Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, October 31, 2010

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - WILLIAM CARLOS WILLIAMS: THƠ CÀI TRÊN TỦ LẠNH

Có lần tôi nghe William Carlos Williams đọc bài thơ “This Is Just To Say”. Giọng của ông khác lạ so với những thi sĩ khác trong cùng băng đọc thơ, không rè mà trong trẻo một cách đáng ngạc nhiên, của một người đàn ông có lẽ có tính tình vui vẻ. Đang lái xe một mình trên xa lộ miền quê mùa hè, không vội lắm, tôi nổi hứng chạy chậm lại rồi tấp vào giữa hai bụi gai có nhiều trái dâu blackberries, ngồi nghỉ mệt và nghe lại cuốn băng lần nữa.

Anh đã ăn

những trái mận

ở trong

hộp đá lạnh

Và chúng

hình như

được em để dành

cho bữa điểm tâm

Thứ lỗi cho anh

chúng thơm ngon quá

ngọt quá trời

Mà lạnh nữa

This is just to say

I have eaten

the plums

that were in

the icebox

and which

you were probably

saving

for breakfast

Forgive me

they were delicious

so sweet

and so cold


Đây là một bài thơ dễ bị người đọc bỏ qua. Thậm chí có người sẽ bực mình vì lối viết hơi ngớ ngẩn, dây dưa thong thả, kiểu như:

that were in

hay

and which

tạo thành những câu thơ riêng biệt.

Bài này được viết như một mẩu giấy ghi chép, có vẻ như là của một người đàn ông ghi vội cho vợ mình. Dĩ nhiên cũng có thể là của một người đàn bà viết cho một người đàn ông, hay của một người đàn ông cho một người bạn trai, và quan hệ của họ không phải là quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên cái ấn tượng mà bài thơ để lại, cũng như tiểu sử của tác giả, dễ làm ta nghĩ đến một mẩu giấy của người chồng, gắn hờ đâu đó trên cửa tủ lạnh. Hay trên bàn ăn, hay ở dưới gối, dĩ nhiên. Với Williams, ở đâu mà chẳng được.

Bài thơ dùng ngôn ngữ văn xuôi, không vần, vốn thường thấy trong thơ của ông. Ta nhớ rằng người có công nhất trong việc phá vỡ lối thơ truyền thống ở Mĩ, làm cho thơ tự do (free verse) trở thành phổ biến như hiện nay, cùng thời với Eliot, Ezra Pound, nhưng công lao vượt xa hai nhà thơ này, chính là Williams.

Sinh năm 1883, mất năm 1963, ông sống suốt mấy mươi năm bề ngoài trầm lặng mà bên trong sôi nổi ở thị trấn nhỏ Rutherford, New Jersey, sinh quán của mình. Thực ra, Williams đã sống hai cuộc đời khác nhau. Như một người thầy thuốc, ông chữa bệnh cho hàng chục ngàn người dân của thị trấn, đỡ đẻ cho hơn hai ngàn đứa bé sơ sinh, làm việc quần quật, nếu dùng lối nói của chính ông, “như một người nô lệ”.

Giữa những giờ làm việc, trong những kì nghỉ ngắn ngủi, thậm chí giữa hai bệnh nhân, ông đã dành thời gian cho thơ và văn học, cũng tận tâm như đối với người bệnh. Và khai sinh ra một nền thơ mới của Mĩ. Ông đã viết bốn mươi chín cuốn sách, trong đó có nhiều tập thơ, bốn vở kịch, một vở opera, năm mươi hai truyện ngắn, bốn cuốn tiểu thuyết lớn, một cuốn phê bình văn học, một cuốn lịch sử Hoa Kỳ, một cuốn tiểu sử của mẹ ông v.v… Williams đã từng kể lại trong cuốn tiểu sử tự thuật của mình:

Năm phút, mười phút, lúc nào cũng tìm ra được. Tôi có một cái máy đánh chữ ở trên bàn làm việc. Tất cả những điều tôi cần là kéo cái nắp ra, và tôi sẵn sàng ngồi xuống. Tôi làm việc ở tốc độ tối đa. Nếu một bệnh nhân đến gõ cửa trong lúc tôi đang viết dở một câu văn, bang, sập máy lại, tôi là một thấy thuốc. Cuối cùng sau mười một giờ đêm, khi bệnh nhân cuối cùng đã lên giường ngủ, lúc nào tôi cũng tìm được thời gian để gõ thêm mười trang nữa. Thật ra tôi không thể nào đi nghỉ được nếu như đầu óc tôi không rũ bỏ được những ám ảnh chúng giày vò tôi suốt ngày.

