Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phan Trang Hy. Show all posts
Showing posts with label Phan Trang Hy. Show all posts

Sunday, December 24, 2017

ẤM ÁP MÙA NOEL - Truyện ngắn Phan Trang Hy



            

ẤM ÁP MÙA NOEL

Truyện ngắn Phan Trang Hy

       Mấy hôm rày, cứ mưa. Trời chớm lạnh. Nhìn đồng hồ đã 7 giờ sáng, thế mà Dao cứ tưởng còn sớm lắm. Hôm nay chủ nhật, dậy từ lâu, vẫn còn nằm trên giường, cô như tự thưởng cho mình chút thảnh thơi. Gác chân trên chiếc gối ôm, cô lại nhắm mắt, tận hưởng thời gian trôi. Cả căn phòng chìm theo con mắt. Cô tự ru mình. Bên tai cô vẳng tiếng nhạc Giáng Sinh. Dù không có đạo, nhưng Dao vẫn thích Noel. Cô tự nhủ gần đến Noel rồi! Cô thấy những mùa Noel chạy theo ký ức, những mùa Noel trôi như những chiếc xe tuần lộc chở ông già Noel phát quà cho con trẻ.
       Những giấc mơ qua, giấc mơ của tuổi thơ, giấc mơ cả trẻ em và người lớn trên thế giới này hát ca mừng an bình đến với thế gian đưa Dao về thời đi học. Biết bao buồn vui, hờn giận, yêu thương cuốn cô vào giấc mộng tuổi học trò. Dao nhớ lại Hàn Ni, cô bạn học cùng lớp thời trung học. Hàn Ni có đôi mắt rất đẹp và hiền. Nhiều đứa khen đôi mắt ấy giống đôi mắt Đức Mẹ. Quả thật, đến giờ, Dao vẫn không thể quên đôi mắt của Hàn Ni. Có lẽ gia đình Hàn Ni theo đạo Thiên Chúa nên cô có đôi mắt đẹp và hiền như thế! Có lần, nhân Noel, Hàn Ni tặng các bạn trong lớp mỗi bạn một thiệp mừng Giáng Sinh do chính Hàn Ni tự làm. Cái quý là ở chỗ đó. Gần 50 bạn trong lớp chớ đâu phải ít. Mà mỗi thiệp mỗi khác, dù cùng kích cỡ, nhưng hình vẽ và lời chúc khác nhau. Dao nhớ lời chúc của Hàn Ni ghi trong thiệp: “Nguyện cầu an bình trong Thiên Chúa!”. Tấm thiệp ấy, Dao vẫn giữ, đặc biệt mỗi lần Noel đến, cô lại lấy ra treo trên cây thông như nhớ lại một thời mộng đẹp thanh xuân.
       Dao lại nhớ những lời đồn đoán về Hàn Ni. Nào là sau lần chúc Giáng Sinh năm ấy, Hàn Ni đỗ tú tài, rồi vào đại học, rồi ra trường. Tưởng Hàn Ni sẽ kiếm công ăn việc làm, xây dựng gia đình, nhưng rồi cô lại đi tu. Và qua quá trình nỗ lực tu tập, Hàn Ni trở thành ma-sơ. Kể từ đó Dao không có tin tức gì về Hàn Ni.
       Rồi Dao lại nghĩ về mình. Gần 30 tuổi chứ đâu phải ít. Mối tình đầu có còn đọng trên môi? Không biết cớ sao mối tình thuở sinh viên lại vụt qua. Dao và Thiết yêu nhau vào 2 năm cuối đại học. Làm sao Dao quên được những con đường thân quen ở Đà Nẵng từng in dấu chân của hai người. Nào là đường Bạch Đằng với nắng nhuộm vàng buổi mai đầy nắng; nào là ly cà phê cóc thơm nồng buổi chiều mưa bên giáo đường chiều thứ bảy; nào là những ly kem mát ngọt giữa cái nóng phố đông. Rồi nào là những buổi học trên giảng đường của đại học Bách Khoa, nào là những lần đi chơi Suối Đá ngắm mây nước Sơn Trà, rồi đi Hội An vào những đêm rằm đi dạo, nghe bài chòi, ăn chè ngắm trăng trên sông Hoài… Tất cả chỉ là kỷ niệm.
       Chợt, điện thoại reo. Vẫn nằm, Dao cầm điện thoại, nhìn, biết đó là Chi gọi.
       “Mi biết giờ mấy giờ chưa? Tám giờ rồi đó! Còn ngủ nướng hả con kia! Nhanh lên, tụi tau đợi mi ở cà phê Cố Quận”.
       “Tau tưởng mấy đứa bay quên tau chứ? Tau dậy đây”.
       “Nhớ nhanh lên nghe! Có cả anh chàng mà bọn tau giới thiệu cho mi đó. Nhớ cho đẹp đẹp đó nghe!”
       Dao miễn cưỡng ừ ừ.

        ***
       Dao vội vội đánh răng, rửa mặt, vệ sinh. Rồi trang điểm, chọn cái váy sao cho hợp với thời tiết. Mất hơn nửa tiếng chứ đâu phải ít. Ngày thường, cũng chừng ấy việc trước khi đi làm, nhưng sao giờ, Dao cảm thấy như đóng kịch. Không đóng kịch là không được. “Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần” mà! Mới gặp người lạ lần đầu, ấn tượng để lại cho họ là gì? Bài học sơ đẳng trong giao tiếp như bắt cô phải làm cho trọn vai diễn của mình. Quả thật, trên đời này, một người phải đóng nhiều vai diễn trong những thời khắc khác nhau. Đóng vai cho chính mình, cho quan hệ tha nhân. Không ai có thể đóng thế vai diễn của cô cả. Người ta có thể chỉ nói về cô, bình phẩm về cô. Nói tốt, xấu, hay, dở về cô; chứ không thể thế cô làm chuyện tốt, xấu, hay, dở… Kể cả Chi và mấy đứa bạn cùng cái anh chàng nào đó đang đợi cô sáng nay cũng không thể đóng vai cô. Họ đang đợi cô diễn và đợi cái kết của vở diễn như họ mong đợi. Mà kết cuộc vở diễn như thế nào đây khi cô không thể mường tượng về cái kết của kịch bản. Có thể cái kết như thế này, như thế khác, như thế kia, như thế nọ. Chọn cái kết nào đây? Trong lòng cô, là cô mong cái kết sẽ đến như trong cuộc hẹn. Và rồi, nếu thuận buồm xuôi gió sẽ yên bề gia thất. Liệu cái kết như cô mong, như Chi và các bạn cô mong, kể cả cái anh chàng kia nữa?

