Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hồ Sĩ Khang. Show all posts
Showing posts with label Hồ Sĩ Khang. Show all posts

Saturday, November 27, 2021

ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI - Hồ Sĩ Khang

 


ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI

 Hồ Sĩ Khang


        Những ngày này, trên facebook của một “ông lão rất thân’’ 78 tuổi , tôi thấy xuất hiện nhiều bài thơ. Các bài này, ông đã tự mình ngồi gõ lại trên máy tính. Tôi cũng đã phát hiện một lỗi chính tả trong khi đọc, và kín đáo nhắc ông.

 Đó là những bài thơ của em trai ông làm cách đây lâu lắm rồi.

 Trong tập thơ của người em, ông đã tự mình lựa ra và lần lượt chép lại.

Hình ảnh một ông lão cặm cụi gõ chữ như “mổ cò”, chậm chạp từng dòng một mới thấy thương cảm làm sao!

Lần trước mỗi lần nhớ em, ông chỉ đăng những tấm hình thôi.

Nhưng lần này, tự nhiên thấy ông lần mò ngồi gõ lại. Tôi linh cảm một điều gì đó.

Và chăm chú xem mấy câu thơ mở đầu:                                       

      “Có một đêm

       Giữa mùa quỳ vàng Đalat    

       Tôi thức giấc giữa khuya sâu                                        

       Và bỗng nhiên              

       Tôi nghĩ đến cái chết của mình…”

       

Tự nhiên khi đọc đến đây, tôi nghẹn lại. Chung quanh tôi, không gian như chùng xuống. Có một cảm giác rất lạ trong tôi.

Những bài thơ này, em trai ông: anh Đỗ Tư Nghĩa sáng tác năm 1983, nhưng cũng có bài làm từ năm 1972.

Tôi cũng không nhớ đây là lần thứ mấy, tôi đọc tập thơ này. Vì cứ mỗi lần đọc, tôi lại bị các câu chữ trong thơ anh níu chặt tâm hồn.

Hương vị của Triết học phảng phất gần hết tập thơ.

Cứ mỗi bài, tôi lại nhận ra một suy nghiệm mới rất minh triết mà không phải tự nhiên ai cũng cảm nhận được trong đời thường. Nó là kết tinh của những trải nghiệm và trí tuệ lắng sâu trong mỗi lần nhắm mắt thiền niệm.

 Người đọc ngoài việc được mở ra một tầm trí huệ, còn được đánh thức trái tim đã lỡ để ngủ quên.

Tác giả đã nhìn thấu mọi khía cạnh các sự việc trong đời.

Có lần tôi nghĩ về những quả bong bóng với nhiều sắc màu cuốn hút trong bài thơ anh viết. Quả bóng rồi sẽ đến lúc bị vỡ, nhà thơ đã ngộ ra những điều đơn giản sâu sắc nhất: tính vô thường của vạn vật, câu kết thúc bài thơ, anh viết như một lời khuyên trong kinh sách: hãy buông xả mọi ham muốn dục vọng trên đời.

          “…Thôi đừng tiếc những gì em sẽ mất

         Em hãy biết mỉm cười

         Khi bóng vỡ

        Trên tay..”

Hôm nay, thấy “ông lão “ ngồi chép thơ của người em, chép cả những lời vọng lại của bạn bè, người thân.

Tôi lặng lẽ đi tìm tập thơ …

****


Nỗi đau trong tháng ngày tâm linh khủng hoảng đã vô tình giúp cho nhà thơ viết nên những câu thơ xoáy sâu vào tận lòng người.

Đó là những bài thơ anh phải trả giá bằng một sự đọa đày tâm hồn bị tổn thương rỉ máu. Vì có ai biết rằng:

          “ có khi viết xong một bài thơ

             hồn tôi như thân cây trụi lá

            đứng chơ vơ lạnh dưới sương chiều

            Có khi viết xong một bài thơ

            tôi như người say

            như người chết đuối

            như bóng ma

           trở lại dương trần…” 

(Có khi viết xong một bài thơ).

Trong thơ anh, luôn là một sự khắc khoải, ray rứt về cuộc đời, số phận và bao điều đang xảy ra.

Với anh, tất cả đều đáng được suy nghĩ.

Cứ tưởng những mẫu chuyện, những hình ảnh ấy rất đỗi bình thường, nhưng rồi khi đọc thơ anh, ta mới nhận ra đằng sau đó là một bài học triết lý cao cả.

Bài học ấy khuyên ta buông bỏ các ham muốn trên đời.

Bài học ấy giúp ta nhìn được nhưng lẫn khuất mà mắt người bị vùng u tối che mất. Bài học ấy có khi nhắc một đôi tình nhân nhận ra những nụ hôn không còn mang hương vị tình yêu.

Bài học ấy cũng bày cho ta biết phải làm gì khi một ngày trái tim “gõ nhầm một căn nhà kín cửa”,

và còn rất nhiều bài học nữa…

Cứ mỗi bài thơ, chúng ta lại được tỉnh thức và chiêm nghiệm lại cuộc đời…

* Một cây quỳ vàng trên lối về giáo đường quen thuộc, chiều nay bị ai đó đốn ngã, anh chợt thấy đớn đau, xót xa vì nhận ra cuộc đời “đâu cần cái đẹp”, đâu cần những “bông hoa vàng vô dụng”. Chỉ anh mới có những cảm thức rất từ bi, khi nghĩ rằng một loài cây cũng là một linh hồn cần được nói lời vĩnh biệt trước lúc chết.

