Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Ngọc Long. Show all posts
Showing posts with label Ngọc Long. Show all posts

Saturday, June 15, 2013

NỖI LÒNG MỘT NHÀ BÁO BỊ… ĐỤC BỎ TÊN MÌNH KHỎI BÀI THƠ NỔI TIẾNG - Ngọc Long

Lê Bá Dương
Sông Thạch Hãn của mùa hè Đỏ lửa trong trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị đã ôm vào lòng mình hàng vạn chiến sỹ lứa tuổi 20.

Suốt gần 40 năm qua sau ngày giải phóng, hàng năm có một người lính vẫn lầm lụi vài ba lần về đây mua gom hoa, nhang thắp và thả xuống dòng sông, nơi ôm ấp hàng vạn linh hồn liệt sỹ đang gối mây trời yên giấc. Người lính đó là Cựu chiến binh (CCB), Nhà báo Lê Bá Dương.

Sau một lần thả hoa, đang thả hồn hoài niệm những ngày khói lửa, từng gương mặt đồng đội hiện về trong tâm trí, như thần giao cách cảm với hương hồn đồng đội, tâm trí nhà báo vụt lóe lên bốn câu thơ.

Sau này có dịp ngồi bình tâm lại và trò chuyện cùng bạn bè, bốn câu thơ “thô” đã được trình bày trang trọng lại và nhanh chóng nổi tiếng, trở thành những vần thơ “thần” đối với cả người sống và anh linh người đã khuất.

Bài thơ đó mang tựa đề “Lời Người Bên Sông” của tác giả Lê Bá Dương, phóng viên thường trú của báo Văn hóa Khu vực Miền Trung – Tây Nguyên.

Đò lên Thạch Hãn ơi…chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi nghìn năm.

Bài thơ vốn nổi tiếng bởi có rất nhiều dị  bản, và bởi được nhiều nhạc sỹ, văn sỹ phóng tác, phổ nhạc. Giờ đây, bài thơ lại làm nóng các trang mạng và công chúng khắp nơi về việc vi phạm tác quyền và xúc phạm giá trị tâm linh của bài thơ.

Từ  năm 2009, vốn nhờ sự vận động, kết nối của chính Nhà báo Lê Bá Dương, người ta đã quyên góp xây dựng lên hai bến thả hoa ở bờ Bắc và Nam sông Thạch Hãn. Đồng thời trên đó, họ cũng đã dựng lên hai tấm bia có khắc bốn câu thơ tâm linh kể trên. Một điều phi lý đến khó hiểu là người ta đã…đục bỏ tên tác giả ra khỏi bài thơ và thay vào đó bằng một…đóa hoa sen.

Sự  việc mặc dù đã tồn tại gần 4 năm qua nhưng mãi tới những ngày đầu tháng 6 mới đây, báo chí mới có dịp đăng một bài viết về việc này. Do bài thơ đã được nhiều người biết đến nên sự việc nhanh chóng trở thành đề tài nóng khiến nhiều độc giả quan tâm và hoài nghi việc làm phi lý kể trên.
  

Tấm bia khắc bài thơ bên bờ Nam với bố cục thể lục bát: Ảnh chụp 2010


Bài thơ vốn được xem là tiếng lòng của những người còn sống và cả những người đã nằm dưới đáy sông hay sườn núi, con khe. Các cựu binh còn sống mỗi khi lẩm nhẩm bài thơ thì những hình ảnh khốc liệt, đau thương lại hiện về như chuyện mới hôm qua khiến mắt họ lại nhòa lệ. Với những người đã mãi mãi hòa tan vào đất, nước Quảng Trị thì bài thơ như lời nhắn nhủ của họ gửi tới đồng đội, đồng bào; tới các thế hệ Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau về một con sông đầy bi hùng, oanh liệt. Vì vậy, bất cứ một sơ suất nào trong việc sử dụng bài thơ đều khiến cả người sống và người đã hy sinh cảm thấy bị xúc phạm.