       ***
       Rồi cuộc hẹn cũng qua. Những lời chọc ghẹo của Chi và các bạn cũng qua. Chẳng đâu vào đâu cho cuộc gặp với anh chàng nọ. Tự dưng, Dao thấy mình chẳng có tí rung động, một tí tình cảm gì với chàng ta. Hình thức cũng được. Còn tính tình, ai mà biết. Thế nhưng, trực giác như mách bảo rằng Dao và anh ta chẳng là gì của nhau. Và quả thực như vậy. Suốt cả thời gian ở cà phê Cố Quận, họ chẳng nói gì với nhau, chẳng qua nói chuyện để mà nói. Họ không ngượng, không e dè trong trò chuyện. Nói chuyện như thế, chẳng đọng chút gì cho nhau. Kể cả lời nói bóng gió của Chi vẫn chỉ là gió thoảng qua. Chẳng ai thèm nhắc lại. Dao thấy thái độ thờ ơ của anh ta và cô cũng cảm được chính cô cũng có thái độ thờ ơ ấy. Mà đã thờ ơ thì chắc là chẳng cần nhau.
       Lời bài hát vẫn nhè nhẹ. Dao nhẩm hát theo… “Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động/ Làm sao em biết bia đá không đau/ Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng/ Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”.
       Chi đánh thức dòng tâm thức của Dao chìm đắm trong lời bài hát: “Mi, thấy không? ‘Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau’. Còn mi tính sao đây?”. Nghe bạn nói thế, Dao chỉ cười trừ cho qua chuyện.
       Giờ ngồi mở mạng tìm những bản nhạc về Giáng sinh. Bài thánh ca “Hang Bêlem” vang lên nhè nhẹ: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời/ Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa/ Trong hang Bêlem, ánh sáng tỏa lan tưng bừng/ Nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng”… Bài hát như đưa Dao về thời hơn 2 ngàn năm trước. Dao như thấy hình ảnh Chúa Hài đồng xuống trần vì loài người. Rồi, thấy cả Chúa hồi 12 tuổi đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo, thấy cả hình ảnh Người đi rao giảng và chữa bệnh khắp xứ Ga-li-lê. Rồi Dao thấy Chúa bị bắt và bị xét xử, thấy cả khi Người bị đóng đinh trên thập tự giá và cả lúc Người sống lại và lên trời.
     Dao tự nhủ là Noel gần đến rồi! Còn chuyện chi đến thì nó đến, tính làm sao được. Dao không tiếc cho buổi gặp khi sáng. Dù sao cũng được gặp bạn bè. Thế là cũng được chút vui dù là trong chốc lát. Còn giờ phải tiếp tục vui thôi. Phải chuẩn bị chờ đón một mùa Noel nữa thôi.

       ***
       Trong phòng khách, cây thông Noel được Dao chăm chút trang trí. Nào là những quả bóng đủ màu, nào là dây kim tuyến, đèn màu, đặc biệt là những hộp quà, những thiệp mừng Giáng Sinh được Dao đặt ở vị trí thích hợp. Tấm thiệp của Hàn Ni tặng ngày nào vẫn được Dao gìn giữ và treo ở vị trí thích hợp.
       Không biết giờ Hàn Ni ra sao? Đang nghĩ về cô bạn ngày ấy thì có tiếng chuông. Dao ra mở cổng. Trước mắt cô là một ma-sơ. Vẫn đôi mắt hiền và đẹp. Hàn Ni đây rồi! Cô ôm chầm bạn. Cô cười trong những giọt nước mắt mừng vui.

       ***
       Mùa Noel năm nay có khác. Dao đón Giáng Sinh tại nhà Hàn Ni. Có cả anh trai của Hàn Ni nữa. Dao nghe nói anh ấy chưa có người yêu. Dao chỉ biết lòng mình an vui trong không khí Giáng Sinh đầm ấm. Một mùa Noel ấm áp đầy tình yêu thương lại về!

Tháng 12/ 2016.

Phan Trang Hy
READ MORE - ẤM ÁP MÙA NOEL - Truyện ngắn Phan Trang Hy

Saturday, July 2, 2016

GIẢ SỬ VÀ KHÔNG GIẢ SỬ - Tản văn của Phan Trang Hy



Tác giả Phan Trang Hy


Tản văn của Phan Trang Hy

GIẢ SỬ VÀ KHÔNG GIẢ SỬ

Giả sử ta không còn yêu nhau, thì quả đất này vẫn quay và mặt trời vẫn vậy. Vẫn ngày ngày cơn đói hành hạ cái dạ dày nhiễm chất độc từ biển, từ những bàn tay của kẻ nhân danh đồng chí, nhân danh tình hữu nghị. Và dù em không muốn hát nhưng em vẫn phải cuồng quay điệu nhạc của phận người nô lệ để vừa lòng bọn xâm lăng độc ác.

Giả sử rằng có người yêu nước lên án bọn bán nước cầu vinh, thì cả đồng bào Việt Nam có đồng lòng lên án? Giả sử bọn giặc nuôi mộng cướp nước ta thì đồng bào ta có sẵn sàng quyết chí vì nước quên thân? Và người lính có sẵn sàng hy sinh vì dân tộc?

Giả sử chiến tranh chống bá quyền bành trướng xảy ra thì ai là người yêu nước? Và bộ mặt dân tộc ta có như thuở làm nên những trận đánh Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa, Vị Xuyên?

Và không cần giả sử, là ta mãi mãi yêu nhau thì mặt trời vẫn vậy. Cơn đói không còn trên nét mặt của trẻ thơ, cái chữ khai phóng nụ cười tương lai dân tộc. Và không cần giả sử, là tự đáy lòng mỗi người Việt Nam biết ai là bạn, là thù.

Thôi, không cần giả sử nữa. Ta vẫn là ta, là đồng bào của nước Việt Nam!

Tháng 6/ 2016

Phan Trang Hy
phantranghy@gmail.com
READ MORE - GIẢ SỬ VÀ KHÔNG GIẢ SỬ - Tản văn của Phan Trang Hy

Wednesday, March 30, 2016

TIẾNG LÒNG TRONG “CO VÀO KÍ ỨC” - Phan Trang Hy




TIẾNG LÒNG TRONG “CO VÀO KÍ ỨC”

Phan Trang Hy


Cái tình của văn chương muôn đời là cái tình của tri âm, tri kỉ. Cái tình ấy có thể chợt đến, rồi đi, nhưng rồi cũng để lại ấn tượng nào đó trong “cõi người ta” này. Cầm trên tay tuyển tập thơ “Co vào kí ức” (Nxb Thanh niên, 2016) của ba nhà thơ là Hàn Quốc Sinh, Chiêu Dương và Hàn Quốc Vũ, rồi đọc, và theo tôi, cái đọng lại trong tôi là tình yêu và sự chiêm nghiệm của lòng thơ.
Trước tiên, tình yêu trong “Co vào kí ức” là những hoài niệm, nhớ thương, là một thời khắc khoải tim yêu, là những mong chờ dáng mộng. Mãi tình yêu cứ đẹp, cứ sầu:

Tình yêu như chiếc lá vàng mỏng mảnh
Lòng giếng sâu e héo úa trăng ngà
Anh thảng thốt nghe tiếng cười nửa miệng
Mộng tắt đời nghiêng, buồn đến xót xa!”
(Thương nhớ, tr23)

Nói đến tình yêu là nói đến tiếng lòng mãi dễ gì quên mối tình thơ ngây con gái, đâu dễ gì quên mối tình tuổi ngọc, tuổi ngà? Sợ ai kia, sợ tình kia có còn? Sợ ai kia lãng quên một khối tình trong kí ức: “Ai sẽ mang hoa về/ Mùi hương em gái hoa?/ Ai sẽ đem nụ cười/ Cài trong trái tim em/ Ai sẽ đem bình minh/ Gieo tình ánh mắt ấy/ Xóa mờ đường đã qua/ Xóa phép màu nhung nhớ/ Tình ơi! Ta đi thật rồi.” (Lãng quên hoa quỳnh, tr 115)

Vẫn là quỳnh hoa một thuở. Vẫn là một thuở yêu nhau còn đọng lại hương thơm của quỳnh, hương thơm của đời như mộng: “Em về ngủ men say/ Hương đời ru hương quỳnh/ Làm tan ra rượu em/ Múa quay cuồng thâu đêm/ Biết em sau mùa quỳnh/ Nhạc hóa lòng em/ Trắng trinh/ Trắng trinh/ Sao tượng đá em buồn?” (Lặng lẽ hoa quỳnh, tr 127)

