Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 30, 2026

TIỀM NĂNG DU LỊCH NƠI THƯỢNG NGUỒN SÔNG THÁC MA (YouTube / Thông tin xã Mỹ Thủy) - NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA (Đài TH Quảng Trị)

 




NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA

Đài TH Quảng Trị


Sông Thác Ma bắt nguồn từ vùng rừng núi nơi miền Tây Hải Lăng còn có tên gọi là Ô Lâu tả trạch. Không giống như những dòng sông khác, chúng ta thường gặp những con thuyền cắm sào đứng đợi; những ngư phủ tảo tần tung chài buông lưới, Thác Ma lại rộn ràng với những con thuyền hối hả ngược xuôi.

Nhìn dòng nước, chúng tôi chợt nhớ đến câu nói: “Nước trong quá thì không có cá, người kỹ tính quá thì không có bạn”.

Như dòng đời, dòng sông cũng thay đổi theo thời gian. Có những đổi thay thuận theo tự nhiên, nhưng có những thay đổi do tác động của con người. Đón chúng tôi ở bến đò thôn Lương Sơn, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, ông Vũ Viết Kiền, năm nay gần 70 tuổi, chỉ tay xuống dòng sông và bảo: “Chỗ ni hồi tui 10 tuổi ngày mô cũng lội qua lội về, nhưng bây giờ do khai thác cát sạn, lòng sông sâu và rộng ra, muốn qua thì phải đi bằng đò."

Càng về phía thượng nguồn, dòng Thác Ma cạn và hẹp dần. Để vượt thác, chúng tôi chuyển qua hai con thuyền nhỏ, loại thuyền thân hẹp và dài, được làm bằng kim loại để chống chọi với ghềnh đá và nước xoáy.

Nếu như đoạn sông từ cầu Mỹ Chánh lên Khe Mương, người lái đò thong dong bao nhiêu, thì từ Khe Mương đi về phía thượng nguồn sẽ vất vả bấy nhiêu. “Sông có khúc, người có lúc.”

Càng gần với con thác đầu tiên, nước càng trong và xanh hơn. Chúng tôi có cảm giác như đang lướt đi giữa một bức tranh thủy mặc.

Theo lời người lái đò, hành trình của chúng tôi phải vượt qua 18 con thác với những tên gọi như: thác Rong, thác Qủa, thác Chuối, thác Hoa Lim, thác Trâu Đằm, thác Bãi Chợ….và thác Chơờng.

Người xưa khi đặt tên cho con thác có lẽ đã gắn với đặc điểm của nó. Ví như thác Hoa Lim vì đoạn sông có nhiều cây gỗ lim, thác Bãi Chợ là nơi phu rừng thường gặp gỡ mua bán trao đổi. Lại có con thác hình thù như chiếc bát úp ngược nên gọi là thác Úp Đọi. Hiểu thì thế thôi chứ không ai biết những tên gọi này có từ bao giờ.

 Thử thách thực sự đầu tiên của chúng tôi là vượt thác Úp Đọi. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, chỉ vợ chồng người lái đò vẫn ung dung, có lẽ vì họ đã quá tường tận về dòng sông này.

Chồng cầm lái, vợ chống mủi, chẳng một lời mà vẫn hiểu nhau. Nhìn từng động tác dứt khoát, mạnh mẽ của những người lái đò, chúng tôi chợt hiểu vì sao người xưa đã đặt tên là thác Gân, thác Kỳ...

Nhưng tạo hóa cũng công bằng. Sau mỗi con thác, dòng nước lại trở nên bình lặng và bao dung, như muốn dành chút thời gian cho người lái đò được nghỉ ngơi để lấy sức mà đi tiếp.

Có những con thác, chúng tôi phải chung tay để cùng đưa con thuyền ngược nước. Những lúc như thế này mới hiểu hết ý nghĩa của sự sẻ chia, sự đồng sức, đồng lòng.