Như đã nêu trong bài viết trước đây về vấn đề này, việc đục bỏ tên tác giả là do những người có trách nhiệm cho rằng, bài thơ của Lê Bá Dương đã trở thành thơ…nhân dân (?), một khái niệm chưa từng tồn tại - kể cả với Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Sau khi vấn đề được công luận quan tâm, nhiều bạn đọc địa phương đã đến tận nơi kiểm chứng và phát hiện thêm nhiều sai sót như chất liệu đá khắc bài thơ không tốt; chữ khắc không đủ sâu, rõ; sơn chữ dễ bay màu; bố cục bài thơ khắc mỗi nơi mỗi kiểu; dùng từ không đúng nguyên bản bài thơ…

Tại sao việc khắc bài thơ vẫn tồn tại suốt hơn ba năm qua mặc dù vừa thể hiện sự ngang nhiên vi phạm luật bản quyền – không để tên tác giả, vừa thể hiện sự cẩu thả - xem thường các giá trị tâm linh truyền thống?

Qua trao đổi với người thân, bạn bè, đồng đội của Nhà  báo Lê Bá Dương, chúng tôi được biết một sự thật buồn lòng. Suốt mấy năm qua, ông vẫn trăn trở và đắn đo về việc này.

Một mặt, nếu lên tiếng về bài thơ, có nghĩa là ông đòi quyền lợi cá nhân mình. Trong khi, bao nhiêu năm ngược xuôi Nam, Bắc, lo các việc ân nghĩa cho thân nhân Liệt sỹ, cho đồng đội, cho đồng bào Quảng Trị, ông chưa từng so đo thiệt hơn. Hơn nữa, ông không đành lòng lên tiếng về bài thơ khiến ít nhiều làm tổn hại đến thanh danh của mảnh đất mà ông xem như là quê hương thứ hai của mình.

Mặt khác, ông thấy rõ việc khắc bài thơ với nhiều sai sót là một việc làm xúc phạm tới các Liệt sỹ, các CCB mà ông là một cá thể đại diện. Hơn cả là việc làm này rồi sẽ lọt vào mắt của du khách thập phương trong – ngoài nước, các cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước có dịp qua đây, các cựu chiến binh về đây thăm lại chiến trường xưa. Nếu không lên tiếng thì chính ông cũng cảm thấy chưa phải với những vong linh đồng đội của mình.

Dù vậy, hàng năm, ngoài việc luôn hoàn thành nhiệm vụ của một Nhà báo, CCB Lê Bá Dương vẫn chuyên cần thực hiện các hoạt động tri ân đồng bào Quảng Trị và đồng đội một thời trận mạc. Những việc làm của ông đã được hưởng ứng và nhân rộng, hình thành nên các chuyến hành hương với sự tham dự của hàng trăm CCB trong cả nước như hành hương Ấm rừng Đồng đội, Mang Quê hương vào cho Đồng đội, Đưa Đồng đội về với Quê hương...Nhiều phóng viên của các báo trong cả nước tham dự các chuyến hành hương này cũng đã có những tư liệu quý giá để viết lên các bài viết phong phú về đề tài lịch sử.

Tới đây là ngày báo chí Việt Nam, Nhà báo Lê Bá Dương đã luôn luôn duy trì và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của Báo chí cách mạng, vừa hoàn thành nhiệm vụ của một nhà báo, vừa nêu cao gương sáng trong việc tổ chức, thực hiện các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Quần chúng nhân dân và lực lượng báo chí cần có tiếng nói đề xuất đến những người có trách nhiệm ở Quảng Trị trong việc sửa sang lại tấm bia khắc bài thơ và bổ sung tên bài thơ, tên tác giả. Việc làm này ngoài ý nghĩa tôn trọng pháp luật (quyền tác giả - tác phẩm) hay giá trị tâm linh của bài thơ thì còn mang ý nghĩa tri ân công lao một Nhà báo đã luôn hết sức với nhiệm vụ và hết lòng với đồng bào, đồng đội.


Ngọc Long
lnguyen647@gmail.com


BÀI LIÊN QUAN
VỀ BÀI THƠ LỜI NGƯỜI BÊN SÔNG
READ MORE - NỖI LÒNG MỘT NHÀ BÁO BỊ… ĐỤC BỎ TÊN MÌNH KHỎI BÀI THƠ NỔI TIẾNG - Ngọc Long

Tuesday, June 11, 2013

TẾT ĐOAN NGỌ TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT - Tiểu Linh



Tết Đoan Ngọ là một ngày lễ hội cùng diễn ra ở nhiều nước Châu Á như Hàn Quốc, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản.