(Vĩnh biệt cây hoa quỳ vàng)

*Khi nhìn một người con gái đi lấy chồng có mấy ai nghĩ: họ lấy chồng vì điều gì? Tự bản thân nhà thơ đã trở thành một người “thống kê nguyên nhân” trong câu chuyện này. Và cái bất ngờ là một kết quả:

             “Đã có bao nàng con gái đi lấy chồng

             Vì đã chọn Tình Yêu”

                 (Có những nàng con gái đi lấy chồng)

*Có một lần nhà thơ ngồi uống cà phê trên dốc cao trước cổng chợ Đà Lạt, nhìn dòng người tất bật ra vào chợ để mưu sinh, tất cả những khuôn mặt thể hiện sự căng thẳng của họ trong cuộc sống. Tự nhiên anh chợt nghĩ: “Phải chăng đời chỉ có những bữa ăn.” Liệu có ai còn chút thời gian “để cười, để khóc, để lắng nghe tiếng đập trái tim mình.” Vậy là bài thơ “Có ai đủ thời gian để sống” ra đời. Chỉ đơn giản vậy thôi, mà cho đến hôm nay, tôi vẫn thấy bao nhiêu người còn lam lũ, gấp gáp cả ngày đêm, kiếm tìm tiền bạc, cơm áo. Họ đã không kịp lắng nghe nhịp đập của trái tim và quên luôn cả phần hồn của chính mình.

*Có bài thơ như là một giai đoạn đắng cay cùng cực của anh. Nhà thơ phải đem bán những tác phẩm của mình để có tiền ăn cho những ngày đang sống. Nhưng nhà thơ không bán được bài thơ nào để mua nổi một ổ bánh mì.

Người đọc cảm thấy sự chua xót cho những năm tháng ấy, khi nhà thơ thốt lên trong tuyệt vọng:

             “Nhà thơ ơi

              Thời vàng son của anh đã mất

               Như dấu chân trên cát đã phai rồi”

                            (Nhà thơ và mẫu bánh mì )

* Đôi mắt Đỗ Tư Nghĩa không chỉ là một chiếc máy ảnh phản ánh lại y nguyên sự vật mà còn mang ánh sáng đến cho những điều còn tăm tối. Đôi mắt ấy có khi như một tia chiếu tiên tri số phận con người. Trong bài thơ “khi tôi nhìn một nàng con gái đẹp”, anh đã có một câu kết thúc rất độc đáo. Câu kết thúc mà tất cả các người con gái đẹp phải nhíu mày suy nghĩ: sắc đẹp hay tình yêu mới là hạnh phúc vĩnh viễn trên đời .

               “Hỡi nàng con gái đẹp

                nụ hoa hồng bạc mệnh của trần gian

                em biết chăng

                dù trái tim em thiết tha

                em vẫn phải khổ đau

                vì khó gặp Tình yêu

                giữa cuộc đời này”

* Một lần nữa ta lại thấy đôi mắt của nhà thơ thật sáng suốt, bao dung khi anh quan sát những giọt nước mắt của nhiều con người. Với anh, nước mắt biểu hiện cho nhiều trạng thái: có những giọt nước mắt tủi buồn, thất vọng và có những giọt nước mắt mừng vui, hạnh phúc. Nhưng thật lạ khi anh nhận ra:

Nỗi sợ hãi lớn nhất là khi con người biến thành vô cảm, khi không còn nước mắt để rơi.

          “Tôi vẫn sợ hãi những giọt nước mắt

            của sự chết

            của nỗi sầu

            của những trái tim tan vỡ.

            Nhưng tôi càng sợ hãi

            những đôi mi khô

            những trái tim đá lạnh…”


50 bài trong tập thơ là năm mươi trạng thái, khoảnh khắc, trải nghiệm .

Những buồn đau, cô đơn và biến động cuộc sống;

Những hình ảnh, câu chuyện, sự kiện đọng lại trong cuộc đời;

Những nơi anh từng lang thang : ngôi chùa có chú tiểu chờ cửa trong đêm vắng, căn phòng người bạn dưới chân cầu thang tối tăm…

Và còn rất nhiều điều khác nữa…

Tất cả tạo nên một thứ “nguyên liệu cảm xúc” được anh khắc họa một cách rất riêng, in dấu di chứng tâm linh khủng hoảng của anh trong những ngày tháng ấy .

Tinh hoa của những bài thơ đó là màu sắc cùa Phật giáo, của Triết học, của những suy niệm về cuộc đời, và của một bề dày kiến thức uyên sâu.

Tôi là một hậu sinh, một đứa em đọc thơ anh và chỉ viết lại những cảm nhận yêu thương về một người mà tôi rất quý mến từ khi còn nhỏ.

Thơ anh là máu thịt, là hơi thở của anh.

Vậy mà mỗi lần đọc nó, tôi luôn nghe được nhịp đập trái tim mình.

*****


Nhưng chưa hết, trong tập thơ có một điều gì đó cứ ám ảnh suy nghĩ của tôi.

Liệu có phải đây là lời di ngôn viết sớm. Vì rất nhiều lần trong thơ, anh nhắc đến cái chết.

Những ngày gần đây, dịch bệnh đã trở thành thảm họa, trên một trang facebook của một người không quen, viết về những masoeur có tấm lòng từ tâm, đến các bệnh viện giúp người bị nhiễm dịch, phụ việc cho các hộ lý, y tá , bác sĩ…Họ đã làm mọi thứ để xoa dịu nỗi đau.

Nhưng có một công việc tôi xúc động nhất là lúc họ lần chuỗi hạt Mân côi nguyện cầu cho những sinh linh đang hấp hối giữa cô đơn tuyệt vọng.

Trong thơ anh, tôi nghe như có tiếng người sắp sửa từ biệt cuộc sống, chờ được nghe lời kinh phó tâm hồn.