Williams quan tâm đến các giá trị phổ quát của thơ ca.

Thật khó tìm được

tin tức gì trong các bài thơ

thế mà người ta vẫn chết

đau đớn mỗi giờ

vì thiếu điều chỉ tìm thấy trong thơ

It is difficult

to get the news from poems

yet men die miserably every day

for lack

of what is found there.

Ông cũng là người xiển dương quan điểm cho rằng nước Mĩ là của người Mĩ, thơ Mĩ phải mang tính cách đặc trưng của một đất nước độc lập về văn hóa, tách khỏi ảnh hưởng mà ông cho là nặng nề của Anh và châu Âu vào thời đó. Mặt khác ông lại là người có tư tưởng dân chủ và hoà bình, rất quan tâm đến các sự kiện chính trị đương thời.

Thơ ông phản ánh điều đó. Ngày 6 tháng 12 năm 1957, Hoa Kỳ lần đầu tiên phóng vệ tinh vào vũ trụ. Thất bại. Thế mà hai tháng trước đó, tháng 10 năm 1957, Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh Sputnik vào quĩ đạo trái đất, mở đường cho việc đưa Gagarin vào vũ trụ. Rõ ràng họ đang chiếm lĩnh bầu trời và trong không khí chiến tranh lạnh, người Mĩ đã bị bỏ rơi ở đằng sau. Một tương lai ảm đạm chờ đợi họ. Mặc dù thế, họ đã phản ứng với một thái độ khiêm tốn, bình tĩnh, chững chạc, công nhận sự thất bại rõ ràng của mình. Và chính thái độ này là một khởi đầu cho việc đưa người lên mặt trăng mười năm sau đó.

Gagarin nói, hân hoan tuyệt vời,

Anh có thể

Đi một mạch suốt đời

Anh bơi

Ăn và hát

Và bay vọt lên từ đó

Một trăm lẻ tám phút

Khỏi bề mặt

Của trái đất, mỉm cười

Và rồi anh trở lại

Vị trí cũ

Giữa chúng ta

Từ sự chia ra

Và trừ mất

Ngón chân đến gót chân

Nơi gót chân và ngón chân anh cảm thấy

Như mình vừa nhảy múa xong

Heel & Toe To The End

Gagarin says, in ecstasy,

He could have

Gone on forever

He floated

Ate and sang

And then he emerged from that

One hundreds eight minutes off

The surface of

The earth he was smiling

Then he returned

To take his place

Among the rest of us

From all that division and

Subtraction a measure

Toe and heel

Heel and toe he felt

As if he had

Been dancing

Ông viết bài này chỉ một thời gian ngắn sau khi Gagarin bay lên quĩ đạo, như một lời ngợi ca đối với thành tựu khoa học của Liên Xô, lúc ấy đang là đối thủ của Mĩ trong chiến tranh lạnh, vì ông cho rằng đó cũng là tin vui chung của loài người. Khi nước Mĩ gửi Armstrong lên mặt trăng, các đồng nghiệp của ông ở nước Nga xa xôi đã giữ im lặng. Nhưng ông không biết điều ấy, vì đã qua đời trước đó nhiều năm.

Williams thường chọn phương pháp giản dị để mô tả sự vật, lược bỏ các chi tiết ít quan trọng, làm cho bài thơ của ông có hơi hướng như một bài haiku Nhật, nhưng phát triển về những hướng khác lạ. Tháng Tư vừa rồi, trời vào xuân, một buổi sáng ngày nghỉ thức dậy muộn, đứng trong cửa sổ nhìn ra vườn sau, qua màn mưa bụi trắng, tôi thấy những bông oải hương tím và cúc trắng đầu mùa nở rộ trên chiếc xe cút kít để ở cuối góc vườn, dựng bên hàng rào từ mùa thu năm ngoái. Lúc đó tôi không thể không nhớ đến bài thơ “The Red Wheelbarrow” nổi tiếng của ông.

So much depends

Upon

Nhưng khác với haiku, phong cách của các nhà thơ trường phái “hình ảnh sâu” (deep imagism) mà Williams có phần nào chịu ảnh hưởng, cũng vừa là một trong những người khởi xướng, không ràng buộc về cấu trúc và đề tài, và mở rất rộng các đường biên của haiku vốn là thể thơ có những quy định (thâm sâu) chặt chẽ riêng. Không chỉ có thế,Williams thường viết về các đề tài hàng ngày, các sự vật nhỏ mọn, như thể ông cố tình làm cho thời gian đứng lại.

