé vui vẻ dẫn xe đi bộ cùng tôi.

        - Nhà chú Hoạt ở đường nào để chú chở đi.

        - Gần tượng đài.

        Nhà thằng bạn hồi đó tôi nhớ, có ở bên tượng đài nào đâu. Mình ngớ ngẩn thật, giờ thì ở đâu mà chẳng có tượng đài. Theo tay cậu bé chỉ tôi lai nó và đạp gấp rút. Tôi bảo cậu bé:                

        - Đi nhanh một chút, chú phải về ga cho kịp chuyến tàu chiều.

        - Về đâu?

        - Vào thành phố.

        -Thành phố đó xa không?

        - Xa lắm phải đi tàu mất hai đêm một ngày.

         Đi quanh co một chặp, đứa bé bảo dừng lại trước một ngôi nhà đúc có vẻ như mới xây.

        - Nhà chú Hoạt đó. Nói xong đứa bé đạp xe vù chạy, hai tay không ngớt bẻ vô lăng.

        Một cậu con trai lớn hơn thằng bé khi nãy một chút trong nhà đi ra hỏi:

        - Chú hỏi ai ?

        - Chú muốn hỏi nhà chú Hoạt.

        - Dạ cháu là Hoạt đây. Chú hỏi gì?

        Tôi chưng hửng. Thằng bé bảo Hoạt cỡ tuổi mình đã chết rồi kia mà.                                                  

        - Có lẽ chú nhầm, thôi chào cháu.

        Lúc trở về đi qua thị xã sao tôi lại muốn đi bộ qua con đường Quang Trung một lần nữa. Đi nhưng giờ thì không tìm ai cả. Hồng đã chết. Đường phố chẳng còn ai quen. Rồi nghĩ lại người đàn ông được người ta moi lên từ dưới đất mà tôi gặp ban sáng. Trong chiến tranh, nhiều chuyện phi lí đều có thể trở thành có lí. Vậy thì biết đâu Hồng chưa chết trong chuyến xe định mệnh kia và đang sinh sống tại một nơi nào đó. Ý nghĩ ấy thôi thúc tôi tìm hỏi một lần nữa dù không mấy hy vọng lắm.

         Hỏi mấy nhà gặp toàn người lạ. Hầu hết họ đều nói giọng Bắc. Điều đó có nghĩa là họ là cán bộ mới được cấp nhà sau nầy. Cuối cùng cũng gặp được một bà cố cựu ở đường nầy, trạc hơn tôi năm bảy tuổi. Bà khẳng định:

        - Ai bảo cô Hồng chết trên xe? Cô Hồng đang sống ở ngôi nhà 120 đấy, anh đã đến đó hỏi chưa?

       Tôi nói:

        - Không phải. Tôi đã vào hỏi thăm chị ấy rồi. Chị Ba ấy trước đây là bạn của cô Hồng.

        - Vậy thì tôi không biết.





        Tôi lên chuyến tàu năm giờ chiều để về thành phố. Lên tàu rồi nhưng tôi vẫn đứng ở cửa lên xuống. Tôi muốn nhìn thấy thị xã một lần cuối trước khi tàu chuyển bánh. Trong đầu tôi lại hiện về hình ảnh những người tôi đã tìm gặp và những câu nói của họ. Vợ chồng tôi chết đi sống lại mới được cấp ngôi nhà nầy. Tôi cũng được người ta moi từ dười đất lên… Vậy thì tại sao không có trường hợp xe của Hồng nổ tung mà Hồng lại không thoát chết một cách kỳ diệu. Người đàn bà mặt nám bỏng đó là ai mà có được tấm hình của Hồng. Và câu nói: Đôi khi con người ta sống nổi cũng nhờ biết giữ gìn trọn vẹn những kỷ niệm buồn, có ý nghĩa như thế nào? Lại bà hàng xóm kia sao cứ khăng khăng bảo nhà người đàn bả thương tật đó là nhà của Hồng! Một tia sáng lóe lên trong đầu tôi. Đúng rồi!

        Đồng thời cùng lúc với tia chớp lóe ấy, cây cối nhà cửa trước mắt tôi lao nhào vun vút. Một tiếng thét đâu đó mơ hồ át đi trong tiếng rít của bánh tàu. Và khi tôi có cảm giác đầu mình chạm mạnh vào một cái gì đó cứng lắm thì tiếng rít của bánh tàu bỗng nhiên âm vang và tôi nghe mang máng như tiếng ai gào:

        - Đừng xa… đừng xa… đừng xa!



                                               Saigon 15/7/2011
                                              Nguyễn Bá Trình
bichlien101046@yahoo.com.vn





Website counter
READ MORE - THỊ XÃ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TỪNG MỘT LẦN CHẾT - Truyện ngắn của Nguyễn Bá Trình