Cái cảm giác đau rát khi bàn chân chạm vào đá suối, chúng tôi chợt nhận ra rằng mình đã quen đi giày đi dép, và…cũng đã bỏ quê lên phố lâu rồi.

Đến thác Qủa, vợ chồng người lái đò lặng lẽ đưa thuyền vượt thác, còn chúng tôi tranh thủ ghé thăm một cốc nhỏ của một cư sĩ bên sông.

Gọi là cốc, vì chỉ là một ngôi nhà nhỏ bằng cây rừng giữa bốn bề sông nước, núi non. Vị cư sĩ có tên là Nguyên Thông, quê gốc ở làng An Thơ, xã Hải Hòa.

Như lời vị cư sĩ, sau bao năm tháng bôn ba với cuộc đời, nay ông quay về chọn nơi này để được hòa mình cùng cỏ cây, hoa lá và làm bạn tri âm tri kỷ với dòng sông.

Cư sĩ Nguyên Thông giới thiệu với chúng tôi về khu vườn mà ông đã khai phá từ 6 năm nay. Những cây dừa từ Bến Tre đưa về đã bắt đầu xanh tốt. Những cây xoài cũng bắt đầu bói quả.

Mặc dù sống ẩn dật, nhưng tư tưởng nhập thế của đức Phật vẫn là đuốc tuệ soi đường trong mỗi việc ông làm.

Cũng vì thế mà ông đã lặn lội hàng chục cây số đường rừng, tìm mua những chiếc máy bỏ đi, mày mò bắt chúng sống lại để trở nên  hữu ích.

Trước lúc chia tay, hỏi ra mới biết, cư sĩ Nguyên Thông từng là kỹ sư tốt nghiệp Đại học kỹ thuật Phú Thọ -  Sài Gòn.

Đối diện với cốc nhỏ của cư sĩ Nguyên Thông, bên kia sông là ngôi chùa của một vị tu sĩ ở Huế ra tạo lập. Trước cửa chùa có đôi câu đối:

“Gió mát trăng thanh, khoảng khoát bao la, tĩnh lặng thoát tâm hồn.

Non xanh nước biếc, vạn vật hòa ca , mây ngàn không vướng bận”

Vì không có người chăm sóc, khung cảnh thật hoang vắng, tiêu điều. Thế mới biết khi tâm còn động vọng thì dù tiên cảnh cũng không níu giữ được chân người.

Rời thác Quả, chúng tôi hướng đến thác Chơờng, con thác cuối của cuộc hành trình. Đường đi không còn quá xa, nhưng đầy thử thách. Những tảng đá ngầm có thể làm thủng thuyền bất cứ lúc nào. Nhiều lúc chúng tôi phải rời thuyền để đi bộ.

Thác Chơờng chính là con thác đẹp nhất trên dòng Thác Ma - Ô Lâu tả trạch. Giữa lòng thác là một tảng đá rất lớn liền một khối và tương đối bằng phẳng, vì thế mới có tên là thác Chơờng, một biến âm của từ giường.

Xung quanh lại có tảng đá hình thù chiếc ghế như đang đón đợi lữ khách dừng bước nghỉ ngơi, trong khi dòng nước vẫn miệt mài len lỏi chảy qua từng phiến đá như hằn sâu vết chân thời gian. Nước chảy đá mòn.

Chia tay thác Chơờng, lưu luyến trước cảnh đẹp mà tạo hóa đã dày công tạo dựng, có người mang về một cây Đỗ quyên rừng để làm kỷ niệm, còn chúng tôi lại bâng khuâng trước hàng hàng cây vối bên sông. Có lẽ những người lính miền Bắc khi vượt dòng Ô Lâu tả trạch để vào Nam đánh giặc bất chợt bắt gặp cánh hoa vối, lòng sẽ không khỏi bâng khuâng nỗi nhớ nhà, nhớ về bà và mẹ đã nấu những bình nước vối cho mình uống thủa còn tấm bé.