Còn trong “Vách đá lòng anh”, “cái tình” quả là “cái chi chi” của anh, của em, của những kẻ yêu nhau, nhưng… Cũng bởi chữ “nhưng” ngăn cách. Không biết ai trách sự cách ngăn ấy. Như là em đang trách em? Như là anh đang tự trách anh? “Ta hơn em cuộc đời/ Ta thua em cuộc tình/ Quay quắt buồn quay quắt che ngang/ Nụ cười kia nụ buồn cháy rụi/ Thiêu hồn chúng mình tan chảy đến vô duyên” (tr 104)

Đâu phải tự trách chính mình, đâu phải tự trách nhau. Trách gì nhau khi tình chưa trọn. Mà ở đời này có cái gì trọn vẹn đâu mà trách, mà hờn. Thôi thì lặng câm, nếu được: “Chợt sững sờ về lại bến sông xưa/ Trả lại nửa đời bỏng rát/ Tình thầm chưa dám ngỏ/ Lặng câm” (Lặng câm, tr 30)

Khi yêu, mấy ai muốn xa nhau. Khi yêu, anh cứ ngỡ cùng em là một, và em cũng tin rằng em và anh “tuy hai mà một”. Cả em, cả anh đều muốn tan vào nhau như ánh sáng huyền diệu của thiên hà trên kia, như dòng hơi thở bồng bềnh cột chặt em vào anh. Biết là thế, biết là “Tình dù không phân giới”, thế mà “Sao cười khóc vỡ thiên hà?”. Để rồi, biết rằng yêu là cam chịu:

Ôm vũ trụ em chới với,
Lòng anh vũ trụ lạc loài!
Bao la dõi hoài không tới,
Khung trời sâu thẳm chia hai!”
(Hai vũ trụ, tr 78)

Cái thuở yêu, ai đã, đang và sẽ yêu thì đâu quên được cái bổi hổi bồi hồi, cái xao xuyến của “thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Rồi, cái hồn thơ, cái hồn được yêu, thèm yêu như bay bổng, như chơi vơi, như “chếnh choáng” trong cõi yêu: “Hồn tôi chếnh choáng đi lạc lối/ Đến tận khu vườn tuyệt mật kia/ Trời ơi! Thảng thốt lời chưa nói/ Môi cứ run khúc nhạc đầm đìa.” (Hình như, tr 37).

Không những trải lòng bởi chữ yêu muôn thuở, mà “Co vào kí ức” còn thể hiện chiêm nghiệm của những tâm hồn đớn đau cho phận người.

Đời người theo vòng sinh tử của tạo hóa, có khác chi hoa nở rồi tàn, có khác chi đêm rồi ngày theo những biến thiên của đất trời, theo biến thiên của hô hấp, của từng sát na huyền nhiệm:

Cuộc đời biến thiên hàm số phôi pha huyền nhiệm,
Ta giăng màn ngang mắt,
Mặc thế nhân!
Nhìn hoa búp – nở,
Nở - búp,
Trẻ tu oa,
Người khóc chết,
Mơ hồ!
Cuộc vô thường,
Ai hay?”
(Cuộc vô thường, tr 47)

Qua bao biến thiên cuộc đời, mới ngộ ra kiếp người là hữu hạn. Là “con ong cuộc đời” hiểu được chất ngọt của hoa. Nhưng, mấy khi hiểu được chất ngọt của “hoa quỳnh”, “hoa của mê say”. Biết bao loài hoa trên đời này, nhưng dễ gì làm “con ong” để thưởng thức hương “hoa quỳnh” trọn vẹn? Thôi thì, phải chấp nhận như là duyên kiếp chốn trần ai: “Đời tôi bước qua/ Bao thành phố lớn/ Núi non gập ghềnh/ Ai khổ, ai hơn/ Thì thôi nhé em/ Nhé em/ Nhé em đừng buồn” (Con ong, tr 124)

Đời buồn vui là vậy. Có qua kiếp buồn mới hiểu trọn niềm vui. Có qua hoan lạc mới sống trọn vẹn đắng cay, niềm đau của kiếp người mộng mị: “Kia mây trời mênh mông/ Xin lòng em mở rộng/ Thả nỗi niềm bay đi/ Thả ngục tù khắc khổ/ Gió thênh thang cười đùa” (Vui ve sầu, tr 133)

Và có qua buồn thương, tiếc nhớ mới thấy được tâm hồn đọng lại những gì, mới cảm nhận được tình người, tình yêu trong cuộc sống. Thời gian thành vết cứa trong lòng, thành nỗi nhớ thương khôn nguôi: “Thời gian rụng xuống cuộc đời/ Làm chao nỗi nhớ đầy vơi tiếng buồn/ Xin em đừng để mưa tuôn/ Cho anh chết dưới đêm sương lạnh lùng.” (Thời gian rụng, tr 19)
Trong bài “Hào quang tâm linh” (tr 56), Chiêu Dương đã thú nhận như con chiên quỳ trước Chúa sám hối, để hưởng ân phước tắm gội tâm hồn “cằn cỗi” như “sa mạc”:

Ân tình chi tâm hồn tỉ năm chai đá?
Văn minh về những cuộc đời hoang hóa?
Vầng dương nghệ thuật nhân sinh,
Chờ hào quang tâm linh soi rạng rỡ
Tình đời!”

Cũng thế, trong “Một mai hiu quạnh” (tr 128), Hàn Quốc Vũ như đã qua cuộc đời này từ trong tiền kiếp:

Một mai tôi bước qua cuộc đời
Hiu quạnh nào, chỉ dấu chân tôi
Một mai tôi trả hơi thở này
Thân bụi liền vùi xuống lãng quên”.

Để rồi qua những thác ghềnh của cuộc đời, của tình yêu, của những nhớ thương, của kiếp người muôn thuở, tiếng lòng lại tỏa lên đóa hoa mơ mộng, tỏa lên ánh vàng bình yên như Hàn Quốc Sinh trong “Co vào kí ức” (tr 27):

Bao yên ắng sắc vàng bình lặng
Có ai hay dòng đời nghiệt ngã
Co vào kí ức mơ trăng”.

Co vào kí ức” là tuyển tập thơ của ba người đồng điệu, đồng cảm, đồng tâm cất lên tiếng lòng thi ca là Hàn Quốc Sinh, Chiêu Dương, Hàn Quốc Vũ. Tuy rằng, có chỗ hình ảnh, cấu trúc, âm điệu thơ người này cảm, người kia không, nhưng đáng quý là tập thơ đã thể hiện khát vọng cháy bỏng muốn cống hiến tâm tình thơ đến với bạn đọc.