Rất nhiều thứ

Dựa lên

Dựa lên cái gì?

a red wheel

barrow

một chiếc xe cút

kít đỏ

Những thứ gì dựa lên?

Ta cảm thấy gánh nặng của mưa, của đất, côn trùng và thảo mộc, của bầu trời cùng trĩu xuống trên một chiếc xe nhỏ. Williams suốt đời đi tìm một thứ ngôn ngữ nối kết thơ ca và những kinh nghiệm của đời sống bình thường. Bài thơ của ông kêu gọi người đọc làm mới lại cái nhìn của mình đối với thế giới, như một đứa trẻ vừa thức dậy buổi sáng mai. Nhà thơ không tin rằng ngôn ngữ của ông đủ sức để mô tả đời sống và tâm hồn, vì vậy ông cố gắng đặt để các sự vật, thiên nhiên hoa cỏ, như thể chúng là, với một chút sắp xếp tối thiểu để dọn đường cho người đọc. Trong một thời kỳ mà chủ nghĩa siêu thực Pháp làm mưa làm gió ở châu Âu và khắp thế giới, Williams và những người cùng khuynh hướng với ông, hứng khởi từ những gợi ý nghệ thuật của châu Á và Nhật Bản, nhưng trong một tinh thần hết sức độc lập, đã dựng nên những viên đá đầu tiên của nền thơ Mĩ với chủ nghĩa khách quan (objectivism).

Đọc thơ Williams, tôi lúc nào cũng nhận được cảm giác về sự hòa hợp dịu dàng giữa con người và đồ vật, giữa xã hội và thiên nhiên. Thơ ông ít nói trực tiếp về người, nhưng cảnh vật như chiếc xe chở gạch đá gây ấn tượng rõ ràng về những người làm vườn hay làm đường, công việc đồng áng hay xây dựng.

Như một người đi qua đường hay một người đứng trong cửa sổ, lúc nào ông cũng chăm chú nhìn sự vật, chúng đang

mờ đi

trong nước

mưa

glazed with rain

water

Thơ ông cũng ít nói về người nữ, nhưng sự vật trong thơ lấp lánh như vừa được chạm tới bởi người đàn bà mà ông yêu dấu. Mặc dù là một thầy thuốc có đời sống mực thước, ông lại được các nhà thơ trẻ tuổi hơn, nổi loạn, phá phách hơn, xem là một tấm gương. Như Allen Ginsberg, kẻ đã gây ra một cơn sốt ở Mĩ với tác phẩm Howl (Hú) nổi tiếng vào thời đó. Chính Williams là người đã viết đề tựa cho lần xuất bản đầu tiên của tập thơ này.

Người đọc ít khi nghĩ về Williams như một người làm thơ tình. Bài thơ Ghi mấy chữ (This is just to say) trên đây cũng có thể gây ra ấn tượng đó. Thật ra nó chính là một bài thơ tình sâu xa. Tính giản dị, bình thường của bài thơ chở được không khí thân mật của một quan hệ âu yếm.

Không phải chỉ chữ “thứ lỗi” mà còn là bản thân toàn bộ lời ghi chép của người đàn ông để lại chứng tỏ lòng tôn trọng của anh ta đối với người vợ hay người yêu của mình.

Chúng ta không rõ những trái mận để trong tủ lạnh là dành cho người đàn bà, hay cho anh ta, hay cho cả nhà. Ăn vội vàng những trái mận như thế có thể làm cho người khác bất ngờ khó chịu vì không có bữa điểm tâm. Nhà thơ xuất hiện như một chàng trai trẻ trung, hay hơn thế nữa, như một đứa trẻ.

Niềm vui của nhân vật là niềm vui hồn nhiên. Người đọc dễ tin rằng niềm vui ấy là có thật.

Nhắm mắt lại, ta nghĩ đến những ngày hè nóng nực, mồ hôi ròng ròng, khát cháy cổ, và có thể đang đói bụng, lại cầm trên tay những trái mận vừa thơm vừa ngọt vừa lạnh. Quả thật không ai cầm lòng được.

Bài thơ được viết vào lúc nào?

Ban đêm chăng? Khi mọi người đã đi ngủ và anh một mình lang thang trong căn nhà rộng? Hay anh lái xe về nhà khi trời đã tối, vợ anh đi làm ban đêm, hay là đã ngủ say. Và anh mở cửa nhà, để lại sau lưng bầu trời đầy sao mùa hạ, đứng ngẫm nghĩ một lúc lâu trong căn bếp tối mờ, rồi anh mở tủ lạnh? Đó thật là một niềm vui cuộc sống.