Gần 3 giờ chiều, chúng tôi bắt đầu xuôi dòng Thác Ma. Cứ tưởng vượt thác mới gian nan, vất vả, vậy mà xuôi thác cũng không kém phần vất vả, gian nan.

Vợ chồng người lái đò phải hợp lực để ghìm con thuyền đừng trôi quá nhanh và tránh bị va vào ghềnh đá. Họ như cố đẩy con thuyền ngược về phía dòng chảy.

Dừng chân ở Khe Mương, chúng tôi ghé thăm làng mạc hai bên bờ. Những người dân sống bằng nghề sông nước, giờ đây đã chuyển lên cạn, sống dựa vào rừng và đất đai.

Cùng với cây tre và rừng trồng, những vườn chè của vùng Trầm Sơn, Tân Điền của Hải Sơn; Tân Lương, Vực Kè của Hải Chánh là nguồn thu nhập quan trọng của người dân, tạo nên thương hiệu chè Mỹ Chánh nức tiếng khắp vùng.

Theo các nhà địa chất, vì chảy qua vùng đất nhiều ghềnh thác và truông cát, Thác Ma như được thanh lọc nên dòng nước trở nên ngọt ngào và trong xanh.

Còn với chúng tôi, sau bao phen lên thác xuống ghềnh, Thác Ma trở nên tĩnh lặng, khiêm nhường như một người từng trải.

Chiều về trên sông, thấp thoáng vài con thuyền chài nhỏ bé,  ánh tà dương buông phủ, những rặng tre đôi bờ rủ bóng và màu nước càng trở nên huyền ảo đến mơ màng.

Trong màu nước kia hình như còn in bóng những câu chuyện lập thân, lập nghiệp của các bậc tiền nhân, những người đi trước với nghĩa khí ngất trời.

Sông vẫn trôi khẽ khàng lặng lẽ, như một chứng nhân ôm vào mình những giấc mơ gởi gắm của bao người.







Nguồn: Đài TH Quảng Trị.

Đăng lại trên FB Tin Tức Quảng Trị 365.

READ MORE - TIỀM NĂNG DU LỊCH NƠI THƯỢNG NGUỒN SÔNG THÁC MA (YouTube / Thông tin xã Mỹ Thủy) - NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA (Đài TH Quảng Trị)

Huỳnh Liễu Ngạn - ÔM HUẾ VÀO THƠ - Thơ

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

ÔM HUẾ VÀO THƠ

 

anh nằm ôm huế vào thơ

hỏi khuya có ánh sao mô hóa rồng

hàng cây phượng đỏ bên hông

tưởng như đã rụng hết bông xuống bờ

 

tháng này huế có vào mơ

cho em chải tóc hong tơ sợi tình

sông hương nước chảy qua sình

nước chia hai ngọn cho mình hai phương

 

niềm thương gởi lại con đường

màu hoa trên áo cứ vương vấn trời

lên đồi bắt nắng thả khơi

bắt cầu qua nhịp nhịp đầy vơi cho gần

 

anh nằm ôm huế sượng trân

bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng

huế mình chừ mãi long đong

nên trăng trong nội vẫn không chịu về

 

anh nằm ôm huế ngủ mê

nửa đêm mưa giọt dầm dề giấc say

trên tay từng đọt ướt gầy

từ năm ngoái đến năm nay vẫn ròng

 

qua đò ngoảnh mặt ra sông

thấy con chim sáo bỏ đông sang đoài

mùi hương còn sót hiên ngoài

để mây núi ngự u hoài ngàn năm.