Tháng 2/2016


Phan Trang Hy
READ MORE - TIẾNG LÒNG TRONG “CO VÀO KÍ ỨC” - Phan Trang Hy

Sunday, March 13, 2016

VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy


Phan Trang Hy


Truyện ngắn của Phan Trang Hy

VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA

       Hải bặm môi, trở mình. Mấy hôm nay trở trời, nằm trên giường nệm, anh vẫn thấy ê ẩm cả người. Vết thương ngày nào, giờ, tái phát. Nhưng anh gắng gượng. Anh phải cố sức để vẽ cho xong bức tranh về đồng đội anh ngày nào, về một thời đã ám ảnh anh trong từng hơi thở, trong từng mảng màu, nét cọ mà anh thao thức.
       Anh khó nhọc chống cùi ngồi dậy. Miệng khô khốc. Anh nuốt nước bọt. Chỉ có sự rát đau ở họng. Anh đưa miệng ngậm chiếc ống nhựa, hút nước ở ly.
       Uống nước xong, anh lại định thần, gắng hít thở thật mạnh. Tựa lưng vào chiếc gối, anh nhìn bức tranh còn dang dở. Hình ảnh đồng đội của anh lại hiện về.
       Nhớ lại ngày ấy, anh cùng đồng đội xây dựng đảo. Chiến dịch CQ88 được phát. Nhận lệnh là đi. Chỉ có trái tim vì biển, vì đảo. Không phải là những câu khẩu hiệu tuyên truyền mà chính là mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu biển đảo đã đưa anh cùng đồng đội đến với Gạc Ma.
       Nhìn bức tranh, anh như thấy từng người. Này là Quân, lính trẻ nhất đơn vị, thích nghe anh nói chuyện về những cô gái ở làng biển quê Quảng Nam. Này là Nhơn, người lúc nào cũng thích ca bài chòi. Cựa một tí là ca. Dù chẳng có hơi xuống giọng xề. Thế nhưng, mỗi lần rảnh là ca. Anh em trong đơn vị thích cái tính xuề xòa của Nhơn nên cũng thích luôn những lời ca dân dã ấy. Này là anh Phương, chỉ huy, coi anh em như ruột thịt. Còn biết bao nhiêu người nữa. Họ trong tranh như cười động viên anh vượt qua cơn đau.
       Nhìn tranh, anh nhớ lại ngày ấy...
       Trời hửng sáng. Biển vẫn trong xanh. Cả đơn vị đang ra sức xây dựng đảo. Yên bình trên từng lời bông đùa của đồng đội. Yên bình trên từng con sóng. Hải như nghe được lời của Nhơn ca: “Đảo này là của chúng ta. Ngàn năm ta giữ nước nhà Việt Nam...”. Tiếng vỗ tay vang lên. Chưa kịp cười đùa cho thỏa thích, Hải bỗng nghe tiếng loa. Lởn vởn tàu của giặc. Chúng bắt loa gọi đơn vị anh rời đảo. Nhưng lời của bọn giặc chẳng là cái quái gì. Cả đơn vị phớt lờ lời của giặc. Anh em được lệnh của anh Phương: “Phải bình tĩnh. Đảo là của ta, ta quyết giữ. Chúng ta giữ đảo là giữ đất Mẹ Việt Nam. Quyết không rời đảo!”. Lúc ấy, Hải như thấy tất cả đều có tâm niệm: “Quyết không rời đảo!”. Bọn giặc tìm cách khủng bố tinh thần của anh em. Rồi bất thần, bọn chúng xả súng về phía đơn vị anh.
        Hải không ngờ tình thế như vậy. Chỉ tiếng súng nổ. Và đạn bay... Chợt tiếng của Phương vang lên: “Tất cả nắm chặt tay nhau, kết thành vòng tròn. Quyết tâm bảo vệ đảo, bảo vệ cờ Tổ quốc!”. Đó cũng là mệnh lệnh của trái tim. Trong làn đạn của giặc, Hải và đồng đội siết tay thật chặt, kết thành vòng tròn, giữ cờ Tổ quốc. Lá cờ ngạo nghễ giữa biển trời. Giặc vẫn xả súng. Hải một tay nắm tay Nhơn, một tay nắm tay Quân. Và cứ thế vòng tròn vẫn vững trước đạn thù. Bỗng, Nhơn á lên một tiếng. Giọng Nhơn đứt quãng. Máu Nhơn! Nhơn bỏ tay Hải, quỵ xuống: “Anh Hải!... Hãy… trả thù… cho… em!”. Đạn giặc trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái… Đạn giặc bao vây đồng đội anh. Rồi, Quân cũng bị trúng đạn. Quân ngã trên người Hải, giọng phều phào: “Anh đưa… em… về quê… nghe!... Nói… với Mẹ… là em… em… nhớ Mẹ… lắm!... Còn chuyện… mấy đứa… con gái… làng chài quê anh...,… em xin… nói lời… vĩnh… biệt… với họ… Mẹ!... ”. Quân hy sinh trên tay anh. Anh chưa kịp nói lời nào thì lại nghe tiếng gào to. Đó là tiếng Phương. Tiếng của Phương hòa trong tiếng sóng: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo”. Đạn giặc bắn không ngừng. Hải thấy hai tay mình như có ai chém.
       Hai tay của Hải không còn. Trước mắt anh sừng sững lá cờ Tổ quốc cùng đồng đội. Mắt anh vẽ một khoảng không. Biển. Đảo. Đồng đội. Cờ Tổ quốc!...
                                                  *
                                               *      *
       Hải được giải đặc biệt về Biển đảo Quê hương, nhiều phóng viên đã đến tìm hiểu về cuộc đời anh. Bấy lâu nay, có ai biết đến Hải Trường Sa là ai đâu. Nhưng giờ đã khác. Bút danh Hải Trường Sa khẳng định với công chúng về tài năng hội họa.
       Tôi được Hội Văn học Nghệ thuật thành phố gửi giấy mời tham dự buổi khai mạc và trao giải thưởng. Vì bận việc đột xuất, nên tôi đến trễ. Chỉ được xem tranh là chính. May mắn cho tôi là được thưởng thức một số tranh dự thi đoạt giải cùng với một số tranh khác của những họa sĩ nổi tiếng trong nước.
       Sau khi xem từng bức tranh, tôi giành thời gian bên bức tranh đạt giải đặc biệt. Trước mắt tôi là bức tranh mang tên “Vòng ký ức Tháng Ba”. Và điều làm tôi ngạc nhiên là, bên cạnh bức tranh, một người không còn hai bàn tay. Đó chính là Hải Trường Sa, tác giả bức tranh ấy. Một số phóng viên đang phỏng vấn anh. Anh chỉ cười. Đứng cạnh Hải, tôi nghe anh trả lời:
       - Có gì đâu! Tôi không vẽ là tôi còn nợ với chính tôi. Tôi chỉ là người lính giữ đảo năm nào, giờ là như thế này đây - Anh cười và đưa hai cánh tay cụt - Cũng may cho tôi là chất lính một thời trong tôi giúp tôi vẽ. Còn đời tư tôi, xin các bạn thông cảm, tôi không muốn nói về mình. Chỉ thế thôi! 