Ý nghĩa của tết Đoan Ngọ

Tết  Đoan Ngọ hay tết Đoan Dương, tết giữa năm, tết giết sâu bọ…diễn ra vào ngày mùng 5 tháng 5 (Âm lịch). Đoan là bắt đầu, Ngọ hay Dương đều mang nghĩa là lúc giữa trưa, lúc nhiều dương khí. Ngọ cũng là tháng Năm (Âm lịch), khi mặt trời gần trái đất nhất, dương khí thịnh nhất.

Những ngày đầu tháng 5 đồng thời cũng là những ngày giao mùa, mùa nắng sang mùa mưa, lạnh sang mùa nóng. Trong nông nghiệp xưa, đây là những ngày giao vụ từ vụ Chiêm sang vụ Mùa. Những ngày này, các loài sâu bọ cũng bắt đầu sinh sôi nảy nở mạnh mẽ. Người ta truyền nhau nhiều tập tục văn hóa lễ hội, ăn uống, hái lá thuốc… để tạ ơn tổ tiên; cầu cho mùa màng bội thu, con người được khỏe mạnh, không bị ốm đau, bệnh tật, ma quỷ quấy phá.

Đặc trưng văn hóa trong ngày này ở các quốc gia

Ở Việt Nam ta, ngày này mỗi nơi có các hoạt động văn hóa và món ăn đặc trưng.

Người Mường vùng Mường Khương có món đặc sản bánh Khúc truyền thống rất ngon. Nguyên liệu làm bánh là gạo nếp ngon, rau Khúc (một chi của họ hoa Cúc), đậu xanh, hạt vừng (mè) rang. Gạo ngâm kỹ, xay nhuyễn cùng rau Khúc rồi nhào thành bột, làm thành bánh có bỏ nhân đậu xanh trộn vừng rang. Bánh được hấp hoặc rán.

Người Kinh miền Bắc thì thường ăm cơm rượu, trái cây và một số loại bánh vào sáng mùng 5 ngay sau khi ngủ dậy để giết hết sâu bọ trong người. Theo người già thì cơm rượu làm cho sâu bọ trong người bị say, phải ngoi lên, trái cây là kết tinh của cây, cũng là các vị thuốc làm tiệt trừ mọi sâu bọ.

Người miền Trung và miền Nam thì có món bánh ú  lá tre hoặc bánh tro với nguyên liệu cũng là gạo nếp, đậu xanh và một vài thức khác.

Trong mùng 5 tháng 5, nhiều nơi có tục làm mâm cỗ cúng gia tiên; treo lá ngải cứu trước cửa nhà để trừ ma tà; làm túi ngũ sắc đeo cho trẻ em; lên rừng hái thuốc; khảo cây lấy quả (một người trèo lên cây, một người ở dưới dùng sống dao gõ vào thân cây hỏi lý do ít quả và đe dọa chặt cây nếu cây không sai quả, người trên cây sẽ hứa cho quả sai); hoặc có nơi làm thịt Vịt, thịt Ngan để mang về bên nhà mẹ, nhà vợ…

Ở Hàn Quốc, ngày 5 tháng 5 là ngày lễ Dano hay còn gọi là Suritnal (có nghĩa là Ngày dài hay ngày của Trời). Ngày này người ta làm bánh Suritteok và Yaktteok có hình tròn với nguyên liệu cũng từ bột gạo và lá cây Ngải Cứu. Phụ Nữ thường gội đầu bằng thảo mộc, nam giới quấn rễ cây quanh người để trừ tà. Ngày này người ta cũng tham gia các lễ hội đua thuyền, đu quay, đấu vật…, và vào tháng 11 năm 2005 UNESCO đã công nhận ngày lễ Dano của Hàn Quốc là Di sản văn hóa phi vật thể.

Ở Nhật Bản, ngày tết Đoan Ngọ người ta thường treo nhiều cờ cá chép có nhiều màu sắc. Cá chép thành rồng là  ước muốn của các bậc cha mẹ có con trai với mong muốn con mình cũng sớm vượt “vũ môn”. Ngày này, Nhật Hoàng và quý tộc thường tổ chức phát lá thuốc chữa bệnh cho người dân, hoặc tổ chức các hoạt động thể thao như cưỡi ngữa, bắn cung nhằm tiễu trừ ma quỷ. Người dân cũng đi hái lá thuốc,  lấy lá ngải cứu kết thành hình con vật, treo trước cửa nhà, khi nào trong nhà có ai bị đau ốm thì mang xuống sử dụng. Ngày này, người Nhật cũng làm bánh Chimaki giống như bánh ú, bánh tro của Việt Nam ta.