 

10.3.2026 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

READ MORE - Huỳnh Liễu Ngạn - ÔM HUẾ VÀO THƠ - Thơ

CÁI LÝ NGŨ HÀNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Thiên Việt

 


CÁI LÝ NGŨ HÀNH 

CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 Đọc bài TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH của tác giả Đặng Xuân Xuyến, cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn mà ông viết như đang tâm sự cách nhìn đời qua lăng kính của Ngũ hành một cách tỉnh táo và nhân bản. Ông không nhìn lá số theo kiểu "vơ đũa cả nắm" hay hù dọa bằng những lời tiên tri huyền bí, mà tỉ mỉ bóc tách từng lớp quan hệ giữa Mệnh, Cục, Cung và Sao. Đây chính là một cống hiến thực tế, giúp người học Tử vi thoát khỏi cách đoán mò để bước vào thế giới của sự logic và định lượng.

 

Cái hay nhất của Đặng Xuân Xuyến là ông đã chỉ ra "quyền chỉ huy" của bản Mệnh đối với các vì sao. Trong khi nhiều người coi Tử vi là sự áp đặt định mệnh, ông lại khẳng định: sao có thuộc về mình hay không, mình có điều khiển được nó hay không, tất cả nằm ở mối tương quan Ngũ hành. Ông phân tích các nguyên tắc tương tác một cách rất "đời". Chẳng hạn, khi hành sao đồng hành với hành Mệnh, đó là trạng thái tốt nhất vì "sao đó thuộc về mình, mình hoàn toàn chỉ huy được nó". Lúc này, cái Mệnh không còn là kẻ thụ động ngồi chờ phúc họa, mà trở thành người làm chủ năng lượng xung quanh mình.

 

Ông nhìn nhận về sự "hao tổn" và "đắc lợi" rất thực tế. Ông chỉ ra một góc khuất: không phải cứ gặp cát tinh (sao tốt) là sướng. Nếu Mệnh phải vất vả "sinh xuất" để nuôi ngôi sao đó, thì dù sao có tốt đến mấy, bản thân mình vẫn hụt hơi, kết quả chẳng được toàn vẹn. Ngược lại, nếu hành của sao sinh cho Mệnh, kể cả đó là sao xấu, thì cái xấu đó cũng bị chiết giảm vì nó đã mất sức để nuôi Mệnh rồi. Cách luận giải này cực kỳ nhân văn, cho thấy trong cái rủi có cái may, quan trọng là ta biết mình đang đứng ở vị thế nào.

 

Ông coi Cung an Mệnh giống như ngôi nhà hay môi trường sống. Nếu Cung sinh Mệnh, đó là thế "ngồi mát ăn bát vàng", môi trường đang nuôi nấng, che chở mình. Còn nếu Cung khắc Mệnh, ông thẳng thắn bảo đó là thế "xấu nhất", vì con người phải gồng mình chống chọi với hoàn cảnh nên luôn mệt mỏi, bất lợi.

 

Nhiều người nghĩ Mệnh khắc được Cung là mình giỏi, mình làm chủ. Nhưng Đặng Xuân Xuyến lại bảo: dù có "khắc thắng" thì anh cũng phải tổn hao nguyên khí, giống như đánh thắng một trận đại chiến thì quân mình cũng tan tác, bản thân bị "giam cầm, bó tay không hoạt động được". Cái nhìn này rất "người": không phải cứ áp chế được hoàn cảnh là hay, mà sự thuận hòa mới là gốc của hưng thịnh.

 

Bàn đến Tam hợp Cục – cái thế trận của môi trường xã hội rộng lớn hơn, ông cũng dùng cái lý hưng vượng để định nghĩa thành bại. Nếu thời thế sinh cho mình, mình sẽ hưng thịnh nhất. Còn nếu phải "sinh xuất" để nuôi lại thời thế thì mình bị tiết khí, suy kiệt. Ông xếp hạng rõ ràng cái nào "xấu nhất", cái nào "xấu nhì", không lờ mờ nước đôi.