          “Ôi! một ngày ai khóc mộ ta xanh?” (Bi Khúc IV)

      Và còn một điểm nữa, đó là có nhiều loài chim được nhắc trong thơ anh: có khi là chim họa mi hót trong đêm, khi là một loài chim đứng co ro lặng im trong tuyết trắng, khi là một con chim “điên” hót trên cành cây khô giữa buổi trưa nắng cháy, có khi chính là người nhạc sĩ thiên tài Beethoven mà anh gọi là con chim họa mi vĩ đại…

Riêng anh ví mình như con chim “hót một lần, trước khi vỡ cổ”. Đây là loài chim Thorn chỉ có trong truyền thuyết. Nước Úc có bà văn sĩ dựa vào truyền thuyết này đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình: Tiếng chim hót trong bụi mận gai. (The Thorn Birds).

Ta hãy lắng nghe lời giã từ vĩnh biệt:

        “Xin gởi lại cho Người

         Tiếng hát của tôi

         như một loài chim

         hót lên một lần trước khi vỡ cổ…

         Này đây, những bài thơ

         mai này tôi chết đi

         xin gởi lại Tình Yêu

         xin gởi lại Cuộc Đời”


Tôi nhìn tập thơ: “Gởi tình yêu- Gởi cuộc đời” trên tay, những tờ giấy in trắng đen bắt đầu úa màu. Tập thơ này do một người cháu đánh máy bằng vi tính, ấn loát đơn giản, chân chất như chính tâm hồn anh. Nó chỉ dành để tặng người thân, bạn bè và được tôi cất hơn 20 năm rồi.

“Gia tài sách” của anh, tôi may mắn còn giữ nhiều. Đó phần lớn là những quyển sách nổi tiếng mà anh đã dịch. Những quyển đó đã trở thành thương phẩm trên thị trường, được trình bày và in ấn rất đẹp. Nhưng với tôi, tập thơ này mới là một kỷ vật xa xưa tôi trân quý nhất.

Bỗng tôi chợt nghĩ: tại sao không in lại tập thơ để lại này cho thật đẹp, để nhớ mãi “tiếng hát” lẻ loi của anh rung ngân trên dòng sông tâm thức.

Trong giây phút ấy, tôi liên tưởng hình ảnh một người đàn ông trên giường bệnh, nén cơn đau, ôm ấp tập thơ vào lồng ngực, như đang lắng nghe hơi thở của chính mình…

                                                                 Hồ Sĩ Khang


READ MORE - ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI - Hồ Sĩ Khang

Tuesday, November 5, 2019

BUỒNG DỪA XIÊM - Tản văn - Hồ Sĩ Khang

Tác giả Hồ Sĩ Khang


BUỒNG DỪA XIÊM
Hồ Sĩ Khang

Nhà tôi nằm trên một đoạn đường sầm uất và đông đúc của thành phố. Trên cái vĩa hè của khúc đường quen thuộc này, ngày ngày tôi đã quen nhẵn mặt mọi người: cô bán bánh mì chả, chị bánh mì heo quay, chị bán xôi, em gái ngoan Đạo bán thịt heo (sở dĩ tôi gọi em gái ngoan Đạo, là vì cứ đến chủ nhật là em ấy nghỉ bán để đi nhà thờ làm lễ), rồi chị bán chuối chiên, thím Tư bán khoai lang luộc, chị Bảy bán bắp nướng, “nhóc tỳ” bán cơm chiên với đôi bàn tay chiên cơm rất điệu nghệ…..và còn nhiều người nữa.
Tất cả những con người ấy, một ngày như mọi ngày đều ngồi tại một chỗ cố định trên đoạn đường, họ chỉ dịch chuyển khi nào có xe đô thị thành phố đi qua nhắc nhở việc lấn chiếm lòng lề đường.
Ngày mẹ tôi còn sống, những lần Người ở với chúng tôi, khi vợ chồng tôi đi làm, mẹ tôi ít buồn là nhờ ngồi nhìn phố chợ xôn xao dưới lòng đường phố như thế này.
Bây giờ cứ mỗi chiều, tôi nhớ lại và làm theo mẹ, ra phía trước nhà, ngồi trên xích đu nhìn xuống phố. Cả một cuộc đời, một xã hội thu nhỏ đang diễn ra.
Tôi miên man ngắm nhìn khung cảnh ấy, bỗng từ xa tôi thấy một người thanh niên có nước da đen, người cao gầy, vác một buồng dừa xiêm khoảng 20 quả, anh loay hoay tìm kiếm một chỗ ngồi bán, nhưng chỗ nào cũng có chủ hết rồi, cuối cùng anh đành lấn ra phía lòng đường. Người thanh niên với buồng dừa ngồi ngay gần giữa lòng đường, chào bán sản phẩm của mình, thỉnh thoảng anh lại nhìn chăm chú vào hàng bán cơm chiên.
Có lẽ, chỗ này khó bán nên anh vác buồng dừa đi qua chỗ khác. Vẫn theo kiểu cũ, ngồi ngay giữa lòng đường chào mời. Khi ấy, trong lòng tôi thấy khó chịu, vì cách anh ta ngồi bán không an toàn cho người đi đường, tôi nghĩ anh chàng này chắc vừa ”ngắt“ được của ai đó mới đem ra bán kiếm tiền tiêu, hay có khi thèm thuốc hoặc đánh bài cũng nên.
Anh thanh niên ngồi mãi, chào mãi, chờ mãi vẫn không có người mua. Anh lại vác buồng dừa đi tìm chỗ mới để lọt tầm nhìn của nhiều người hơn.
Sau gần một giờ, có một người đến hỏi, có lẽ anh muốn bán lắm rồi, nên cứ theo nài nỉ người mua .Rồi từ xa, tôi thấy anh chất buồng dừa trên xe máy của người đàn ông, anh đếm vội tiền và cho vào túi.
Bây giờ tôi lại càng chăm chú hơn, để xem một người như anh ta có tiền sẽ làm gì. Trông dáng anh đi rất vội vã, tôi cứ nghĩ anh về hoặc đi đâu đó.
Không, anh ấy đến quán cơm chiên muối ớt, mua một hộp, gói thật kỹ đem về, và một hộp, anh mở ra ăn ngay, anh vừa đi vừa ăn. Anh đi rất nhanh về phía đường xa, đi như có người chờ đợi.
Tôi cứ nghĩ câu chuyện đến đây là hết, rồi mình sẽ quên, nhưng sáng nay gặp ”nhóc tỳ” bán cơm, tôi có nhắc chuyện anh thanh niên bán dừa ngồi chiếm lòng đường chiều qua.
Không ngờ, “nhóc” bán cơm nói: anh đó chắc đói lắm chú! Khi mua cơm xong, anh nói với con: hộp cơm này về cho em đang chờ, còn một hộp ăn liền vì đói quá, mấy ngày nay chưa được ăn cơm.
Tôi nghe xong mà thấy lòng mình hụt hẫng. Cái cảm giác khi nghĩ sai về một người làm cho tôi thấy mình như có lỗi. Buồng dừa anh xin của người bà con trên quê đem bán để kiếm tiền mua cơm, mà chỉ là cơm chiên muối ớt 10 ngàn một hộp, chứ có phải cao lương mỹ vị gì đâu. Buồng dừa đã đem lại cho anh em người thanh niên đó một nụ cười, một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi.
Ôi! có những hạnh phúc được tạo từ những điều mà ta không ngờ đến. Tôi đoán anh ấy còn sử dụng số tiền bán dừa vào nhiều việc khác quan trọng hơn nên mới tiết kiệm vậy.
Trong cuộc đời, ta cũng thường hay ngộ nhận như thế. Dù rằng không đem lại nỗi đau cho người khác vì chỉ mới là trong suy nghĩ, nhưng lòng tôi thấy se sắt một sự hối hận.
Chiều nay tôi lại nhìn xuống phố, lặng yên nghĩ ngợi câu chuyện buồng dừa xiêm và bóng hình người thanh niên ngồi đâu đó trên đường, có cả người em nhỏ ngóng chờ bước chân về của anh..