Mặc dù được viết một cách nhẹ nhõm, cách nói có vẻ tình cờ, bài thơ là một sáng tác đầy cẩn trọng, sự buông chữ nhẩn nha, cố gây cảm giác hồn nhiên, tự nhiên, gây tương phản giữa niềm say mê của con người và cảm giác tội lỗi, cũng như sự tương phản giữa người nam và người nữ. Đoạn mở đầu viết về những trái mận nằm trong ngăn đá của tủ lạnh. Đoạn thứ hai nói về một người khác, trong trường hợp này ta nghĩ là một người phụ nữ, và sinh hoạt gia đình. Đoạn thứ ba trở lại với những trái mận. Williams đã phóng lớn một sự việc nhỏ trong đời sống thành một hoàn cảnh tiêu biểu cho những xung đột có tính phổ quát hơn của các cá nhân xuyên qua những cám dỗ của đời sống.

Tôi muốn nói thêm một điều, có vẻ hơi thừa, nhưng dễ bị người đọc bỏ qua.

Những trái mận rất thơm là khứu giác. Chữ delicious trong tiếng Anh cũng có nghĩa là ngon.

Chúng lại ngọt (sweet), là vị giác.

Mà lại còn lạnh (cold) nữa, là xúc giác.

Như thế, thơ không phải chỉ là ngôn ngữ mà còn là cảm giác. Hay một trái tim ấm nóng và một tình yêu mát lạnh? Cũng là cả hai, cũng như những con gà có màu lông trắng xóa chạy lúc thúc hay kêu chiêm chiếp bên chiếc xe cút kít chở gạch đá dưới trời mưa của ông. Trong thơ Williams sự vật thường đi thành đôi thành cặp.

beside the white

chicken

bên cạnh những con

gà trắng

Chúng đứng im lặng mổ thức ăn hay chạy quanh chiếc xe đuổi nhau kêu chiêm chiếp thì không thấy ông nói rõ, nên bạn phải tưởng tượng thôi.

Các tài liệu tham khảo

1. Imaginations, William Carlos Williams, NXB New Directions, 1967(?)

2. The Autobiography of William Carlos Williams, NXB New Directions, 1967.

3. The Portable Beat Reader, Ann Charters, NXB Penguin, 1992.

4. Oxford Book of American Poetry, David Lehman, NXB Oxford, 2006.

© 2009 Nguyễn Đức Tùng


THƠ CỦA WILLIAM CARLOS WILLIAMS

*

Apology

Why do I write today?

The beauty of

the terrible faces

of our nonenties

stirs me to it:

coloured women

day workers

old and experiences-

returning home at dusk

in cast off clothing

faces like

old Florentine oak.

also

The set pieces

Of our faces stir me-

leading citizens-

but not

in the same way.

*

Proleterian portrait

A big young bareheaded woman

in an apron

Her hair slicked back standing

on a street

One stockinged foot toeing

the sidewalk

Her shoe in her hand. Looking

intently into it

she pulls out the paper insole

to find the nail

That has been hurting her

*

Memory of April

You say love is this, love is that:

Poplar tassels, willow tendrils

the wind and the rain comb,

tinkle and drip, tinkle and drip—

branches drifting apart. Hagh!

Love has not even visited this country.

*

This Is Just to Say

I have eaten

the plums

that were in

the icebox

and which

you were probably

saving

for breakfast

Forgive me

they were delicious

so sweet

and so cold

*

Lời biện hộ

Tại vì sao ngày hôm nay tôi viết?

Đó là vẻ đẹp

những gương mặt khủng khiếp

của những kẻ vô danh

gợi cho tôi cảm xúc:

những phụ nữ da đen

ngày làm việc của những công nhân

già cả và giàu kinh nghiệm

trở về nhà rất muộn

trong bộ quần áo nát nhàu

những gương mặt của họ giống như

cây sối Florentine xưa cũ.

và nữa

Những bộ mặt của

Quí vị gây cảm hứng cho tôi –

những con người –

đáng nể nhưng

đó là chuyện khác.