 

Ông không bắt người đọc tin vào điều huyền bí, mà chỉ rõ: anh mệt mỏi vì bị Cung khống chế, anh vất vả không có công vì đang phải nuôi cái Cục. Cách luận giải này làm Tử vi trở nên gần gũi, là chuyện của "nguyên khí", của "sức khỏe" và sự "hòa hợp". Ông cho rằng một lá số đẹp không chỉ ở những ngôi sao sáng, mà quan trọng nhất là được môi trường (Cung) và thời thế (Cục) bồi đắp.

 

Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã biến những tinh đẩu thành những "đối tác" năng lượng. Nhờ sự tỉ mỉ, không bỏ sót ngóc ngách nào để soi chiếu qua lý Ngũ hành, ông đã làm "mềm" đi những lý thuyết khô khan, giúp người xem số có cái nhìn tinh tế về từng bước thăng trầm của một kiếp người. Con người trong văn ông không thể sống tách rời môi trường, hoàn cảnh, và sự hòa hợp chính là chìa khóa để tìm thấy bình an trong số phận.

 

Đọc trọn vẹn những trang viết của Đặng Xuân Xuyến về cách ứng dụng Ngũ hành vào Tử vi, cảm giác như ta vừa tìm được một "bản đồ chỉ đường" rành mạch giữa một rừng lý thuyết mênh mông. Giọng văn của ông mộc mạc, viết về Tử vi mà nghe như đang bàn chuyện đời, chuyện người. Ông không coi lá số là một cái gì đó bất biến, mà nhìn nó như một sự tương tác năng lượng không ngừng giữa con người (Mệnh) với hoàn cảnh (Cung) và thời thế (Cục).

 

Cái hay của Đặng Xuân Xuyến nằm ở cách ông nhìn về sự "an thân lập mệnh" của các vì sao. Ông ví cái Cung như nền đất, còn Sao như cái cây trồng trên đó. Nếu đất sinh cho cây (Cung sinh Sao) thì cây mới tốt tươi, rạng rỡ được. Còn nếu Cung khắc Sao, ông bảo đó là thế "xấu nhất", vì cái gốc đã bị lung lay thì dẫu có là sao tốt cũng chẳng còn mấy sức mạnh mà ban phát phúc lành. Cách luận này giúp người xem số không còn bị hoa mắt bởi những ngôi sao sáng chói, mà biết nhìn xuống cái "nền" xem ngôi sao đó có thực sự "đắc địa" hay không.

 

Đến khi bàn về tương quan giữa Mệnh và Cục, ông lại cho thấy một cái nhìn rất thực tế về thời thế. Ông coi Cục như cái khuôn mẫu, cái môi trường xã hội mà mình phải sống trong đó. Nếu Cục sinh cho Mệnh, ông gọi đó là "tốt nhất" – giống như mình sinh ra đã gặp thời, được đời ưu ái, nâng đỡ. Ngược lại, nếu Mệnh phải sinh cho Cục, ông thẳng thừng bảo đó là sự suy yếu. Mình cứ mải miết cống hiến, mải miết "sinh xuất" để nuôi cái môi trường xung quanh thì bản thân mình sớm muộn cũng hụt hơi, kiệt quệ.

 

Ông nhấn mạnh việc xét hành của Sao với hành của Mệnh là quan trọng nhất, vì nó quyết định việc anh có "chỉ huy" được ngôi sao đó hay không. Đặc biệt, tôi rất tâm đắc với cách ông giải thích về thế "khắc thắng". Xưa nay người ta cứ hay tự hào khi mình ở thế thượng phong, là kẻ đi khắc người khác. Nhưng với Đặng Xuân Xuyến, dù anh khắc được Sao hay khắc được Cục, ông vẫn chỉ xếp vào hạng trung bình. Bởi cái giá của sự chiến thắng là sự "giam cầm", là "bó tay không hoạt động được". Ông đưa ra một bài học nhân sinh sâu sắc: sự đối đầu, dù mình thắng, cũng chẳng bao giờ đem lại sự hanh thông thực sự; chỉ có sự tương trợ lẫn nhau mới là con đường dẫn đến hưng vượng bền lâu.