Ở Trung Quốc thì người ta hay gói bánh chưng (trước đây gọi là bánh Kê nếp) vừa để ăn, vừa để biếu lẫn nhau. Một số nơi người ta ăn trứng muối & uống rượu Hùng Hoàng để tiễu trừ tà ma. Những đứa trẻ được quấn chỉ ngũ sắc, mang giày hình hổ…để cầu chúc cho trẻ được khỏe mạnh. Người dân vùng núi thì lên rừng hai lá thuốc. Các khu vực sông Tương, Trường Giang…thì người ta tổ chức đua thuyền Rồng rất náo nhiệt. Các cơ quan trong ngày này đề nghỉ việc và mọi người cũng ghé thăm nhà, chúc lẫn nhau tết nhau.

Nguồn gốc tết Đoan Ngọ bắt đầu từ chủng Việt?

Nguồn gốc của tết Đoan Ngọ mở mỗi nước, mỗi nơi có khác nhau nhưng cũng có nhiều nét ương đồng.

Ở Trung Hoa, từ cuối đời Đông Hán, nhiều người đã cho rằng, tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ cái chết của Khuất Nguyên, một vị quan nước Sở. Do chán chường vì khuyên can vua Sở không nên tin vào nước Tần không thành và bị đầy đi xa xứ, ông đã ôm đá nhảy xuốn sông Mịch La (một nhánh sông Tương ở Hồ Nam, Trung Quốc) tự vẫn vào ngày mùng 5 tháng 5. Đời vua sau tiếc thương nên làm đồ cúng tế, mang ra sông thả xuống. Ông hiện về báo mộng đồ cúng tế bị cá ăn hết nên nhà Vua đã cho gói bánh, cột chỉ nhiều màu thả xuống sông cho cá sợ không ăn. Từ đó dần thành ra tập tục, bao gồm cả lễ hội đua thuyền rồng của Trung Quốc vào ngày này hàng năm.

Theo một truyền thuyết khác thì tết này liên quan đến chuyện Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên tiên. Truyện gần giống Từ Thức lên tiên của Việt Nam. Ngày mùng 5 tháng 5 hai chàng Lưu, Nguyễn vào rừng hái thuốc, gặp tiên rồi cùng sánh duyên. Nửa năm trở về thì cảnh vật, con người đã ra thiên cổ, hai chàng đành bỏ đi đâu không ai biết. Từ đó, người ta dùng ngày ngày 5 tháng 5 tưởng nhớ hai chàng.

Ở Hàn Quốc, tết Đoan Ngọ cũng là để tưởng nhớ một vị tướng tên Gulwon thời vua Hwe, triều đại Cho Sun (TK 13 đến 19), bị địch bắt và tự vẫn để giữ khí tiết trung quân đúng ngày mùng 5 tháng 5. Nếu sự kiện trên là có thật thì tết Đoan Ngọ ở Hàn Quốc mãi từ thế kỷ 13 mới bắt đầu có.

Ở nước ta, tết Đoan Ngọ có tên là tết Giết sâu bọ, tết Giữa năm. Không biết ngày này bắt đầu từ khi nào nhưng trong ca dao Việt có câu:

“Tháng năm là tết Đoan Dương
Nhớ ngày Giỗ mẹ Việt thường Văn Lang”

Theo đó, mùng 5 tháng 5 là ngày giỗ quốc mẫu Âu Cơ. Nhà nhà sắp cơm, bánh để cúng tế, tưởng nhớ tổ tiên. Như vậy ngày giỗ quốc mẫu của Việt Nam phải có từ trước thời Khuất Nguyên cả nghìn năm. Hơn nữa, nước Sở xưa vốn có khối dân Bách Việt chủng Yueh (chủng Việt) chiếm đa số và nắm quyền bính, mà Khuất Nguyên là người nước Sở nên hoàn toàn có thể tin Khuất Nguyên là một người gốc Việt.