*

Chân dung người vô sản

Một người phụ nữ to lớn đầu trần

mặc yếm

Với mái tóc chải bóng

đứng ở bên đường

một chân mang bít tất phụ nữ

chạm đến lề đường

Chiếc giày nàng cầm trong tay. Và nhìn

vào trong rất chăm chú

người phụ nữ lôi cái đế giày bằng giấy

muốn tìm chiếc đinh

Đã từ lâu làm đau chân nàng

Ký ức tháng Tư

Bạn nói: “Tình yêu là, tình yêu là:

chiếc lá cây dương, là chùm liễu rủ

là chiếc lược của mưa của gió

là giọt nhỏ và tiếng leng keng –

những cành lá rung rinh” – Ha!

Tình không bao giờ đến những nơi này cả.

*

Điều cần nói

Anh đã ăn

những quả nho khô

lấy từ

trong tủ lạnh

những quả nho

mà em định

để dành

cho bữa sáng

Tha lỗi cho anh

nho thật là ngon

thật ngọt

và thật mát.

*

Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - WILLIAM CARLOS WILLIAMS: THƠ CÀI TRÊN TỦ LẠNH

LÊ QUANG THÁI - PHỦ ĐỆ DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN



Một du khách người Pháp cao tuổi cầm bức ảnh cũ, một kỷ vật của người thân trong gia đình từng giữ chức vụ Chánh văn phòng rồi Khâm sứ tại Trung Kỳ, đặc biệt dưới bức ảnh có nét chữ bằng tiếng Pháp của người tặng và kèm theo chữ ký lộ nét chân phương: Phụng Hóa công.
Ông ta hỏi: Anh có biết Phụng Hóa công là ai không?Tôi vui vẻ trả lời: Công là “ông ấy”. Ông tưởng tôi trêu ông - do hiểu nhầm. Khách nói: Sao lại là tôi? Ngại khách phật lòng, tôi phải giải thích khá dài dòng nào công là “vị mà mình tôn kính”, công là “tước công” đứng đầu trong ngũ tước: công, hầu, bá, tử, nam. Còn Phụng Hóa là tên huyện Phụng Hóa của tỉnh Ninh Bình. Phụng Hóa công là tước hiệu vua Thành Thái phong cho hoàng tử Bửu Đảo - con vua Đồng Khánh vào năm 1906. Và vị khách yêu Huế này còn ước mong đi tìm nơi ở của Phụng Hóa công ngày xưa.
Người Pháp ở xa Huế đến hơn nửa vòng quay trái đất mà lại đi tìm chuyện “vang bóng một thời” theo kiểu cách vua Tự Đức “đập cổ kính ra tìm lấy bóng” thì than ôi phải chào thua. Vâng,du khách đang đi tìm về phủ đệ đó, không khéo là mình phải “học” ông ta về di sản kiến trúc cung đình.