Hồ Sĩ Khang
07.10.19

READ MORE - BUỒNG DỪA XIÊM - Tản văn - Hồ Sĩ Khang

Friday, November 1, 2019

LÀNG QUÊ QUẢNG TRỊ VÀ BƯỚC CHÂN BẠN TÔI QUA NHỮNG MIỀN TỐI SÁNG - Hồ Sĩ Khang

Tác giả HỒ SĨ KHANG

LÀNG QUÊ QUẢNG TRỊ
VÀ BƯỚC CHÂN BẠN TÔI QUA NHỮNG MIỀN TỐI SÁNG
(Gởi tặng các bạn bè NH 71-75 yêu thương)
 HỒ SĨ KHANG

 Chúng tôi rời xa ngôi trường Trung Học Nguyễn Hoàng (NH) chỉ sau 6 tháng ngồi học. Vì chỉ có một thời gian quá ngắn, nên khi nghĩ về trường, những học sinh NH 71-75 chúng tôi hay nhớ nhiều về làng quê và phố thị  đặc biệt  này. Đó là một thị xã bao quanh một ngôi làng quê Thạch Hãn. Phố nhỏ nửa thành thị nửa nông thôn này đã gắn bó bao đời với những miền quê thôn dã.

  Mỗi lần bạn bè Nguyễn Hoàng gặp lại, câu chuyện được chú ý nhất vẫn là kể về quê cũ ngày xưa. Khi nghe những câu chuyện như vậy, những đứa “con nít  “ lớn lên trong thị xã như chúng tôi, cứ há hốc mồm lạ lẫm, vì đồng quê  của các bạn ấy có nhiều màu sắc, nhiều hương vị, nhiều cung bậc cảm xúc cho dù đó là những tháng ngày đầy gian lao và khổ cực .

Thực ra, tôi cũng sinh ra ở làng quê, bên bờ Bắc con sông Hiếu, nhà tôi gần chiếc cầu đường sắt bị sập, đến năm 5 tuổi, gia đình tôi dời qua Đông Hà và một năm sau gia đình tôi vô thị xã Quảng Trị. Hình ảnh về làng quê của tôi không sâu đậm như một bạn mà tôi sắp kể, với tôi chỉ là những ngày ở Đông Hà, mạ tôi dắt tôi về làng thăm bà nội, để đi nhanh nhất, mạ con chúng tôi đi theo đường ray xe lữa cũ, rồi đi đò qua sông về làng, trên con đường nầy tôi thường giúp mạ hái rau tàu bay về nấu canh, thỉnh thoảng tìm thấy một vài quả sim rất ngon. Ba tôi vốn là một công chức bàn giấy, có dạo làm nghề dạy học nên cuộc sống tôi ít gắn bó với ruộng đồng.

  Gần đây, mỗi khi viết lại chuyện một thời đã qua của các bạn. Người đọc cứ thấy một nỗi buồn rất nhẹ, len lén trở về. Tôi nghĩ là do cuộc đời của các bạn buồn. Nhưng anh tôi lại nhận xét lối viết của tôi đứng về phía nước mắt nên nó vậy thôi. Tôi không biết nhiều về văn chương, chỉ biết viết theo sự thật và theo đúng cảm xúc của mình.

Lần này, tôi sẽ viết về chuyện bạn tôi ngày xưa nhọc nhằn cực khổ nhưng nhờ ý chí và nghị lực, bạn đã thành công không ngờ trong cuộc đời hiện tại.

  Quả thực, hôm nay nếu ai đến nhà Thư, chúng ta không thể nghĩ rằng bạn đã trải qua những ngày ấy!

Câu chuyện này đến với tôi một cách tình cờ. Trong khi nói chuyện với Thư, nữ sinh NH 71-75, một người theo Thiên Chúa Giáo, chúng tôi nhắc đến linh mục ĐB Ái, đó là một vị linh mục khả kính mà tất cả giáo dân đều ngưỡng mộ và biết ơn, bởi những sự đóng góp cho đời sống người dân trong vùng mà ông là cha quản xứ. Tôi chỉ nói rằng tôi cũng biết vị linh mục này vì ông rất thân với ba tôi. Nghe xong bạn ấy mừng rỡ, như đã thân thiết với tôi lâu lắm rồi. Rồi cứ thế, bạn ấy kể cho tôi về một tuổi thơ gian truân, giông bão. Tôi chăm chú lắng nghe và thật cảm động vì biết Thư đã tin mình như tin một người thân mà bao năm rồi  chưa gặp lại.

***

 Tuổi thơ chập chờn giữa ngày tháng gian lao.

Quê ngoại tôi cũng ở Hải Lăng, nằm ven sông Ô Lâu, nơi có những rặng cây, ruộng lúa, bờ tre, bãi bồi rất đẹp. Thuở ấu thơ về quê ngoại, tôi chỉ nhớ con đường ven sông và vườn cây trái của ngoại mà thôi.

Tôi cũng không hề biết rằng, Hải Lăng có những vùng rất trũng, mùa mưa nước lụt ngập đồng, ngập luôn nhà cửa, làng quê của bạn có những rú cát mà mùa hè đi nóng bỏng chân, bạn kể rằng bạn phải băng qua đó tìm kiếm tương lai với bao nhiêu bước chân lầy lún mới đến được ngôi trường học chữ.

  Làng của Thư có vị trí điển hình của môn học địa lý: có rú, có những động cát, có bờ biển sóng vỗ quanh năm và những cánh đồng trũng thấp năm nào cũng ngập lụt.

Thư lớn lên trong một gia đình đạo dòng ở xứ đạo Hải X. Gia đình có 8 anh chị em, người chị cả đi lấy chồng khi bạn còn chưa được sinh ra, những người cháu của Thư còn lớn hơn bạn nữa. Sau này lớn nghe mạ nói, khi mạ đi vắng, Thư đói sữa, chị hay chạy qua nhà cho bạn bú luôn. Vậy là ngoài dòng sữa mẹ, Thư còn được nuôi nấng bằng dòng sữa từ người chị lớn của mình. Cha mẹ bạn đều là những giáo dân quen với việc ruộng đồng, họ lao động cần cù nuôi bầy con ăn học. Tôi nghe Thư nói, ba bạn là người có suy nghĩ rất tiến bộ, ông là người thấy được: muốn thoát ra khỏi cấy cày vất vả chỉ có con đường học vấn. Vì vậy bằng mọi giá ông đều cho các con đi học, nên nhà Thư luôn luôn nghèo túng, chật vật, vì phải đầu tư mua sắm và lo lắng cho việc học hành của các anh chị em Thư.

Trước năm 1971, Thư  còn học tiểu học ở làng quê, còn các anh chị em lớn đã sớm lên Tỉnh dạy kèm, làm thuê các công việc khác nhau để giúp cha mẹ bớt phần nào gánh nặng khi theo học ở Nguyễn Hoàng và các trường khác, nghe Thư kể rằng:  Ngày đó, bạn chỉ đi học một buổi,  buổi còn lại phải phụ giúp gia đình làm nhiều việc lắm, nhưng thích nhất vẫn là đi chăn bò, khi tới rú bạn thả bò tự do ăn cỏ, còn mình đi hái trâm bầu và sim chín, đến chiều dắt bò về , bò no cỏ còn người thì ngoài một bụng trái cây còn hái thêm một mớ đem về cho mọi người trong nhà, cùng với bộ mặt, tay chân xây xước và miệng lưỡi toàn màu sim tím rịm. Khi viết đến đây, tôi chợt nhớ một bài dân ca Mỹ mà hồi còn bé thơ tôi rất thích, bài hát nói về một cô bé tên là Clementine, hàng ngày cô lùa bầy gia súc lên núi tìm kiếm thức ăn. Nhưng hình ảnh Thư lùa bò đi ăn một cách thuần thục và thuộc hết mọi con đường lên rú, làm tôi càng nhớ đến câu thơ của anh Triệu Phong, một CHS NH 57-64:

“Nếu tuổi thơ tôi không đi chăn bò
thì làm sao vượt được dốc Cồn Kho vào Rú Trấm.”

Không phải ai cũng ôm ấp một tuổi thơ khổ nhọc và những ngày tháng chăn bò đi theo suốt cuộc đời như Thư đâu!

Những ngày thơ, cũng là những ngày Thư được rèn luyện công việc đồng áng. Trong mùa gặt, mọi người gánh lúa về để thành một vòng tròn trước sân, ban đêm mấy người anh lớn dắt những con bò đi theo vòng tròn dẫm lên để hạt lúa rớt ra, Thư nhỏ nhất nên được phân công cầm một cái xô đi sau con bò theo dõi hứng phân khi nó đi vệ sinh để không làm bẩn lúa,

Việc giả gạo trước đây là của các anh chị lớn, bây giờ cũng giao cho bạn vì nhà không còn người làm. Thư nhớ mãi khi giả gạo phải đứng trên một cái chày để đạp như trò chơi bập bênh ngày nay, nhưng ngày ấy bạn nhẹ cân quá nên mạ phải cột thêm một quả bí vào bụng cho nặng mới giả gạo được.

Những đêm mưa lạnh, anh chị em trong nhà đi “đơm” cá, khi đem cá về, mạ bạn sẽ lựa những con cá to ngon đem ra chợ bán, còn lại để cả nhà ăn dần trong các ngày còn lại.

Mùa đông Quảng Trị ngày xưa rất lạnh, tôi chưa bao giờ “nếm” được cảm giác đêm mùa đông không chăn mền, vùi mình trong “chiếc giường”rơm rạ rồi cho hai chân vào cái bao bố kéo lên ngang ngực. Nghe Thư kể đến đây lòng tôi trào dâng niềm thương xót. Một tuổi thơ quá khổ cực. Tôi chợt nhớ một người bạn của tôi khi học trường Nam, năm đó là năm 1970, tôi học lớp 5 tại trường Nam, cũng trong một buổi sáng mùa đông, trên đường đi học tôi chợt thấy bạn Nguyễn Khai đeo một bao bánh mì rao bán, bạn thấy tôi liền ngoảnh mắt nhìn chỗ khác, còn tôi thì cứ trào lên một tình thương về bạn. Ngày đó những cuốn sách “Tâm hồn cao thượng”, “Dưới mái học học đường” đã ăn sâu vào trái tim và tâm hồn non nớt của tôi. Triết lý giáo dục nhân bản đã dạy cho một đứa trẻ như tôi có một rung cảm đầy tình người khi chứng kiến những cảnh đời khốn khổ.

Ruộng đồng gắn chặt với đứa con gái chưa học qua tiểu học, cho đến một ngày, bạn phải một mình lên Tỉnh để thi vào lớp đệ thất. Con gái trong làng ít người học cao lắm, họ chỉ học đến lớp ba, lớp bốn rồi phụ việc nhà, giúp đỡ cha mẹ trước khi đi lấy chồng. Thư nói rằng bạn có diễm phúc khi có một người cha luôn nhắc nhở và động viên con cái học hành. Rồi bạn cũng đậu đệ thất, lần đầu tiên trong đời được màu bộ áo dài trắng tinh đi học. Bạn chỉ có duy nhất một bộ áo dài, ngày mặc đêm giặt, quạt than và ủi. Nhưng đó là một niềm hạnh phúc trong cuộc đời mà Thư nhớ mãi.

Làng quê trong trí nhớ ngày ấy của Thư  thật đẹp, bạn coi nhà thờ như một nơi thiêng liêng, thân thiết nhất của cuộc đời, bao mệt nhọc,  buồn phiền của cuộc sống, khi vào nhà thờ đều thấy tan biến và nhẹ nhỏm tâm hồn.

Có lần buổi trưa nắng đi học trường làng về, người rất mệt mỏi, đói khát, mồ hôi chảy đầm ướt áo, bạn ấy thấy có một chiếc xe jeep dừng lại cạnh mình và thật ngạc nhiên, người lái xe là Cha ĐB Ái. Cha bước xuống, lau khuôn mặt ướt đẩm mồ hôi và ẳm bạn lên xe rồi chở về tận nhà. Câu chuyện xãy ra đã lâu, nhưng hôm nay bạn kể lại thật sống động với một lòng tôn kính và biết ơn sâu xa về một vị linh mục quản xứ hiền lành đức độ và rất thương yêu trẻ em. Bạn nói bây giờ Đức Cha đã 95 tuổi rồi, nhưng cứ mỗi lần sinh nhật Cha, bạn vẫn gửi thư kính mừng. Bạn còn tự hứa, nếu sau này Cha mất bạn sẽ vô tận miền Nam để dự lễ tiễn đưa Cha về với Chúa.

Nếu không có chiến tranh, thì tôi chưa biết cuộc đời Thư như thế nào. Nhưng mùa hè năm 1972 thực sự là  cuộc chiến lớn tại Quảng Trị. Cũng như bao gia đình khác, Gia đình Thư phải vượt qua bao chặng đường khổ nhọc để vào tị nạn tại trại 6 Non Nước. Tôi lại nghe bạn nói một điều bất ngờ nữa: Những ngày ở trại 6 Non Nước chính là những ngày tháng thần tiên của Thư, bạn đi bộ qua trại 5 học NH, đó là những ngày tháng không còn phải lo lắng hay phụ giúp việc đồng áng, Thư có nhiều thời gian sinh hoạt với các bạn trong phong tràoThiếu Nhi Thánh Thể, được đi chơi chùa Non Nước, Trà Kiệu … rất vui và hạnh phúc.

Rồi những “ngày tháng thần tiên” đó cũng chấm dứt. Đó là mùa hè năm 1974, gia đình Thư hồi cư. Ranh giới Quảng Trị từ sông Bến Hải, bây giờ đổi là sông Thạch Hãn, quê bạn ở bờ Nam nên về lại làng xưa. Thư trở về với làng cũ, nhưng bây giờ còn nhiều dấu tích của chiến tranh: giáo đường đổ nát chỉ còn trơ lại gác chuông, nhiều ngôi trường, trạm xá cha Ái xây dựng đã bị bom đạn hủy hoại.  Thư vẫn làm ruộng và học hành. Một ngày kia, khi đang cấy lúa ngoài đồng thì đứa em út chạy ra kêu chị về có việc. Thư kể với tôi: cũng không ngờ rằng, mình mới 13-14 tuổi đầu mà có người đem trái cây tới nhà thưa chuyện với ba mạ, xin dạm hỏi vợ cho con trai của họ. Thư chối từ quyết liệt, bạn nói với ba mạ rằng chỉ thích đi tu thôi. Ôi, con gái thôn quê là vậy. Người ta thấy chăm chỉ, khỏe mạnh là tới “xin” liền. Họ chọn con dâu như chọn một con trâu để cày ruộng và làm việc. Thật thất vọng bởi ý nghĩ của người dân quê nào đó và tội nghiệp cho đời một người con gái, nếu không quyết liệt từ chối như bạn tôi.

****

  Sau 30 tháng 4 - Đối mặt và vượt qua những tháng ngày nghiệt ngã.

Từ tháng 3 năm 1975, Chiến tranh lại bùng nổ, quyết liệt và tràn lan khắp miền Nam. Không ai ngờ rằng, có rất nhiều nhà, sau cuộc chiến này đã thay đổi, đã có sự xuất hiện của: tang tóc, chia ly, tù tội, đói nghèo, khổ cực…

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Gia đình Thư đã chính thức đối mặt với nhiều khó khăn mới. Các anh của Thư vốn là sĩ quan của QLVNCH phải đi cải tạo, gia đình công giáo trong ánh mắt của những người chiến thắng hôm nay có rất ít thiện cảm. Ngày xưa, gia đình Thư đã khó bây giờ lại càng khó hơn, cha mẹ mỗi ngày càng già yếu, con trai, con rể người thì vào Nam sinh sống, người thì đang bị học tập cải tạo ở tận một nơi nào.

Thư của tôi một lần nữa  phải đóng “vai chính ”trong gia đình để đi làm lấy “công điểm”, một hình thức đánh giá hiệu quả của lao động, để từ đó được nhận lại một số lương thực do mình đã đóng góp vào. Có lẽ vậy mà sau khi tốt nghiệp lớp 9 (cấp 2), bạn không thể đậu vào lớp 10. Gánh nặng gia đình khiến bạn không còn nhiều thời gian và sức lực cho việc ôn thi.

Như rất nhiều người bạn của tôi khi đó, họ không thể tiếp tục con đường học vấn vì có quá nhiều khó khăn trong cuộc sống. Tất cả đều gác việc bút nghiên theo đời cơm áo. Cũng may, người anh của Thư có lẽ là sĩ quan mới ra trường nên học tập cải tạo cũng ngắn thôi, hy vọng anh về, sẽ có người đỡ đần cha mẹ thay cho bạn. Sau hai năm lam lũ với ruộng đồng, Thư nộp đơn xin học Y tá, ngày đó học Y tá chỉ cần học xong cấp 2 là được. Thư nộp thật tình cờ vì bạn nghĩ rằng lao động cày cuốc quá cực khổ, và cũng ít hy vọng vì gia đình có người đi lính quân đội miền Nam, lý lịch không được tốt lắm, nhưng may sao bạn được gọi đi học. Thư ra trường,  làm tại bệnh viện huyện Hải Lăng. Khi làm công việc của một người Y tá, bạn mới thấm thía về việc cần phải học lên, vì công việc thì cực, lương quá thấp. Ba Thư đang có những dấu hiệu bệnh tật nhưng kiến thức ngành Y của Thư ngày đó còn yếu nên nàng cũng bất lực. Người anh của Thư có lẽ cảm thấy không phù hợp với xã hội bây giờ nên đã oversea. Anh rất có hiếu, khi  đến nơi “đất mới”, đã tìm mọi cách mua thuốc gởi về cho ba Thư. Nhưng thuốc trên đường về thì ông cũng đã mất, năm ấy là năm  1979.

Sau khi ba Thư qua đời, bạn càng quyết tâm học tiếp. Đã rất nhiều lần bạn xin các vị lãnh đạo bệnh viện  đi học Y sĩ, nhưng họ vẫn cứ từ chối, cái lý lịch “đen” luôn đeo đẳng suốt cuộc đời. Thư vẫn kiên trì năm nào cũng xin và đến năm 1983, tức là hơn 5 năm làm Y tá, người ta đã cảm nhận được sự kiên nhẫn cầu tiến của bạn nên cho học lớp Y sĩ. Sau khi tốt nghiệp, Thư cũng làm việc tại bệnh viện này. Nhưng tại vị trí mới, “mắt”của Thư bắt đầu mở to hơn, nàng đã nhìn thấy thêm được nhiều điều, nàng tiếc ngày xưa việc học hành bị đứt quảng. Thư liền đi học bổ túc ban đêm để hoàn thành bậc trung học. Ý định thi vào trường Y khoa để học thành một bác sĩ đa khoa đã bắt đầu hình thành nhen nhúm. Điểm thuận lợi của ngày đó là nàng ít lo lắng cho kinh tế gia đình bởi các anh ở xa cũng gởi về cho mạ, lương Y sĩ cũng không đến nổi nào cho một người độc thân như Thư. Ngày đi làm, tối miệt mài học bổ túc văn hóa.

  Nhưng cuộc đời luôn là một dòng chảy cuốn theo nhiều mới lạ. Có một người đàn ông đã đến gõ cửa trái tim của nàng không biết tự bao giờ. Đó chính người thầy dạy môn Hóa học của Thư, với sự dạy dỗ và giúp đỡ tận tình, người thầy này không những đã giúp bạn tốt nghiệp cấp 3 mà còn ôn rất vững môn Hóa cho việc chuẩn bị thi Đại học Y. Bạn tôi bắt đầu yêu người ấy, một mối tình có sự hiện diện nhiều sắc màu hạnh phúc mà không phải ai cũng có được: tình yêu, lòng biết ơn và sự tôn trọng.

Năm 1987, họ lấy nhau như Thiên Chúa đã kết hợp. Hai đứa con lần lượt ra đời càng gắn chặt thêm cuộc sống và hạnh phúc của hai người.

Công việc bệnh viện, con cái, gia đình bận rộn, nhưng quyết tâm học thành bác sĩ của Thư không thay đổi, nàng và chồng cùng nuôi con, cùng ôn tập thi. Và trời không phụ lòng người, năm 1993 nàng thi đậu Y khoa ngay trong lần thi đầu tiên, cùng lúc đó chồng nàng cũng đậu luôn lớp cao học. Cả nhà Thư đèo bồng con cái vào Huế để đi học, đó là những năm tháng vất vả nhất trong cuộc đời: hai vợ chồng vừa nuôi con vừa học xa.

Rồi Thư cũng tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, nhưng nàng lại học tiếp chuyên khoa RHM thêm 18 tháng nữa. Kể từ đây, Thư đã hoàn thành những kế hoạch đặt ra cho cuộc đời sau nhiều năm kiên trì và nổ lực. Kế hoạch đó ngay cả những người học hành “một mạch”như tôi cũng phải nghiêng mình thán phục.

Bây giờ, Thư đã là một bác sĩ nha khoa.

Còn chồng Thư sau khi lấy bằng Thạc sĩ, sở Giáo Dục điều động anh về tỉnh dạy một trường cao đẳng, chồng một nơi, vợ một nẽo, nheo nhóc ba năm trời. Năm 2000, Thư được chuyển công tác về ĐH cùng chồng.

Thời gian dần trôi, những đứa trẻ ngày hôm qua, dưới sự nuôi nấng, giáo dục của cha mẹ bắt đầu lớn và vào trường Đại học, thì lúc này - năm 2011, Thư thấy cần thiết phải vào ĐH Y Dược SG học thêm một khóa về Răng thẩm mỹ kéo dài 2 năm ròng rã. Nàng đã kiên trì học để mau chóng trở thành một chuyên gia thực thụ về Răng tại cái tỉnh lỵ nhỏ bé này.

Và tất nhiên người phụ nữ đầy nghị lực này không bao giờ cho phép mình nghỉ ngơi sau khi học xong.

Thư đã mở ra một phòng khám Nha Khoa, có gần 50 nhân viên được đào tạo bài bản, khám chữa bệnh cho mọi người với một thái độ chuyên nghiệp như những bệnh viện lớn. Hàng ngày, Thư vẫn trực tiếp điều hành công việc , nhưng mới đây, bạn mừng rỡ nói với tôi: Mình sắp được nghỉ rồi Khang ơi, chờ thằng con trai của mình học xong BS chuyên khoa cấp 1 về RHM thì mình sẽ giao tất cả công việc tại phòng khám này cho cháu.

Còn con gái đầu của Thư, nay là Thạc sĩ đang dạy tại ngôi trường mà ba cháu đã dạy ngày xưa.

****

Tôi gặp Thư trong một mùa hội trường nhiều kỷ niệm. Bạn đã kể cho tôi nghe câu chuyện về quãng đời khó khăn, nghèo đói xen lẫn nhiều tủi buồn, nước mắt. Và Thư đã giữ nó làm hành trang bên mình để quyết tâm thay đổi số phận của một người con gái xứ đạo vô vọng năm nào.

Khi tôi viết những dòng chữ này, thì quanh tôi có rất nhiều người bạn gái đã vượt qua những tháng ngày tăm tối, đứng dậy sáng lòa. Những ngày sau 30 tháng tư năm đó hiện về, bao nhiêu bạn học của tôi đã đứt gánh con đường học tập. Tôi tưởng không có ngày gặp lại, nhưng tôi đã thấy một cô giáo VP tại Bà Rịa VT mà ngày tôi đi học thì bạn mãi còn trên công trường Thủy lợi Đập Trấm xa xôi. Tôi cũng gặp lại một cô giáo ngoan đạo HTL tại Xuân Lộc, Đồng Nai  mà ngày hôm qua còn gánh thịt từ làng quê Đạo Đầu ra chợ Tỉnh ngồi bán, trong lúc các bạn mình còn hồn nhiên bên lớp học. Và còn rất nhiều người bạn khác của tôi đã có một cuộc sống rất tốt đẹp ngày hôm nay. Tất cả các bạn là những tấm gương sáng cho các con cháu và làm rạng danh nữ sinh NH Quảng Trị.

Còn với Thư, bạn là một người mạnh mẻ về ý chí và khát vọng vươn lên không ngừng. Nhìn bạn hôm nay rạng ngời bước qua bao miền tối sáng để đứng lên trên mảnh đất quê hương đầy bom đạn, tôi biết bạn phải trả giá rất nhiều và cái giá lớn nhất chính là sức khỏe của bạn đang bị bào mòn theo từng tháng từng ngày. Bạn đang chịu đựng và cố quên những cơn đau ngày đêm hành hạ cơ thể để mỉm cười và cảm ơn  mọi người giúp đỡ chung quanh.

Và tôi đoán, nụ cười tươi đẹp nhất, Thư sẽ dành tặng cho một người đàn ông, một người thầy, một người chồng đã bao đêm cùng bạn cặm cụi dưới ánh đèn…

Nha Trang tháng 10, những ngày chim báo bão.
HỒ SĨ KHANG

READ MORE - LÀNG QUÊ QUẢNG TRỊ VÀ BƯỚC CHÂN BẠN TÔI QUA NHỮNG MIỀN TỐI SÁNG - Hồ Sĩ Khang