Nếu theo Nông Lịch của ông bà ta, mỗi năm của ta bắt đầu từ tháng 11 âm lịch (Một, Chạp, Giêng, Hai…), tức là bắt đầu vào vụ lúa Chiêm. Đầu tháng 5 là kết thúc vụ Chiêm, bước vào đầu vụ Mùa. Đây là giai đoạn bà con nông dân làm lễ tạ ơn trời đất, tổ tiên và ăn mừng mùa vụ. Như vậy, ngày này là ngày đặc trưng của nền Văn hóa Lúa nước, khác xa với Văn hóa Lúa mạch. Vì thế, ngày này rất có thể là được bắt đầu bởi Việt tộc chứ không phải Hán tộc, mà chúng ta còn gọi là Tết giữa năm. Người Việt hoàn toàn có thể tự tin rằng Đoan Ngọ hoàn toàn là tết truyền thống của dân tộc Việt mình.

Tiểu Linh
lnguyen647@gmail.com



READ MORE - TẾT ĐOAN NGỌ TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT - Tiểu Linh

Tuesday, June 4, 2013

TIẾNG VỌNG LỜI BÊN SÔNG – thơ Ngọc Long

Ngọc Long

Phóng tác theo cảm hứng từ bài 
Lời Người Bên Sông của Lê Bá Dương.

Đò ơi... bớ đò ơ!
Ghé chở tôi về lại
Ký ức thời lửa khói
Sóng nhuốm màu đạn bom.

Ngày chúng tôi hai mươi
Có người không về nữa
Mẹ ao nhà trăn trở
Mỏi mắt mò bóng trăng

Ơi mênh mông mênh mông
Nơi Hồ Khê núi thẳm
Đồng đội tôi vang mãi
Bài ca của non sông

Ơi mênh mông mênh mông
Bạn ngủ với dòng sông
Gối mây trời yên giấc
Sóng dâng trào nghìn năm.

Tôi hòa vào Thạch Hãn
Tôi hòa vào Hồ Khê
Nước quê mẹ ngọt lắm
Đất quê mẹ nồng thắm.

Đò lên nhẹ đò... ơi!
Van đò nhẹ! Đò... ơi! 

Ngọc Long
lnguyen647@gmail.com

READ MORE - TIẾNG VỌNG LỜI BÊN SÔNG – thơ Ngọc Long

Sunday, June 2, 2013

MỘT BÀI THƠ NỔI TIẾNG…BỊ KHUYẾT DANH - Bài và ảnh: Ngọc Long

Ba năm trước, tôi đến Quảng Trị, đi qua bến thả hoa Thạch Hãn, đọc được bài thơ "Lời người bên sông" khắc trên những tấm bia đá hai bờ Thạch Hãn:

"Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ 
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm 
Có tuổi hai mươi thành sóng nước 
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm"

Bài thơ không đề tên tác giả bên dưới.  Đa phần du khách từng qua đây, thầm lướt qua bài thơ chắc đều đã biết tác giả của bài này là ai. Hoặc khi tham quan Thành cổ Quảng Trị, ắt chúng ta cũng sẽ được nghe người hướng dẫn viên giới thiệu về bài thơ và tác giả. Gõ vào thanh công cụ kiếm tìm của Google trên Internet sẽ giúp chúng ta giải đáp câu hỏi này trong vòng 0,21 giây với gần 8 triệu kết quả-bằng cách gõ "Tác giả bài Lời người bên sông" vào thanh công cụ tìm kiếm... Vậy mà, ít ai có thể ngờ được, bài thơ này lại là bài thơ... khuyết danh. Hàng triệu du khách, mỗi lần đi qua bến thả hoa hai bờ Thạch Hãn, đọc bài thơ đều trào dâng trong tim một cảm xúc bồi hồi, thương cảm. Những câu thơ này đã từng được nhà thơ Giang Nam mô tả là thơ thần vì nó làm lay động tâm trí người đọc. Vậy vì sao bài thơ không được đề tên tác giả? 


Bài thơ bên bờ Bắc sông Thạch Hãn có vết xóa tên tác giả  - Ảnh chụp năm 2010.