* Ngao du tìm về bóng dáng của phủ đệ ngày xưa
Già rồi, tôi ỷ vào thân tra, bỏ việc nhà cho người vợ đảm đang; hằng ngày lên ngựa sắt, đạp tòng teng khắp phố phường và vùng ven đô thị; có khi cao hứng về thấu huyện. Say máu là đi, bất kể trời đất mưa gió phảng phất. Đi một ngày đàng học thêm, biết thêm chút ít tạo niềm vui và khoái chí lúc ngồi uống trà mà “cại lại bạn bè “ để văng ra cái mới.
Tiềm để tức nơi chốn thái tử hoặc hoàng trưởng tử, hoàng tử trước ngày lên ngôi vua. Đó là phủ đệ đã thăng hoa làm bệ phóng cho chủ nhân ông trở thành ngôi vị thiên tử trị vì thiên hạ theo đúng với nguyên nghĩa. Theo thời gian, phủ đệ của Phụng Hóa công đã trở thành An Định Cung ngày nay soi bóng bên dòng sông Lợi Nông nắng đục mưa trong với nhiều phủ đệ khác như Tùng Thiện, Kiến Hòa, Kiên Thái, Mỹ Hóa…
Kể từ giữa thế kỷ 19, Tùng Thiện công lập Tiêu Viên rồi Ký Thưởng Viên để rước mẹ là bà Thục Tân khỏi Tử Cấm Thành vào năm 1849 thì có nhiều ông hoàng cũng nối gót về theo lập phủ biên sông Phủ Cam, một phần của sông Lợi Nông với những đình đài, chùa miếu, làm cho cảnh sông nước thêm phần nhộn nhịp.
Năm 1939, chấp bút viết tiểu sử Tuy Lý vương, nhà văn Trần Thanh Mại đã có nhận xét bóng dáng của Ký Thưởng Viên: “Không ngày nào số văn nhân hội họp không dưới nửa trăm người; Tùng Thiện vương cũng như một vị Mạnh Thường quân nho nhỏ” để tỏ lòng tôn kính hai bậc Thi ông, Thi bá của nhà Nguyễn mà tiếng thơm lan tỏa tới tận Trung Quốc: “Thi đáo Tùng - Tuy thất thịnh Đường”.
Sách Tùng Thiện Vương (1819 - 1870) do hậu duệ của Thi ông là Ưng Trình và Bửu Dưỡng ấn hành năm 1970 để kỷ niệm 100 ngày mất của ông nội, cố nội mình đã cho người đời có một ý niệm về hình ảnh của phủ đệ:
“Theo lệ, các hoàng tử lên 18 tuổi thì phải xuất phủ, nghĩa là phải ra ngoài Tử Cấm Thành, biệt lập gia đình như Võ Xuân Cẩn đã tâu, xin ơn cho các hoàng thân, hoàng tử. Tùng Thiện vương xuất phủ ở ngang với phủ Tuy Lý vương, tại phường Liêm Năng trong Kinh Thành, phía đông Lục Bộ…”
Phường Liêm Năng nay thuộc phường Thuận Thành trong Thành Nội. Địa điểm thiết lập phủ đệ hai anh em Tùng Thiện, Tuy Lý ở phía sau và đối diện với Tam Tòa. Trước năm 1815, chỗ Tam Tòa là phủ đệ của hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, con trai thứ 4 của vua Gia Long. Nơi đây thuộc phường Đoan Hòa, năm ấy hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm được tôn phong làm Thái tử vào ở cung Thanh Hòa trong Tử Cấm Thành, năm 1817 nhường lại cho em ruột cùng cha khác mẹ là hoàng tử Nguyễn Phúc Chẩn làm phủ đệ.
Tiếc thay người có tài và chí hiếu như hoàng tử Chẩn, con trai thứ 9 của vua Gia Long lại mất sớm lúc mới 22 tuổi. Sau vua Minh Mạng đã truy phong cho Thiệu Hóa công Nguyễn Phúc Chẩn là Thiệu Hóa quận vương.
Theo học giả Phan Văn Dật, năm 1839, Minh Mạng thứ 20 nhà vua “nhớ kiếp trước mình là thầy tu” cho nên sai dựng chùa Giác Hoàng. Vua cấp cho con trai của Thiệu Hóa quận vương là Thiệu Khuê ở chỗ khác.


* Như chính sử nhà Nguyễn đã ghi chép về phủ đệ
Phủ đệ là thuật ngữ được in bằng đề mục với co chữ lớn trong bản Mục lục cuối sách Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) đã được dịch ra Việt ngữ.
Bản soạn dưới triều vua Tự Đức, ấn hành trước năm 1875 phải mất gần 10 năm mới hoàn chỉnh. Viện Sử học đã dịch tại trang 52 và 53 cho biết phủ đệ gồm 5 cơ sở: nhà Đoan Bản, nhà Chí Thiện, nhà Phúc Thiện và phủ đệ các thân công, đệ trạch các công chúa.
Lối viết sử xưa thật là uẩn súc, lời ít mà nghĩa sâu rộng. Dịch từ “đường” là nhà thì hơi ép nếu không nói là gượng gạo. Đọc hai nửa trang sách số 52 và 53 thì dễ nhận ra hình ảnh, bóng dáng của phủ đệ và đệ trạch sai khác nhau như thế nào.
Phủ đệ là nơi ở của các thân vương, thân công, thái tử, hoàng tử đã được tôn phong sau khi đã trải qua một khóa thi gồm 3 kỳ. Đệ trạch là nơi ở của các công nữ, hoàng nữ đã được tôn phong là công chúa đã được gã chồng. Con rể của nhà vua là Phò mã, con dâu là Phủ thiếp.
Cũng ở trang mục lục, sách ĐNNTC, tập Kinh sư, có bài Tựa để rõ ngày 8 tháng 12 năm Duy Tân thứ 3 (1910) ở trang số 1; Còn phần viết về phủ đệ chỉ ghi 3 cơ sở: Đường Đoan Bản, Đường Chí Thiện và Đường Phước Thiện liên quan đến chốn Tiềm để của ba vua: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Tuyệt nhiên bản ĐNNTC thời Duy Tân không chép rõ ràng địa điểm, kiến trúc và biển ngạch đã quy định rõ ràng như bản thời Tự Đức
1. Phủ đệ các thân công: Ở phía tả trong Kinh Thành, nhà chính và nhà trước đều 3 gian 2 chái, biển ngạch cửa đề chữ: “Mỗ công phủ” (Phủ đệ thân công mỗ).
2. Đệ trạch các công chúa: Ở phía hữu trong Kinh Thành, thể chế cũng như phủ đệ các thân công, biển ngạch cửa đề chữ: “Mỗ công chúa đệ”.
“Mỗ” hàm ý sẽ ghi tước phong vào cho đầy đủ mới hợp cách xác định cơ sở có chủ nhân là ai. Thông lệ, lấy tên huyện của các tỉnh để chọn đặt tên cho từng phủ đệ hoặc đệ trạch của từng hoàng tử hoặc công chúa.