 

Ông nhìn về cung Thân (hậu vận) cũng cực kỳ thực tế. Ông không dùng Mệnh làm chuẩn nữa mà lấy hành của Cục làm gốc. Điều này ngầm hiểu: lúc trẻ anh có thể sống bằng bản sắc riêng (Mệnh), nhưng khi về già, sự thành bại phụ thuộc vào việc anh có hòa hợp với môi trường, với thời cuộc (Cục) hay không. Cách luận giải này giúp "giải mã" cái mê hồn trận của lý số một cách dễ hiểu, biến những khái niệm khô khan thành những bài học về sự cân bằng.

 

Trong phần kết, dù bộc lộ sự khiêm cung khi ví mình như "ếch ngồi đáy giếng", nhưng thực tế Đặng Xuân Xuyến đã làm được một việc lớn: "logic hóa" Tử vi. Ông biến một bộ môn nặng tính cảm tính thành một hệ thống có thang đo rạch ròi. Tóm lại, cống hiến của ông là đã đưa Tử vi trở về đúng nghĩa một bộ môn khoa học dự báo dựa trên sự cân bằng năng lượng. Ông quan niệm người xem số phải biết linh động, không máy móc, và quan trọng nhất là hiểu được cái lý của sự hòa hợp. Đọc những gì ông viết, người ta bớt sợ hãi định mệnh mà biết trân trọng sự nỗ lực và cách ứng xử của bản thân với môi trường xung quanh..

 

*

 

THIÊN VIỆT (tên thật Nguyễn Văn Việt)

Địa chỉ: 119D, KP3 Mai Chí Thọ, An Phú, 

Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.

 

.

READ MORE - CÁI LÝ NGŨ HÀNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Thiên Việt

QUÊ NHÀ SAU NĂM MƯƠI NĂM - Thơ của Lưu Lãng Khách

 


QUÊ NHÀ SAU NĂM MƯƠI NĂM

Lưu Lãng Khách

 

Mới đó mà đã năm mươi năm

Sau chiến thắng cuối mùa xuân lịch sử

Từ đứa trẻ buồn vui bên con chữ

Nối gót cha ông anh cũng phất cao cờ

Năm mươi năm đời thơ đẹp như mơ

Không còn mẹ áo vá chằng vá đụp

Không còn em khâu vai mạng đũng

Chẳng còn cha cảnh chân đất đầu trần

 

Năm mươi năm thay đổi diệu thần

Nơi xứ sở đói nghèo lạc hậu

Vui mặt trời lên thuyền về bến đậu

Cánh cò bay - rờn sóng lúa mượt mà

Ruộng đồng bao la – bờ xe nước sông Trà

Ngày đêm ngân nga bài ca đổi mới

-

Anh phiêu dạt muôn phương mang niềm vui phơi phới

Sưởi ấm những lòng già – ngời rạng mắt em thơ

Nghệ sĩ giang hồ từ cõi thực qua mơ

Đâu cũng sông núi quê hương – cũng bến bờ hạnh phúc

 

Nhưng nơi chôn nhau là nơi anh yêu nhứt

Bước rong chơi vui mấy cũng quay về

Thờ mẹ kính cha vái lạy tứ bề

Cung kính ngắm Trà Giang – nghiêm trang nhìn Thiên Ấn

Năm mươi năm – đói nghèo thành quá vãng

Khi nhà máy lọc dầu Dung Quất xứng tầm cao

 

Tóc tuyết sương anh ngồi may thời trẻ

Chắp tuổi thơ vá ký ức dòng đời

Ngày nối tiếp đất trời xuân rạng rỡ

Bến bờ vui mắt lão cũng ngời tươi.

                Cuối giêng Ất Tỵ 2025

                Lưu Lãng Khách

                luulangkhach@gmail.com

 

 

 

 

 

READ MORE - QUÊ NHÀ SAU NĂM MƯƠI NĂM - Thơ của Lưu Lãng Khách