Những ngày đầu tháng 5 này, tôi lại có dịp trở lại bến sông Thạch Hãn. Việc làm đầu tiên của tôi là đến chỗ tấm bia đá khắc bài thơ. Ngay dưới bài thơ, nơi để tên tác giả bài thơ bây giờ là một... nhành hoa sen. Quả thật, đây là một sự sáng tạo chưa từng có. Tôi mày mò tìm trong tất cả các kho tàng văn thơ, dân ca, lịch sử... mà chẳng thể tìm thấy ở đâu dùng hình ảnh hoa văn, chim muông, cây cỏ... mô tả tên tác giả một bài thơ, văn, hay câu nói nổi tiếng của vĩ nhân... Tôi đem nỗi niềm này hỏi nhiều người tôi gặp ở Quảng Trị thì đều nhận được một cái lắc đầu và câu trả lời: "Không hiểu vì sao!". Một vài vị lãnh đạo địa phương thì trả lời rằng: "Do thơ của Lê Bá Dương đã trở thành thơ của nhân dân(?)". Tôi lại lục tìm tài liệu về khái niệm "Thơ nhân dân" để hiểu ý nghĩa là gì thì trong tất cả các tài liệu tôi chỉ thấy danh hiệu Nhà thơ Nhân dân hoặc bài thơ mang tiêu đề Nhân Dân của Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chứ không có một khái niệm nào mô tả "Thơ nhân dân" cả.



Bài thơ giờ có  tên tác giả là một... bông sen - Ảnh chụp tháng 5-2013.

Tôi lại tự mình đi tìm giải thích hợp lý cho cả về lý lẫn về tình của việc bài thơ không để tên tác giả. Nếu xét về lý, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Sửa đổi năm 2009) đã nêu rõ quyền tác giả  và quyền liên quan: "Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu". Quyền này bao gồm quyền Nhân thân và quyền Tài sản được quy định rõ trong điều 18, Mục 1, Chương 2, Phần 2 của Luật Sở hữu trí tuệ. Như vậy, việc khắc bài thơ trên bia đá bên hai bờ Thạch Hãn mà không để tên tác giả được xem là đã vi phạm theo quy định tại Mục 5, Điều 28 - Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Đó là: "Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả". Rõ ràng, nếu xét về lý, bài thơ không hề hợp lý chút nào khi khắc trên bia đá mà bỏ qua tên tác giả. Nếu xét về tình, bài thơ chỉ có thể được mọi người dân Quảng Trị, nói riêng, hay người dân cả nước, nói chung, yêu mến và thuộc lòng chứ cũng chẳng thể thành... thơ nhân dân được. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã nằm lòng tử thuở nằm nôi của mỗi người Việt Nam hàng bao đời nay, nhưng cũng không ai nói Truyện Kiều là Thơ nhân dân cả.

Trong suốt gần 40 năm qua kể từ sau ngày giải phóng, CCB Lê Bá Dương vẫn hằng năm lặn lội ngược xuôi Nam, Bắc để thực hiện các công việc nghĩa tình với đồng đội và đồng bào Quảng Trị. Tới chợ Đông Hà hỏi không ai không biết, mỗi năm đến những ngày lễ kỷ niệm 30-4, 1-5 (ngày giải phóng Quảng Trị), ngày Thương binh - Liệt sĩ, Lê Bá Dương đều về đây mua hết hoa, nhang, nến của các o, các chị để thắp và thả trên sông Thạch Hãn; viếng anh linh đồng đội ở các nghĩa trang Quảng Trị. Việc làm này cũng chính là nguồn gốc của hầu hết các lễ hội, các hoạt động tri ân Liệt sĩ và tri ân đồng bào Quảng Trị hằng năm hiện nay. Khi hỏi về tác giả bài thơ, bất cứ ai ở Quảng Trị cũng có thể trả lời là của Lê Bá Dương với một tình cảm rất chân thành và đặc biệt dành riêng cho ông. Tình cảm của Lê Bá Dương đối với Quảng Trị là vậy, nhưng tại sao người ta lại quên tên tác giả bài thơ của ông khi khắc trên bia đá hai bờ Thạch Hãn?

Dù muộn cũng còn hơn không, chúng ta hãy trả  đúng tên tác giả về cho bài thơ tâm linh này  để duy trì những gì cao đẹp trong văn hóa.

Bài và ảnh: Ngọc Long



Trần Bình gởi đăng
READ MORE - MỘT BÀI THƠ NỔI TIẾNG…BỊ KHUYẾT DANH - Bài và ảnh: Ngọc Long