Sách Đại Nam thực lục chính biên (ĐNTLCB) đã kê ra hàng loạt tên gọi phủ đệ của từng thân vương, hoàng tử:
- Tháng 8 năm Đinh Sửu (1817): phong Thúc Quận công Tôn Thất Thăng làm Phúc Long công; hoàng tử thứ 5 là Đài làm Kiến An công; hoàng tử thứ 6 là Bính làm Định Viễn công; hoàng tử thứ 7 là Tấn làm Diên Khánh công; hoàng tử thứ 8 là Phổ làm Điện Bàn công; hoàng tử thứ 9 làm Thiệu Hóa công; hoàng tử thứ 11 là Cự làmThường Tín công; cho sách bạc, ấn bạc và ấn quan phòng mỗi người một cái. Ra lệnh tờ biểu, tờ khải đều xưng tước và tên. (Biểu tâu thì Phúc Long công thần Mỗ; của hoàng tử,hoàng tôn tước công thì xưng Mỗ công thần mỗ. Khải thì xưng Mỗ công, điệt mỗ). Giấy tờ các nha đưa lên thì xưng là bẩm. NHÀ Ở THÌ GỌI LÀ PHỦ.





Như vậy, chính sử còn mở ra những góc nhìn về hình ảnh và thực trạng của phủ đệ. Tháng 2 năm Ất Hợi (1875) Vinh Lộc quận công Miên Tri (Chi) vay nợ ở nghĩa thương 1.000 quan tiền để sửa chữa phủ đệ (Nghị trước định: hoàng thân sửa chữa phủ đệ, cho vay 1.000 quan, hàng năm trả nợ 300 quan tiền). Mới 1 tháng đã huy hoắc hết cả, lại xin lỉnh lương trước 2-3 năm, quan Tôn Nhân Miên Định lấy lý răn bảo, sợ không phục tình, bèn đem việc ấy hặc tâu.
Phủ đệ là cơ nghiệp và tài sản của hoàng tử, là của tư khác nào trong dân gian cha mẹ cho con trai ra ở riêng để tự lo liệu lấy sự nghiệp cỏn con của mình làm đà tiến lên.
Tháng 7 năm Mậu Dần (1818), vua Gia Long định điều cấm về Kinh Thành gồm 26 điều răn dạy, trong đó điều 12 liên quan đến phủ đệ, cụ thể như sau: “Phủ đệ của hoàng tử, hoàng nữ, nhà ở của các quan văn võ nhất nhị tam tứ phẩm, đều chọn một người làm thư dịch xem xét đường quan về phần đất sở tại và ghi rõ điều cấm để bảo vệ người nhà”.
Từ chính sử cho đến các sách biên khảo ngày nay liên quan đến sinh hoạt cung đình, hoàng tộc Nguyễn Phúc đều khẳng định: nơi ở của các hoàng thân, hoàng tử lúc sinh tiền gọi là phủ, công phủ, vương phủ; nơi ở của các công nữ, công chúa lúc đã gả chồng và được tôn phong gọi là đệ, đệ trạch và việc đi lập phủ gọi là “xuất các” hoặc “xuất phủ”. Nơi ở của các hoàng tử, công chúa trong đời người nhất thiết không phải một địa điểm nhất định mà có thể thay đổi. Thông thường nơi ở sau cùng mới ổn định để thành chốn phủ đệ, đệ trạch mà có khi tùy theo văn cảnh, cách nói người ta quen gọi chung là phủ đệ cho gẩy gọn. Các cụ xưa khuyên người đọc sách nên “tinh mắt” để mà nhận ra nghĩa lý.
Cụ ông và cụ bà Vĩnh Ngô đều thọ đến trên dưới 90 tuổi. Cụ ông là hậu duệ của hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Thủ, con thứ 9 của vua Minh Mạng, có phủ ở ấp Xuân An, làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, và về sau dời về phường Phú Hội, đường Nguyễn Công Trứ, biển hiệu nơi thờ ngày nay là Hàm Thuận công từ. Cách một bức vườn của thường dân là nơi thờ An Thường công chúa (chị ruột của Hàm Thuận công):
Con đường trưa nắng gió hiu hiu
Ngây ngất người qua, tiếng sáo diều
Đây chốn An Thường công chúa nghỉ
Lưng chừng khóm trúc dáng liêu xiêu
(Đồng Di Đỗ Hà)
Vườn chị gần bên nhà em, phía trước là đường Chợ Cống, phía sau là sông Thọ Lộc rẽ lối ra sông Hương. Một bên là phủ, một bên là đệ.
Đệ không phải là em mà là chữ gọi tắt của đệ trạch. Cụ Vĩnh Ngô cho biết lúc nhỏ cụ đã từng sống ở đây trong tình nồng ấm “nội ngoại tương tề”. Mỗi lần phủ và đệ cúng Thổ thần, cụ ông nghe rõ, thấy rõ văn sớ viết tên gọi hai bên khác nhau: bên phủ Hàm Thuận là “Phủ đệ tôn thần”, bên An Thường công chúa từ là “Đệ trạch tôn thân”. Về mặt lý nghĩa chính thống là rạch ròi như thế. Còn về mặt dân gian, trong ngôn ngữ nói thì người ta quen gọi chung là “Phủ từ” vì chủ nhân ông, chủ nhân bà đã mất.