       Nghe những gì anh trả lời, không hiểu anh ta khiêm tốn hay kiêu. Nhưng rồi, nhìn nụ cười hiền với tiếng nói đặc sệt chất giọng Quảng Nam, cùng với ánh mắt sáng tự tin, tôi tin lời anh nói.
       Và rồi, người xem tranh cũng bớt dần. Tôi đến làm quen Hải. Tôi tự giới thiệu về mình, là thầy giáo, nhà văn, thích xem tranh vẽ. Hải nhìn tôi cười. Và đưa cái cùi chỏ đụng vào bàn tay tôi lắc lắc.
       Từ đó trở đi, chúng tôi thành bạn của nhau. Những khi rảnh, tôi thường đến thăm Hải. Hoặc trao đổi qua facebook. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Biết tính Hải không muốn nói về mình, nhưng tôi cũng hỏi chuyện riêng tư của Hải. Vì thân, mà đã là bạn thân cần gì phải dấu nhau điều gì, nên rồi Hải cũng tình thật kể cho tôi nghe.
       - Cậu biết không, hồi thanh niên, mình thích vẽ lắm. Nhìn những tranh của Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, rồi đến Đinh Cường, Bửu Chí, Rừng… là mình mê tít. Mình có một tập ảnh chụp lại các bức tranh mình thích. Nhìn những bức tranh ấy, nhiều lần, mình tưởng tượng các sắc màu trong các tranh ấy như muốn nói với mình: “Bạn cứ tin vào khả năng và tình yêu của chính mình thì mới có thể vẽ những tranh đẹp được”. Mình tin lời sắc màu nói với mình. Từ đó, ngoài chuyện học, mình lại lao vào việc mày mò, tìm hiểu về hội họa. Nào là cách tìm chủ đề, tìm bố cục, cách pha màu… Thú thật, mình thích vẽ từ nhỏ, lại có chút năng khiếu, nên mình vỡ lẽ ra là mình có thể vẽ những gì mình thích, những gì in đậm dấu ấn trong lòng mình.
       Hải nói như trút hết tâm trạng của mình. Tôi cầm cùi tay Hải, xoa xoa, nói:
       - Hèn gì! Phần thưởng cậu nhận xứng đáng với công sức của cậu.
       Hải kẹp ly nước lên uống. Rồi để xuống bàn. Tôi nhìn căn phòng xinh xắn, đầy những tranh. Có bức đã hoàn thành. Có bức chưa xong. Bên cạnh giá vẽ nào là những hộp sơn, lọ màu… Đủ cả. Tất cả đều gọn gàng. Nhìn căn phòng một hồi, Tôi khen:
       - Họa sĩ như cậu có khác! Nghiêm túc dữ.
       Hải nhìn tôi cười:
       - Sao cậu lại nói thế? Tại cái tính mình giờ nó thế. Quen rồi. Để mọi thứ lộn xộn, ngổn ngang, mình không chịu được. Cũng tại chất lính một thời tạo cho mình cái tính ấy. Thật ra, khi còn trẻ, trước khi vào lính mình cũng a-ma-tơ lắm.
       - Hồi trẻ, cậu nghệ sĩ lắm thì phải? Kể cho tôi nghe cậu tập như thế nào mà được như rứa?
       Hải cười to, tiếng vang như sóng biển:
       - Ừ, thanh niên đa phần là thế mà cậu. Bộ cậu không có à? Nhưng giờ, như cậu thấy đó, mình phải tự nghiêm túc với chính mình mà. Cũng nhờ làm lính đó.
       Như được dịp kể cho tôi nghe, Hải cho biết những năm tháng ở quân trường, anh phải tự điều chỉnh ghê lắm. Chớ thằng con trai nào không có chút máu nghệ sĩ? Cái máu ấy tạo ra những biểu hiện để gọi là chút tài tử, chút chịu chơi. Hải nói rằng con trai mười tám, đôi mươi có tính như con chim trống rướn cổ hót phô bày bản lĩnh trước lỗ tai của những chim mái; như gà trống, rướn cổ gáy, phô diễn khả năng trước sự cương trứng của gà mái; như công trống xòe sự rực rỡ, phơi sắc màu tình yêu trước ánh mắt của chim mái. Hải cũng tâm sự, hồi chưa vào lính, anh thường thức khuya, đàn hát như khoe cho hàng xóm biết tài của mình, hoặc để bọn con gái chú ý. Có lẽ, hầu như đàn ông trai trẻ đều có một thời như vậy! Nhưng rồi, khi vào lính, dù tính đàn ông con trai vẫn thế, nhưng sống có quy củ hơn. Ăn có giờ, học có giờ, tập có giờ. Chệch giờ giấc là bị kỷ luật ngay. Không một hai gì cả. Còn quần áo, mùng mền, chiếu gối đâu vào đó. Ngay ngắn, sạch sẽ, ngăn nắp. Giường nào cũng như thế, cũng răm rắp.    
       - Còn bức tranh được giải vừa rồi, cậu vẽ khi nào? Do đâu?
     - Khi nào à? Mình chỉ nhớ là mình nhớ biển, nhớ con sóng ở Trường Sa. Không biết làm gì để đỡ nhớ, mình lên mạng tìm những bài hát về biển đảo, về tháng Ba. Tình cờ mình xem một video về trận Hải chiến ở Gạc Ma. Xem mà mắt mình rưng rưng. Như có ai bóp tim mình. Như ai đó làm mình nghẹt thở. Vòng tròn ấy cứ ám ảnh mình từ đó!
       - À, ra vậy!
       Từ khi đạt giải, mỗi lần Thành phố có triển lãm tranh về chủ quyền biển đảo, Hải đều được mời gửi bức tranh đạt giải tham dự. Và lần nào cũng vậy, tôi tìm cách dàn xếp công việc, thời gian để chở Hải đến phòng triển lãm. Như mọi lần, tôi cùng Hải đứng trước tranh ngắm nghía. Hải nói như thấy Nhơn, Quân, anh Phương cùng đồng đội hiện về. Còn tôi, lần này, như thấy trong tranh, trước mắt mình, hiện lên là vòng lửa bất diệt, vòng của sự sinh tồn của đất nước, vòng của sự sinh sôi, nảy nở lòng yêu nước, vòng của sự kết đoàn toàn dân tộc. Trước mắt tôi là các chiến sĩ – những chàng trai nước Việt – nắm tay nhau làm cột mốc. Những gương mặt ánh lên lòng tự hào, sẵn sàng hy sinh vì biển đảo. Tôi như nghe đủ giọng nói của mọi miền Tổ quốc. Giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, giọng Khánh Hòa, Quảng Nam… Bắc, Trung, Nam có cả. Tôi như nghe họ hát. Tiếng hát của họ hòa vào sóng biển vang mãi ngàn năm cho con cháu Việt Nam biết một thời bi tráng của dân tộc.
       Đứng trước bức tranh “Vòng ký ức Tháng Ba” là mọi người và tôi. Nhìn sâu vào trong tranh, tôi nghe từ tiếng vọng từ bức tranh: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo!”.

Tháng 02/2016
Phan Trang Hy



READ MORE - VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

Tuesday, February 17, 2015

BỨC THƯ THỜI ÁO TRẮNG - Truyện ngắn của Phan Trang Hy





Truyện ngắn của Phan Trang Hy
BỨC THƯ THỜI ÁO TRẮNG


      Đang ngồi xem ti vi, điện thoại báo có tin nhắn. Bình nghĩ thầm: Chắc tin khuyến mãi, quảng cáo. Nghĩ thế, nhưng hắn vẫn mở xem. Tin nhắn của thằng Anh, lớp trưởng của hắn hồi còn học trung học đệ nhất cấp. Là thông tin về thời gian, địa điểm họp số bạn ở Đà Nẵng chuẩn bị về tham dự 50 năm ngày thành lập trường. Đọc tin nhắn, hắn nhớ lại tuổi học trò, nhớ lại thời nhỏ trước khi vào học Phan Châu Trinh.
      Rồi, ngày họp mặt cũng đến. Chỉ có 14 đứa, cả gái, cả trai ở Đà Nẵng có dịp gặp nhau. Biết bao kỷ niệm của tuổi học trò, của thời ngây ngô, thơ dại hiện về trong buổi gặp mặt.
      Tiếng nói, tiếng cười rộn lên. Ngồi bên nhau, trước mặt mọi người là những ly cà phê, chanh đá, trà gừng, nhưng chẳng ai muốn đụng đến. Chỉ là cái cớ để mọi người tâm tình, trải bày nỗi lòng bấy lâu xa cách. Bọn hắn, giờ chớm tuổi 60. Thế nhưng, vẫn chất giọng Quảng Nam – Đà Nẵng, vì từng ấy đứa là dân sống ở đây, lấn át cả tiếng nhạc phát ra từ chiếc loa thùng. Bọn hắn bàn việc thăm trường, bàn việc góp bài cho tập san mừng ngày thành lập trường. Đủ thứ cả. Rồi, bọn hắn nhắc lại những gương mặt ngày xưa. Biết bao gương mặt thân quen, hoặc chỉ loáng thoáng, hiện về. Thằng Thành, bạn hắn, cái thằng hồi học đệ nhất cấp, thường lấy xe Yamaha màu đỏ, chở hắn đi học Anh văn ở Hội Việt Mỹ, ngồi bên cạnh bỗng lên tiếng:
      - Chắc mi đang nhớ “nàng” phải không?
      Hắn không trả lời. Chỉ im lặng. Không chối. Cũng không giả đò thanh minh thanh nga như hồi đi học. Quả thật trong lòng, làm sao hắn quên được cô ấy. Như thiên thần tinh khôi trong chiếc áo đầm trắng, cô ấy như làm ấm lòng bao đứa con trai khi chớm gió bấc về. Chiếc áo ấy như làm dịu mát bãi cát của sân trường trong những ngày chớm hạ.
      Hồi ấy, hắn biết, và tin chắc là biết bao đứa con trai, kể cả hắn, tập tành làm thơ, viết nhạc, vẽ tranh tặng cho cô ấy. Có thể những tác phẩm ngây ngô ấy không đến với cô ấy. Nhưng hắn tin chắc là cô ấy biết rõ về chính mình, biết bọn con trai để ý. Hắn chỉ mong cô ấy đừng quan tâm đến ai cả. May ra có ngày nào đó hắn có cơ hội để tỏ lòng với cô ấy.
      Và trong lòng hắn, có lẽ mối thương thầm vụng dại đã biến hắn trở thành người nuôi nhiều hy vọng. Hy vọng như hiện trên từng câu chữ hắn viết về cô ấy. Hy vọng trong những bài học, trong kỳ thi Tú tài IBM, trong kỳ thi vào ngành Kinh thương của Đại học Cộng đồng Quảng Đà. Hắn tin là có ngày hắn nói thật lòng mình với cô ấy. Hắn tin là vậy!
      Quả thật muôn ngàn lần trước sau như một, hắn nuôi hy vọng trong niềm tin mãnh liệt là có ngày cô ấy biết được lòng thiệt của hắn. Thiệt như xứ Quảng quê hắn. Thiệt như giọng trầm nhẹ xứ “trầm hương” pha chút vị mặn Quảng Đà của cô ấy.
      Tiếng nhạc vẫn dịu nhẹ. Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay… Hắn nhẩm hát theo. Rôi, hắn ngừng hát, nói với thằng Thành:
      - Mi có tin chi về “nàng” không?
      - Tau có vào facebook của “nàng”. Có gửi lời kết bạn. Facebook toàn là những ảnh chia xẻ về hoa, ẩm thực.
       - Rứa hả!
      Nói xong, hắn thầm nghĩ, là phải lên mạng để tìm cô ấy. Những ngày sau đó, hắn hăng hái lên mạng. Quên cả giờ giấc, thời gian... Hắn vào Google, đánh họ tên cô ấy. Hắn tìm thấy cô ấy thật rồi. Cô ấy tham gia viết bài ở các trang mạng Quyên book, Sáng tạo… Đặc biệt trang Nữ Trung học Đà Nẵng, hắn tìm thấy những hình của cô ấy. Hắn “save” những hình ấy. Tưởng nhìn hình để đỡ nhớ, ai dè, nỗi nhớ ngày xưa như có dịp bùng cháy trong lòng hắn.
      Hắn nhìn kỹ những tấm hình của cô ấy khi về Đà Nẵng chụp với bạn bè, chụp lại một góc của trường xưa – “Nữ Trung học Hồng Đức”. Hắn làm sao quên được tấm hình đen trắng của cô ấy có ghi một số chữ, trong đó hắn đọc được hai chữ ĐÀ - NẴNG. Này là mái tóc dày mượt. Này là đôi mày thanh tú. Đôi mắt hơi suy tư, hiền quá đỗi. Cái miệng xinh xinh, nhân trung hiện rõ. Gương mặt ấy sáng mãi như tư chất sáng dạ, khéo làm của cô ấy.
      Rồi hắn nhớ cái lần hắn viết thư chuẩn bị gửi cho cô ấy. Bức thư của tuổi học trò vụng dại đâu thể nào đến được với cô ấy. Hắn hình dung ngôi nhà xinh xắn của cô ấy ở cư xá Thanh Lịch. Hắn đâu quên được những lần đi ngang qua ngôi nhà ấy, hắn mường tượng ngày xưa có bóng dáng dịu dàng, hiền ngoan ngồi học bài, hoặc hát vu vơ khi làm những chiếc bánh ga-tô thơm lựng.
     Thời gian cứ trôi. Nhưng, tuổi thư sinh như đọng trong lòng hắn…
      Đang ngồi trước lap-top, chỉnh sửa lại tiểu thuyết “Người hay là những cơn mơ mạo danh” để kịp in, hắn nghe điện thoại kêu. Thằng Anh rủ hắn uống cà phê. Chả là chủ nhật, hắn thư thả cho khỏe một chút.
      Hắn ngồi nghe thằng Anh tán chuyện. Thường hắn ít nói. Chỉ có thằng Anh nói. Qua câu chuyện, thằng Anh có kể cho hắn nghe “thiên tình sử” của đôi bạn cùng dạy với nó ở Duy Xuyên. Mối tình nào cũng có cái đẹp của nó. Đẹp như quê hắn. Đẹp như hắn từng nhớ đến cô ấy. Hắn im lặng ngồi nghe thằng Anh kể…
      Tháng Ba vừa rồi, những người bạn của thằng Anh từng dạy ở Duy Xuyên có tổ chức họp mặt. Thằng Anh cũng tham dự. Cũng bình thường như những cuộc họp mặt khác nếu không có chuyện của Tuấn và Phượng. Mà câu chuyện thoạt nghe cũng chỉ có vậy: Ngày trẻ họ học chung, có tình cảm với nhau nhưng đã không đến được với nhau. Kỳ gặp mặt này bạn bè khuyến khích Tuấn nên tỏ lòng với Phượng… Và rồi Tuấn bỗng dưng đã trở thành một cậu bé, như thuở còn đi học: “Tôi chỉ xin nói với Phượng một lần, rồi sao cũng được. Phượng có chịu không? ... Xin Phượng gọi tôi bằng anh. Và… và… xin cho anh được hôn lên má em một lần.”.
      Nghe thằng Anh kể tới đó, hắn cũng muốn thú tội với bạn bè, với cô ấy là hắn cũng muốn được một lần gọi anh, em và được hôn lên má của cô ấy, dù có xót xa nước mắt.
      Và trong hắn hiện lên thằng Bình hồi trẻ đang ngồi viết thư gửi cô ấy. Bức thư thời áo trắng thiệt thà hiện ra trong ký ức.

                                                 Tháng 3 – 2014
                                                 Phan Trang Hy


READ MORE - BỨC THƯ THỜI ÁO TRẮNG - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

Friday, September 5, 2014

Truyện ngắn của Phan Trang Hy - TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ



TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ

Gần đến Trung thu, thằng Quân háo hức chi lạ. Nghe cô nói năm ni các học sinh lớp 6 phải làm lồng đèn để chơi. Cô khuyên, đã lên học trung học rồi, nên làm chớ không nên mua. Có thế mới thấy ý nghĩa của cái Tết Trung thu. Chớ mua dù có đẹp nhưng cũng chẳng có kỷ niệm gì sau này. Nghe cô nói vậy, thằng Quân chỉ biết thế, chứ nó chưa thấy ý nghĩa, kỷ niệm gì cả. Nhưng nó nghe lời cô. Nó phải nhờ ba nó hướng dẫn nó làm mới được.
Mấy năm trước, ba mẹ thương nó nên thường mua lồng đèn bán sẵn. Có khi là lồng đèn xe hơi, con cá, hay thứ gì khác, đều là lồng đèn bằng nhựa có pin… Có thể, một thời hợp mốt đối với trẻ con. Nhưng rồi, vài năm trở lại đây, mốt lồng đèn được sản xuất tại Trung Quốc không còn hợp thời. Xu hướng chọn đồ chơi cho trẻ có khác trước.
Và qua lời cô, nó biết lồng đèn thắp bằng pin không phải là lồng đèn truyền thống. Và nó cũng từng nghe cô giáo nói có một số lồng đèn do Trung Quốc làm có chứa độc, nên nó sợ. Nhưng gần đến Trung thu rồi, lấy chi chơi đây, nên nó lại hỏi và nhờ ba:
- Ba ơi! Con không thích lồng đèn nhựa của Trung Quốc. Ba đừng mua nghe. Con thích chơi lồng đèn tự làm. Ba bày con làm nghe.
Nghe Quân yêu cầu, ba nó chép miệng:
- Tiếc thật! Ba muốn cùng con làm. Nhưng ba bận quá. Con nhờ nội đi. Nội con bày là nhất đó.
Quân năn nỉ ba, nhưng ba vẫn nói bận. Không còn cách nào khác, Quân nói lí nhí:
- Dạ. Con sẽ nhờ nội bày.
Mấy bữa nay, thằng Quân chưa dám nhờ nội. Nó đợi chiều, đi học về, nó sẽ nói với nội mới được. Trung thu gần đến rồi mà. Không nhờ nội thì làm sao có lồng đèn chơi.
Vừa vào nhà, thằng Quân thấy nội đang tưới nước mấy chậu mai, nó bèn chạy lại bên nội, nói:
- Nội ơi! Gần Trung thu rồi, nội bày con làm lồng đèn nghe!
Vừa tưới nước, lão cười nói:
- Cái thằng, bữa ni bắt nội bày làm lồng đèn, lạ ghê, Mà sao con biết nội làm được?
Nghe thằng Quân kể lại là ba nó nói thế, lão Thạc thấy vui vui. Lão cười:
- Cái thằng cha mi! Được, nếu con thích thì ông cháu ta cùng làm.
Thế là, hôm sau, lão Thạc tìm tre. May mà quê lão vẫn còn tre. Dù quê có thay đổi, làng như phố, nhưng tập tục, ruộng vườn vẫn còn. Những lùm tre bên sông vẫn còn. Chiều chiều có những con chim về đậu. Chiều chiều vẫn khói đồng sau mùa gặt. Vẫn những tiếng cười, tiếng nói mộc mạc đậm chén mắm cái chấm với rau lang, rau muống luộc. Lão gật gật cái đầu, mỉm cười một mình. Mắt lão nhìn con đường bê tông trước mặt. Quê lão có cuộc sống hiện đại hơn. Rồi điện về. Nhà lão có ti vi màn hình phẳng. Thằng con lão lại bắt cả kỹ thuật số. Nhiều kênh chi lạ. Không những phòng khách có cái ti vi to đùng, mà phòng ngủ của thằng con lão cũng có. Bọn trẻ bây giờ sướng thật. Quê mà có tủ lạnh, quê mà có máy giặt, xe hơi…
Vừa đi vừa ngẫm nghĩ, lão thấy sướng cả bụng. Chợt lão nghe tiếng gọi:
- Nè, ông Thạc ơi, đi đâu đó? Có rảnh ghé tôi uống chén nước chơi. Có chút chè của thằng cháu mới mua.
Thì ra lão Đôn. Là bạn từ thời còn học trường làng đến giờ. Hơn 50 năm là bạn của nhau. Có chút vui, chút buồn họ đều chia sẻ cùng nhau. Thấy lão Đôn ra tận cổng đón, lão Thạc nắm tay bạn, nói:
- Được thôi. Nhưng không ngồi lâu đâu nghe. Tôi phải đi tìm tre làm lồng đèn cho thằng cháu nội.
- À, ra rứa. Tưởng chi, chứ tre nhà tôi có. Mình uống nước, nói chuyện chơi chút đã, rồi tôi đưa tre cho.
- Rứa là may cho tôi rồi.
Hai lão ngồi uống nước, nói chuyện. Chén nước chè làm tuổi già vui thêm. Tình quê đậm đà qua chén nước.
Và cái tình quê của hai lão lại rôm rả, xôm trò qua trò chuyện. Dù cảnh quê có thay đổi, nhưng tình làng xóm vẫn như ngày nào. Nhiều khi mưa gió, đúc được cái bánh xèo họ cũng đem cho. Có con cá tràu bắt được, làm mỳ, cũng mời nhau. Nhà có giỗ, cũng đem phần kỉnh hàng xóm. Nếp quê vẫn như cái thời hai lão còn con nít.
Hai lão nói không biết bao nhiêu chuyện. Nào là chuyện chuẩn bị tế Thu; nào là chuyện chuyển cơ cấu cây trồng sao cho hợp với hoàn cảnh khi Hòa Vang có chính sách hỗ trợ nông dân. Toàn chuyện vui. Mà không vui sao được, khi tuổi già thấy con cháu yên ấm, thấy làng xóm thương yêu nhau. Tình làng nghĩa xóm như hàng tre cứ xanh trên bờ sông Túy Loan, như hương lúa ngày mùa, như làng vào hội đình nhân lễ Kỳ yên, cầu quốc thái dân an… Hai lão cũng bàn chuyện năm đến làng tổ chức lễ hội. Hai lão đều ước năm đến lễ hội đình làng Túy Loan cũng được nhiều người tham dự như làng Phong Lệ ở Hòa Châu tổ chức lễ hội Mục đồng vừa rồi.
Rồi, chuyện cũng vãn. Lão Đôn tìm mấy khúc tre đưa cho lão Thạc. Cầm tre từ tay bạn, lão Thạc cười nói:
- Cảm ơn ông nghe!
Tiễn lão Thạc ra tận cổng, lão Đôn vỗ vai bạn:
- Thôi, ông về.
Những ngày sau đó, khi hai ông cháu rảnh, lão hướng dẫn thằng Quân làm lồng đèn. Thực ra, lão làm đủ thứ, nào là chuốt tre, chặt theo kích cở. Thằng Quân chỉ ngồi bên hỏi đi hỏi lại cánh làm. Nó cũng cột được vài chỗ. Đặc biệt, khi dán giấy màu trên lồng đèn, thằng Quân nói với lão:
- Ông bày con vẽ bản đồ Việt Nam có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nghe ông.
- Được thôi. Ông sẽ bày.
Rồi lão hướng dẫn thằng Quân vẽ đường cong hình chữ S. Tiếp đến lão chỉ cách tạo thành 2 quần đảo với những chấm nhỏ xinh xinh. Nhìn cũng được. Rõ ràng trước mắt hai ông cháu là hình ảnh nước Việt Nam thân yêu với hai quần đảo như châu ngọc trên biển Đông. Nhìn cây cọ chấm màu trên tay thằng Quân, lão như thấy đó là bàn tay của lão khi còn bé, học ở trường làng. Ngày xưa, ngày xưa, đối với lão như mới đây. Lão cũng làm lồng đèn, nhưng giấy dán chỉ là giấy vở, đâu đẹp như bây giờ. Còn màu thì lấy nào than, nào gạch, nào nghệ, lá cây... giã ra, cho tí nước vào. Thế là cũng thành hoa, thành chim, gà, cá… được vẽ cho lồng đèn thêm đẹp.
Đến Trung thu, thằng Quân đem lồng đèn cùng mấy đứa trẻ dạo chơi quanh xóm. Trống múa lân rộn ràng. Lão Thạc cũng rộn ràng theo nhịp trống. Lòng lão rộn lên lời hát: “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ…”.
Quê lão còn biết bao chuyện còn phải làm. Lão mơ như thằng Cuội già năm nào. Giấc mơ của lão không là tiếng hát xẩm của con dế mèn. Mà giấc mơ của lão là thấy quê thay đổi. Càng già, lão càng hiểu sự thay đổi nào cũng phải trải qua những trở trăn, lột xác. Có trở trăn, lột xác nào được êm ả? 
Tiếng trống vẫn rộn ràng. Trăng trên trời ngời sáng. Trước mắt lão là xóm làng lão, là ngôi nhà lão, là con cháu lão. Và trên tay thằng Quân là ánh đèn ngôi sao lung linh. Trên tay bọn trẻ là những ánh sáng nhảy múa theo nhịp trống múa lân. Lão thấy hình bóng của lão, hình bóng của lão Đôn, của bạn bè trong làng ngày xưa hiện về. Tất cả đang rước đèn mừng Trung thu.
Lão thấy bản đồ Việt Nam có cả Hoàng Sa, Trường Sa trên lồng đèn. Quê lão mừng Trung thu trong ánh đèn con trẻ. Hòa Vang quê lão rộn ràng trong tiếng trống múa lân.
Đêm khuya. Trăng sáng dịu hơn. Cả làng yên bình dưới trăng ngà như mọi khi. Trăng Hòa Vang đêm nay vẫn thế!
                                      Tháng 8 – 2014
                                     Phan Trang Hy
                     






READ MORE - Truyện ngắn của Phan Trang Hy - TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ

Wednesday, July 9, 2014

Tạp văn của Phan Trang Hy - KHÁT VỌNG HÒA BÌNH CỦA DÂN VIỆT


Tác giả Phan Trang Hy

Khát vọng hòa bình là khát vọng muôn đời của mọi dân tộc trên hành tinh này. Thế nhưng, khát vọng ấy bị đe dọa bởi lòng tham, thù hận của một số bọn cầm quyền có tâm địa quỷ dữ. Cũng thế, khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam đang có nguy cơ bị bóp chết bởi những hành động bá quyền, ác hiểm nước lớn của giới lãnh đạo Bắc Kinh.
Liệu hòa bình có không? Và người Việt Nam làm gì để có hòa bình? Câu trả lời không chỉ là tấm lòng yêu nước, thương nòi mà còn là bổn phận của từng người dân nước Việt.
Muôn đời nay, dân tộc Việt Nam luôn chống lại ngoại xâm nhằm bảo vệ cuộc sống yên vui, nền hòa bình vốn có. Giặc trước hiên nhà, giặc xâm phạm cõi bờ, dân ta yên làm sao được, nói chi đến hai tiếng hòa bình. Lịch sử dân tộc từ khi vua Hùng lập nước đến nay là lịch sử đánh giặc không ngừng nghỉ của mọi người Việt yêu nước, thương nòi. Chính vì thế, người Việt luôn thức tỉnh, cảnh giác với mọi mưu đồ ác hiểm của kẻ thù. Càng yêu hòa bình, người Việt càng ý thức chuẩn bị, sẵn sàng chống giặc ngoại xâm, nếu có.
Là người Việt, tôi luôn tin hòa bình ngự ở đất nước này. Luôn tin từng tấm lòng, lời ca tiếng hát của người Việt thể hiện khát vọng hòa bình. Tôi tin hòa bình sẽ tồn tại mãi với dân tộc tôi. Thế nhưng, hòa bình sẽ không có bởi hành động gầm ghè thò lưỡi bò nuốt sống biển Đông của giới cầm quyền Trung Hoa. Hòa bình đâu có được khi lòng tự trọng dân tộc Việt Nam bị kẻ thù nhạo báng. Và hòa bình sẽ không có khi các nước trong khu vực tạo thành vòng vây chống lại hành động coi thường luật pháp quốc tế của thế lực China “trỗi dậy hòa bình”.
Ngàn lần tôi mãi gọi hòa bình, hòa bình, hòa bình… Tôi tin sẽ mãi hòa bình. Chắc chắn là vậy. Hòa bình sẽ có khi công lý được thi hành. Phải kiện, phải kiện thôi! Đất nước của ta, ta không kiện khi kẻ cướp chiếm đóng trái phép, có khác chi ta coi kẻ cướp là người nhà. Và cũng thế, hòa bình sẽ có, nếu toàn dân ta một lòng chống giặc. Hai chữ “đồng bào” thiêng liêng biết chừng nào! Còn đối với Trung Hoa, “đồng chí” chỉ là cái vỏ bọc, cái áo tắc kè, giờ đã hiện hình là chân tướng kẻ cướp, cầm trước tác xâm chiếm đất nước Việt Nam.
Tôi tin hòa bình là sự thật. Dân tộc ta cần phải biết sự thật của lịch sử. Có thật sự tin vào lịch sử, dân tộc ta mới thật sự hòa bình. Sự dối trá lịch sử đồng nghĩa với sự bức tử lịch sử. Lịch sử là sự thật chứ không phải là hư cấu. Xin trả lại sự thật muôn đời của lịch sử dân tộc để đồng bào ta tự hào, tin vào nhân nghĩa. Đó chính là sức mạnh kế thừa truyền thống tổ tiên: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Tin hòa bình, nên thấy chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào trước tham vọng của Trung Hoa. Tham vọng của họ ngày càng lộ rõ. Họ trút cái vỏ bọc, cái áo tắc kè quấn bó họ bấy lâu nay, bởi những mỹ từ “trỗi dậy hòa bình”, “4 tốt”. “16 chữ vàng”, “người Trung Hoa không có gien xâm lược” v.v…, để giờ thè lưỡi tham lam khuấy động biển Đông. Lòng tham Trung Hoa chắc không thể đem sự ổn định trong khu vực, nói chi hai tiếng hòa bình.
Tôi mong hòa bình. Tôi tự nhủ, hòa bình chỉ có được khi mỗi người dân Việt có lòng yêu nước, thương nòi. Chỉ yêu nước là chưa đủ mà còn phải có thương nòi. Bởi yêu nước không phải là quyền của một số người, một số tổ chức, đoàn thể. Phải lấy lời dặn của Lạc Long Quân để lo cho vận mệnh dân tộc khi quốc biến. Xin vì hai chữ “đồng bào”. Muôn đời nay, người Việt ta nói đến đồng bào là nói đến dân tộc. Phải đặt dân tộc lên trên tất cả. Tổ quốc Việt Nam là trên hết với đồng bào Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Không chỉ dân nghĩ, mà Chính phủ, chính quyền cũng cần nghĩ như vậy. Có thế mới là hồng phúc cho Tổ quốc Việt Nam.
Hòa bình! Chiến tranh! Có đời ai muốn chiến tranh? Tôi tin tôi, tin đồng bào tôi không muốn chiến tranh. Phản đối chiến tranh, căm ghét chiến tranh, mong muốn hòa bình, ủng hộ hòa bình là tấm lòng của dân tộc Việt. Thế nhưng, trong những ngày biển Đông đầy sóng dữ, cũng như về sau, bên cạnh một thế lực lớn với mộng bá chủ cuồng tham phi lý như Trung Hoa, hòa bình càng trở nên mong manh như ngọn đèn trước gió.
Trong lòng tôi là Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa. Chợt trước mắt tôi hiện lên dòng chữ Muốn hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh.
                                       Tháng 7 – 2014
                                      Phan Trang Hy
READ MORE - Tạp văn của Phan Trang Hy - KHÁT VỌNG HÒA BÌNH CỦA DÂN VIỆT