* Đền thờ bên ngoại nhà vua
Chữ “phủ” và chữ “từ” thật lắm nghĩa, rộng đường trong thuật ngữ cung đình lẫn ngôn từ dân gian. Đền thờ bên ngoại nhà vua được gọi là “từ”. Bên bờ sông Hương kể từ chùa Linh Mụ đi về phía cầu Bạch Hổ các đền thờ: Vĩnh Quốc công từ, Diễn Quốc công từ, Qui Quốc công từ, Thọ Quốc công từ, Phước Quốc công từ, Đức Quốc công từ… Chữ “từ” được dịch là “đền” và được quốc sử biên chép vào mục Quán từ xếp chung cùng với các đền Quan Công, Thiên Phi, Tiên Y, các đền thờ có liên quan đến sơn lăng, các phi tần… thậm chí đến Thiệu Hóa quận vương Nguyễn Phúc Chẩn như đã nói ở phần đầu bên trên bài viết này. Thật là “nhiêu khê” về nghĩa lý của các từ “phủ” và “từ” trong ngôn ngữ Việt.
Thế thì không thể ghép buộc 6 đền thờ này là phủ đệ như báo chí đã viết và lấy hình ảnh cả nhà vườn Lạc Tịnh Viên ở đường Phan Đình Phùng, nhà vườn An Hiên của bà Tuần Chi nhũ danh Đào Thị Xuân Yến… để minh họa cho bài viết khiến cho đọc giả trẻ tuổi, nhất là sinh viên học sinh ngày nay khó hiểu?
Phủ đệ đời nhà Nguyễn kế tục, tiếp nối và phát huy truyền thống giòng tộc của vương phủ, hoàng gia có kỷ cương, tôn thống từ khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, sửa sang đô ấp, tiền thân của Kinh Thành Huế. Ngày xưa dưới thời Nguyễn, Tôn Nhân phủ trực tiếp quản lý và điều hành các phủ đệ ở kinh đô và các huyện để kỷ cương phép nước được giữ vững cho nên tránh được nạn lộng hành do quyền thần kết hợp với thế lực hoàng gia bất chính, thậm chí cả thế lực bên ngoài nước lũng đoạn thừa lúc nước đục béo cò. Thời “tứ nguyệt tam vương” sau khi vua Tự Đức về chầu tiên đế đã khiến cho sơn hà xã tắc chao đảo, ngã nghiêng: không những hoàng gia chóng suy sụp mà bách tánh phải chịu cảnh quốc phá gia vong.
L.Q.T.
CHÚ THÍCH ẢNH
Ảnh 01: Phủ Tùng Thiện vương
Ảnh 02: Phủ Tuy Lý vương
Ảnh 03: Phủ Vĩnh Quốc công
Ảnh 04: Phủ Khải Uy Trung Hưng Hồng Cơ
Ảnh 05: Phủ Phong Quốc công

Bài và ảnh từ trang www.covathue.com
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - PHỦ ĐỆ DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN