Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, May 18, 2025

Ca khúc THƯƠNG NHỚ MẸ - Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Lê Quốc Thắng - Ca sĩ: Hà Vân -



Thương nhớ mẹ

Bao nhiêu bài thơ con làm
Chưa bài nào con làm cho mẹ
Hôm nay đọc những bài thơ về mẹ,
của bạn bè, con cảm thấy xót xa
Đúng quá đúng những bài thơ ngợi ca
Nước mắt con tuôn trào
Thấy thổn thức, thấy nhớ thương vật vã!
 
Hai mươi năm kể từ ngày mẹ mất
Con lạc loài, hụt hẫng lắm mẹ ơi
Không còn mẹ, ai dậy dỗ trên đời
Những lúc khổ chẳng còn ai tâm sự
Ai khuyến khích, ai mừng con khá giả
Ai nghe con chia sẻ chuyện âu sầu..
 
Khi quấn khăn tang mầu buồn trắng lên đầu,
dẫu vẫn biết.. từ đây mình mất mát
Đâu ngờ rằng mất nhiều quá mẹ ơi!
 
Không có ai hiểu con bằng mẹ hiểu
Mất mẹ rồi, trống vắng biết bao nhiêu
Thèm mẹ mắng, nghe mẹ cười hớn hở
Mất thật rồi… ai nâng đỡ, thương yêu
Mẹ thương con, tình thương vô điều kiện
Mẹ thương con tình mẹ chẳng bến bờ
 
Bao nhiêu tuổi vẫn là con của mẹ
Mẹ mất rồi con bé bỏng với ai
Bao nhiêu tuổi vẫn là con gái mẹ
Thèm dụi đầu vào nách mẹ, ôm vai
 
Hoa hồng trắng con ngậm ngùi cài áo
Cài hàng năm vào ngày lễ Vu Lan
Nhớ mẹ yêu con đã khóc nghẹn ngào
Tháng Bẩy ta mùa Vu Lan báo hiếu
Mẹ còn đâu mà đền trả, mẹ yêu…
 
Mẹ yêu ơi hôm nay con nhớ quá
Nhớ mẹ hiền, con nhớ quá mẹ ơi?
Ngày hiền mẫu không còn mẹ trên đời
Thương nhớ mẹ, mẹ của con, mẹ hỡi…

Q. Như Nguyệt
May 7th, 2015
READ MORE - Ca khúc THƯƠNG NHỚ MẸ - Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Lê Quốc Thắng - Ca sĩ: Hà Vân -

MÙA HOA NỞ TRÊN ĐỒNG XANH - Jos. Nhật Quang

Tác giả Jos. Nhật Quang

 

Jos. Nhật Quang

MÙA HOA NỞ TRÊN ĐỒNG XANH

 

    Ở một vùng quê yên bình bên dòng sông lặng lờ trôi, vào những buổi chiều hoàng hôn thường in bóng một đôi trai gái ngồi bên nhau dưới gốc dừa, trò chuyện thật lâu. Họ là Hoàng Nam và Lan Thanh – một chuyên tình đã làm thổn thức bao trái tim trong ngôi làng ấy.

     Hoàng Nam sinh ra trong một  gia đình nghèo. Cha mẹ anh sống bằng nghề nông, quanh năm với mảnh vườn nhỏ và vài sào ruộng lúa, đó là tất cả tài sản. Tuổi thơ của Nam không được may mắn như các ban nhỏ khác, hết giờ học Nam phải đi mò cua, bắt ốc và phải phụ cha những buổi cày bừa. Tuy vậy, Nam vẫn cố gắng học hết câp 3, tính tình rất hiền lành, chăm chỉ và luôn sống thật thà.

     Còn Lan Thanh thì ngược lại. Cô là con gái duy nhất của ông bà Hoàng là chủ một cửa hàng bán gạo lớn nhất vùng, lại rất có uy trong xã. Lan Thanh đang học năm thứ nhất trường Cao đẳng Sư phạm Tỉnh, mỗi khi nghỉ học về quê thăm cha mẹ, cô đều khiến bao người, nhất là các chàng trai trong làng để ý với dáng dấp nhỏ nhắn, xinh đẹp, mái tóc dài óng mượt và cách nói chuyện thật nhẹ nhàng. Nhưng điều khiến Nam nhớ mãi chính là lần đầu găp cô – một buổi chiều  cơn mưa đến bất chợt, Thanh đang chạy chiếc xe tay ga trên đường về nhà, sơ ý cô bị té xuống đường, khi ấy Nam  trong bộ quần áo ướt sũng đang đi công việc, thấy vậy đã không ngần ngại chạy lại đỡ cô  và chiếc xe lên,  rồi câu chuyện qua lại, hai người quen nhau.

     Từ hôm đó, họ bắt đầu để ý đến nhau và rồi tình cảm nẩy sinh. Thanh có những buồi về quê nhiều hơn, không chỉ để thăm gia đình, mà còn để găp Nam. Những buồi chiều hẹn hò, họ ngồi tâm sự về những ước mơ tương lai, về một tố ấm có tiếng nói bi bô của con trẻ. Theo ngày tháng, tình yêu của họ lớn dần, lặng lẽ như dòng sông, không ồn ào nhưng sâu lắng.

    Nhưng có tình yêu nào đẹp mà không qua những bão giông. 

    Khi biết chuyện, cha mẹ Thanh liền phản đối. Ông Hoàng đập bàn quát:

    “Con gái tôi không thể đi làm dâu một nhà cấy lúa ăn từng bữa, nó phải lấy người nào xứng đáng hơn!”

    Lan Thanh cố giải thích, nói với cha mẹ là Hoàng Nam là người đàng hoàng, có chí, cô không cần tiền bạc, cô chỉ cần tình yêu, nhưng trái tim cha mẹ cô đã đóng chặt bởi thành kiến của sự phân biệt giai cấp

     Hoàng Nam cũng buồn rầu, khi nghe tin, mẹ anh liền thở dài:

    -  “Con à, mình nghèo, yêu người ta chỉ làm người ta khổ thêm thôi.”

    Nam thật đau đớn, anh không trách ai, chỉ thấy bất lực trước bức tường vô hình mà số phận dựng lên. Anh biết mình chưa làm gì để chứng minh là xứng đáng với Lan Thanh. Thế là một ngày Nam đã rời quê ra đi.

     Hoàng Nam lên Thành phố làm đủ mọi công việc quyết để có tiền tiếp tục học lên. Có lúc Nam kiệt sức nằm một mình trong căn phòng trọ chật chội mà nhớ Thanh đến nát lòng. Với nỗ lực và tình yêu đang ấp ủ chính là ngọn đèn le lói trong những ngày tối tăm nhất, thôi thúc Nam đứng dậy mỗi lần ngã gục. Rồi những ước mơ đó đã trở thành hiện thực, Nam đã thi đậu vào một trường Đại học. 

    Còn Lan Thanh, dù bị cha mẹ kiểm soát mọi liên lạc, vẫn không nguôi hy vọng. Cô vẫn âm thầm nhắn tin, điện thoại với Nam, kể cho Nam nghe từng câu chuyện. Thanh hứa vẫn chờ, vẫn tin một ngày hai đứa sẽ được ở bên nhau.

 

    Thế rồi năm năm trôi qua.

    Hoàng Nam giờ đã là kỹ sư xây dựng, mở được công ty nhỏ chuyên làm nhà dân dụng. Không lớn lao gì, nhưng có thể  đủ để anh ngẩng đầu. Nam trở về quê hương, không phải để phô trương, mà để tìm lại một lời hứa. 

    Ngày gặp lại, Lan Thanh đang là cô giáo dạy Văn của một trường cấp 2 trong xã. Vẫn dáng dấp dịu dàng như xưa, nhưng giờ đã dày dặn, trưởng thành hơn. Họ nhìn nhau thật lâu, tuy không nói nên lời,  nhưng những giọt nước mắt của Thanh rơi trên má Nam như một câu trả lời, minh chứng cho tất cả.

     Khi Thanh đưa Nam về ra mắt cha mẹ lần nữa, ông Hoàng  ban đầu vẫn lạnh lùng. Nhưng khác với xưa, lần này Nam không cúi đầu, anh đứng thẳng kể về hành trình của mình – không một lời oán trách, chỉ có sự kiên định và chân thành. Mẹ Thanh lặng đi. Còn ông Hoàng lần đầu tiên trong đời nhìn thấy ánh sáng trong đôi mắt chàng trai ấy – ánh sáng của một người đàn ông biết yêu, biết vươn lên. 

    Rồi một ngày đầu Thu đẹp trời, họ đã tổ chức đám cưới, không sang trọng nhưng có đầy đủ anh em họ hàng, bà con lối xóm cùng bạn bè đến tham dự chúc mừng. Nam và Thanh thật sự hạnh phúc. 

    Với sự cố gắng, mơ ước từ bao lâu, họ đã xây được một ngôi nhà khang trang, với khu vườn rộng rãi. Lan Thanh trông đủ các loại hoa, còn Nam xây bức tường rào vây quanh. Họ sống giản dị mà hạnh phúc, như chính tình yêu họ gìn giữ qua bao tháng năm. 

    Mỗi buổi chiều, tiếng cười con trẻ lại vang vọng bên bờ sông quê, nơi từng chứng kiến một chuyện tình tưởng chừng dang dở, nhưng lại viên mãn bởi lòng kiên định và chân thành.

                                                                                                                         Jos. Nhật Quang

                                                   nhatquang18@gmail.com

 

 

 

READ MORE - MÙA HOA NỞ TRÊN ĐỒNG XANH - Jos. Nhật Quang

Tản văn XÓM CỔNG QUÊ NGOẠI CÒN ĐÓ MÀ ĐÃ MÙ SA - Lê Minh Hiền


 
     Lê Minh Hiền

Xóm Cổng Quê Ngoại

còn đó mà đã mù sa*


Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê Ngoại ruột đau chín chiều...

                                         


    Tôi có rất nhiều kỷ niệm đẹp với Quê Ngoại. Tôi sinh ra, sống những ngày tháng đầu đời ở Xóm Cổng, Quê Ngoại. Quê Ngoại tôi thanh bình lắm! Hơn 30 năm định cư ở xứ người khác tiếng nói, khác màu da, khác sinh hoạt văn hóa khởi đi từ lúc còn lạ nước lạ cái đến hôm nay, quá đủ lâu để nên cố quận, nhưng những kỷ niệm thuở ngày xưa còn thơ ấu ấy ở Quê Ngoại ngày càng vừa vời vợi mờ xa vừa rõ ràng hơn bao giờ trong tâm hồn tôi, những hình ảnh thân thương bên Ngoại càng ngày càng lắc càng đầy trên con đường dài lần theo dòng thời gian của một đời người...  Cái cảnh thanh bình ấy mỗi khi nhớ về, tôi lắng nghe tiếng lòng mình rung lên những xao động khôn cùng lạ thường: “Xóm Cổng… Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa, cái tên mộc mạc... “ (trong bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa). Tâm hồn tôi được ươm mầm lãng mạn thơ ca từ dạo ấy, cho đến một ngày, ở tuổi vào chiều, tôi trở thành... một người làm thơ. Trong 10 năm qua, dòng thơ tôi, không tham, không sân chỉ đầy ắp một hồn thơ si mê yêu thương, và thăng hoa ở những bài thơ mang nỗi ám ảnh Freud chưa bao giờ thỏa mãn vì hợp mà tan, luôn đến rồi đi qua hình ảnh giai nhân mộng mị, nõn nà, non mọng của những cô gái đã và đang đi qua đời tôi tùy duyên!: “ ...Cho tôi xin hương vị em thơm ngọt / thoảng nhẹ rất gần dưới vạn ánh sao đêm... “ (trích trong một bài thơ). Tôi đi tìm mãi vẫn không đặt nổi cho mình một bút hiệu, và tôi quay lại dùng chính tên mình, Lê Minh Hiền, làm bút hiệu cho đến nay và chắc chắn mãi mãi, thầm tự nhủ như một thái độ cảm ơn chính mình, một đời phiêu dạt với những mộng ước không thành và thầm tự nhủ như là một thái độ cảm ơn đến Ba Má Ông Bà, những bậc sinh thành đã từng trải qua những phận đời khác nhau, nhưng tựu trung luôn luôn canh cánh trong lòng những nỗi lo toan dành cho con cháu... 

.

    Quê Ngoại tôi mang một cái tên thật mộc mạc là Xóm Cổng. Từ thành phố Qui Nhơn ngược hướng biển ra ngoại ô khoảng vài dặm, vừa qua khỏi chân Cầu Đôi, ngay bên phải là một con đê nhỏ chạy ngang qua Xóm Cổng về hướng Gò Bồi, huyện Tuy Phước. Xóm Cổng nhỏ bé vài chục nóc nhà nằm bên phải chân con đê ngăn đôi một vùng sông nước bao la, như một cái cù lao nhỏ. Nhà Ngoại ở đầu xóm. Gió từ ngoài sông thổi vào Xóm Cổng quanh năm, bốn mùa không ngừng nghỉ. Trước khi chạy vào xóm nhỏ, lũ gió ghé vào sân nhà Ngoại chơi trò trốn tìm cả ngày lẫn đêm trên những tàu lá dừa. Những cây dừa với những buồng dừa nặng trái có màu nâu vàng hườm như màu trái dừa xiêm nhưng to như những trái dừa thường. Có lẽ nào là giống dừa thường lai xiêm! Vì vậy mà nước dừa nhà Ngoại tôi vừa nhiều nước vừa có mùi thơm mát, có vị ngọt thanh tôi chưa từng gặp lại ở bất kỳ ở nơi nào khác! Ký ức về lũ gió chơi trò trốn tìm lao xao trên những tàu dừa trong sân nhà Ngoại tôi ngày nào tôi mang theo suốt đời mình! Hồi mới qua định cư ở Mỹ, vào những ngày cuối tuần, Ba tôi, người bảo lãnh cả nhà qua Mỹ, hay lấy xe hơi chở cả nhà xuống biển Huntington Beach chơi. Đi trên bãi cát trắng biển xanh ngay giữa nắng vàng hè về nhưng gió biển lạnh buốt sao lại bất chợt gợi trong tôi nhớ về những cơn gió nồm nơi miền sông nước Quê Ngoại! Những thoáng nhớ ấy tôi mơ hồ nghe hồn mình lạc lõng vô cùng nơi quê người cách xa Quê Ngoại nửa vòng trái đất bên kia đầu bờ biển Thái Bình Dương!

.

    Nhớ rõ làm sao như hôm qua trong bộ nhớ dài hạn rất tốt của tôi, những ngày xưa tôi còn bé xíu ở nhà Ngoại. Yêu làm sao những xế chiều về, Dì Út Tám tôi trải chiếu trước hè cho tôi nằm chơi còn Dì ngồi cạnh đan lưới đánh cá. Hạ vàng ươm mật, và gió ngoài sông thổi vào mát rượi. Và cứ vậy những cơn gió nồm yên ả ru tôi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Đến khi tôi thức giấc thì đêm đã khuya. Ngoài sân màu sáng trăng trong vắt thủy tinh nhuộm vàng cả không gian. Lũ gió nồm vẫn không thôi từ ngoài sông chạy về, nghe như chúng muốn thì thầm bên tai tôi một chân lý vĩnh hằng vừa sâu lắng vừa đơn giản về ý nghĩa hạnh phúc đời người của những con người an phận sống đạm bạc ở một vùng quê yên bình này. Những lúc đó, bao giờ tôi cũng thấy Ông Bà Ngoại tôi đang ngồi uống trà nói chuyện trong gian nhà giữa. Dì Tám chắc đã bỏ đi xuống nhà dưới, còn cậu Bảy Ời chắc đi chơi đâu đó trong xóm vẫn chưa về. Ông Bà Ngoại tôi có tất cả 4 người con từ Má tôi là chị cả thứ 4 tên là Ơi, rồi tới Dì 5 Quơi, Cậu 7 Ời, Dì Út 8 Hử. Tôi không nghe nói gì về người con thứ 2, thứ 3 và thứ 6, có lẽ họ mất từ hồi còn rất bé chăng? Ông Ngoại tôi, như bao người dân quê chất phác muôn đời hay có cái quan niệm đặt tên cho con cái sao nghe bình dân, thậm chí xấu xí để đứa bé không bị cõi trên quở làm ốm yếu, để chúng nhanh ăn chóng lớn. Nên Má tôi, các Dì và Cậu tôi mới có những cái tên lạ lùng như vậy! 

.

Với Ông Ngoại tôi có một kỷ niệm rất ấn tượng dù chỉ nghe từ Má tôi hay kể lại. Số là, vài ngày sau khi sinh ra tôi ở bệnh viện Đa khoa Qui Nhơn chính Ông Ngoại tôi đã chèo xỏng nhỏ rước Má và tôi từ Cầu Đôi về. Hồi ấy con đường đê nhỏ từ đường cái quan chạy ngang nhà Ngoại còn rất hẹp chỉ vừa đủ cho 2 người đi ngược chiều nhau, và ngoằn ngoèo uốn lượn quanh co, không thể dùng phương tiện xe bốn bánh để di chuyển, kể cả xe lam rất phổ biến thuở ấy. Đã vậy, tôi ra đời vào giữa mùa mưa, loại đất thịt đắp nên con đê thường sau một cơn mưa lớn nhanh chóng biến dạng trở nên nhão nhoẹt rất khó đi nên Ông Ngoại tôi phải đưa Má và tôi về bằng đường sông. Và tôi không thể không kể lai lịch tấm hình minh họa bên trên tản văn này vì đâu tôi có. Tấm hình ghi nhận cả một vùng sông nước với dãy núi xa xa, khởi đầu cận cảnh là Cầu Đôi. Có cái tên Cầu Đôi, một địa danh cửa ngõ dẫn vào thành phố Qui Nhơn là vì một bên là cây cầu đường cái quan, song song là cây cầu đường tàu lửa** bên kia. Tấm hình do ai đó đã chụp, không phải của người thân tôi. Vậy mà có một trùng hợp kỳ lạ là cũng ngay mùa mưa năm 1957 có ghi rõ bên dưới tấm hình, là năm tôi khởi sự có mặt trên cõi người ta này, có cả con đê nhỏ và còn lạ lùng biết bao trên sông còn có một chiếc xỏng nhỏ do một người nào đó đang khua chèo như thể Ông Ngoại tôi đang khua mái chèo năm xưa đưa Má và tôi về nhà Ngoại vậy. Tấm hình này xuất hiện trên fb một người tôi quen biết ở Khu 6, trong thành phố Qui Nhơn, nơi tôi đã trải qua một thời kỳ tuổi thơ sau vài năm đầu đời của tôi ở nhà Ngoại, mãi cho đến vài năm sau 1975 gia đình tôi dọn về quê Nội. Tấm hình tôi tình cờ có được sau khi định cư ở Mỹ ba năm, như một ơn trên gửi tặng tôi, như một kỷ vật quý báu nhất đời tôi, tôi có nằm mơ cũng không thấy! Tôi phóng to ra và treo trang trọng ở phòng khách như mang theo bên mình một trời Quê Ngoại tôi nơi xứ người!

.

    Hồi ấy, mỗi lần về thăm Ngoại, đi trên con đê nhỏ nghe gió lớn thổi ù ù hai bên tai đến nổi chúng tôi phải nói to mới nghe nhau được. Đường về nhà Ngoại qua nhiều cái cống nhỏ, tôi thích lắm mỗi khi dừng chân đứng xem nước chảy ào ào qua mấy cái cống nhỏ làm bằng cây này. Nước chảy qua những cái cống trông thật dữ dội. Ký ức về chúng thật ấn tượng đến nỗi mặc dầu sau này lớn lên phiêu dạt sông hồ khắp nơi, rồi sang Mỹ, đi khắp thế giới, từng có dịp đứng trước những cái thác lớn, là những kỳ quan thế giới, lòng tôi pha trộn nhiều cung bậc cảm giác khác nhau, song vẫn không tìm gặp lại cảm giác ấn tượng như khi bước qua mấy cái cống nhỏ quê Ngoại, nghe trong lòng vừa sợ vừa thích thú lạ lùng! Quê Ngoại tôi có cái tên là Xóm Cổng phải chăng do phát âm trại ra từ chữ “cống” của những cái cống xả nước qua lại này chăng?: “...những cái cống xả nước lên xuống nghe nước chảy ào ào trông dữ dội! / tuổi thơ sợ hãi ngập ngừng khi đặt bước chân sang...” (trích trong bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa) 

.
    Bây giờ, Ông Bà Ngoại đều đã qua đời, cả Cậu Bảy Ời tôi đã mất lúc vừa qua tuổi trung niên, không phải trong mùa chinh chiến điêu linh trước 1975 mà vì căn bệnh trầm cảm vài năm sau đó bắt nguồn từ phận nước đổi thay, Cậu Bảy Ời tôi phải sống những ngày nghèo khổ và bất đắc chí. Đâu đây trong tôi vẫn còn hình ảnh Cậu Bảy Ời và ngón đờn vọng cổ nghe thật mùi, thật tha thiết, một con người có tâm hồn nghệ sĩ như con ve sầu chỉ thích ca hát suốt mùa hè! Còn Dì Tám lấy chồng là cán bộ Xây Dựng Nông Thôn. Sau 1975 Dì theo Dượng Hạt về sinh sống ở quê chồng tận ngoài Tình Giang, thuộc huyện lỵ Tuy Phước cách Qui Nhơn vài giờ đi xe máy. Dượng Hạt, chồng dì mất mười mấy năm trước trong một trận đột quỵ đột ngột lần thứ hai trên đường đưa đi vào Qui Nhơn cấp cứu. Con cái Dì đã khôn lớn, đứa nào cũng trưởng thành, và có gia đình riêng, sự nghiệp vững vàng.  Tôi hay gọi video fb call về thăm Dì. Trong lần gọi vừa rồi tôi hay tin Dì vừa qua một cơn đột quỵ như Dượng Hạt nhiều năm trước. May mà cứu chữa kịp thời, nhưng di chứng là miệng Dì hơi méo một tí. Mấy chị em tôi cùng góp tiền gửi về cho Dì. Dì nói sẽ dùng mua thuốc uống hàng tháng cũng tốn kém khá nhiều. Và buồn nhất, chung quy vẫn là Xóm Cổng không còn như những gì tôi hay mơ màng hồi tưởng. Vô thường biến đổi, từ cảnh đến người. Đã có một con đường lớn 2 chiều xe lớn chạy ngang, thay con đường đê nhỏ, chạy mãi ra tận các huyện lỵ về hướng bắc. Nhiều phần sông đã được bồi lên thành những khu dân cư. Đến nỗi nghe tụi em tôi về Việt Nam thăm chơi, tìm về Quê Ngoại, chúng nó kể lại nếu không có tụi nhỏ con Cậu Bảy Ời dẫn đường không khéo chúng nó lạc đường mất. 

.

    Hai đứa con gái tôi sinh ra ở một phố nhỏ cách không xa Little Saigon, thuộc Quận Cam, South California, một khu thương mại của cộng đồng người Việt nổi tiếng ở hải ngoại. Tuổi thơ của chúng không sống trong thiên nhiên sông nước thanh bình như tôi ngày xưa còn thơ ấu ở Xóm Cổng Quê Ngoại, mà giữa một phố nhỏ vật chất dư thừa. Dẫu vậy, bù lại tôi biết dành cho chúng một tình yêu bao dung nhất, một vốn kiến thức quê hương nhiều nhất có thể của một người Bố bản chất vốn đầy ắp tình tự quê hương! Trước khi đến tuổi vào trường nhập học của hai bé, tôi đã bắt đầu dạy chúng học tiếng Việt. Nhờ vậy, hai đứa con tôi đọc thông viết thạo tiếng Việt, và khi nào quây quần trong nhà, cả nhà tôi chỉ nói với nhau bằng tiếng Việt như một gia đình người Việt ở trong nước. Ngoại cảnh có khác: Quê Ngoại và ở Mỹ nhưng tình người thì muôn thuở vẫn như nhau. Ngoại cảnh chỉ là phương tiện chuyên chở tình người đến những bến bờ hạnh phúc. Nhìn con lòng tôi bồi hồi nhớ lại mới ngày nào Bà Ngoại tôi hay nói nửa đùa nửa thật, “Chừng*** nào con lấy vợ hử*** con, Hiền...”, mỗi khi Bà gánh cá đi xuống chợ Lớn ở Qui nhơn bán, tiện chân ghé thăm các cháu. Tôi giờ đã hơn nửa đời người, tuy lập gia đình có muộn màng một tí, nhưng may mắn đang hạnh phúc với những gì mình đang có. Bé lớn Jenny vừa lấy bằng Master Psychology, bé ba Jane đang theo học năm thứ 3 ngành văn học nghệ thuật. Còn nhớ  lúc lên ba, hai bé đã biết hát nhiều, nhạc Việt có, nhạc Mỹ có, song tôi thích nhất bài Em lễ chùa này, Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, tôi hay nói đó là bản ruột của chúng. Chúng còn đọc được một đoạn ngắn trong bài “Tôi đi học” của Thanh Tịnh: ''Mỗi năm cứ độ cuối thu, lá ngoài đường rơi nhiều và trên không trung có những đám mây bàng bạc, Bố Mẹ tôi dắt tay tôi đi học, đi chơi... Yeah!''. Không biết vì sao mỗi lần kết thúc đoạn văn trên con bé không bao giờ quên giơ hai tay lên hô yeah một tiếng, như để nhấn mạnh một cách hào hứng đã hoàn thành một nhiệm vụ được giao cho. Hai con tôi còn thuộc cả một bài học thuộc lòng tôi đã học từ hồi còn ở bậc tiểu học. Bài học thuộc lòng có vần điệu nhịp nhàng và đầy hình ảnh làm tôi mãi mãi không quên:  

        ''Kỳ nghỉ hè
        Ta về quê
        Nhà ta ở
        Mé bờ đê
        Ở nhà có
        Bố mẹ ta
        Ông và bà
        Quí ta quá
        Khi thư thả
        Ta ra đê
        Đi thả bê
        Nghĩ là thú.''
.

    ... Nhớ lại, sau 5 năm định cư tại Mỹ, vào mùa mưa năm 1997, những sự kiện mốc của đời tôi luôn xảy ra vào mùa mưa, đúng 40 tuổi đời, sau một đêm buồn nẫu ruột trong căn phòng share với một gia đình nọ, tôi đi mua vé bay về Việt Nam toan tính việc lập gia đình. Trong suốt thời gian về Việt Nam, tôi trọ ở nhà từ đường do Ba tôi xây nên, sau giao cho Chú Sáu tôi trước khi cả nhà tôi sang Mỹ. Hai làng Nội Ngoại tôi sát cạnh nhau, cùng một xã Nhơn Bình, thuộc Thành phố Qui Nhơn. Tôi hay về nhà Ngoại, lúc này còn Mợ Bảy Ời sống cùng gia đình thằng Phúc, con trưởng nam. Tôi nhớ hoài buổi chiều hôm ấy, sau đám cưới vài ngày... một chiều mùa đông trời âm u và mưa đang rơi. Một cảnh tượng thân thương quen thuộc một vùng sông nước Quê Ngoại nơi tôi đã từng sống qua một thời thơ ấu mà tôi thường nhớ lại da diết qua những năm tháng ở Mỹ... Mợ Bảy tôi dẫn tôi và vợ tôi ra thăm mộ Bà Ngoại. Trên đường ra mộ, mưa vẫn rơi đều đều, làm mặt sông rỗ chằng chịt. Trời lành lạnh, giữa sông có một chiếc xỏng nhỏ, một người đàn ông khoác một tấm áo che mưa kết bằng rơm vẫn bình thản buông lưới. Trời âm u hơn, mưa nặng hạt hơn, nghe lạnh hơn và gió sông mang theo nước mưa tạt vào làm chúng tôi thật khó khăn lắm mới thắp được mấy nén nhang. Vợ tôi bên cạnh, tôi cầm nhang khấn vái thầm nhắc lại với Ngoại chuyện xưa ngày nào. Nước mắt tôi rưng rưng nhưng nhanh chóng bị những hạt nước mưa làm nhòa đi. Ở mộ Bà về thì mưa đã tạnh, trời sáng hẳn ra. Tôi khoan khoái hít thở lại cái mùi mằn mặn, nồng nồng quen thuộc của thứ nước lợ Quê Ngoại và mùi thơm thơm nhè nhẹ của loại rau câu do ai đó vừa vớt từ dưới sông lên còn để lại trên mặt đường đê, và lại được dịp nhìn thấy thật nhiều con còng nho nhỏ nhiều màu đỏ, vàng trên bãi cát bên dưới chân đê, bên cạnh mép nước với những cái càng mập ú đang ùa nhau lủi xuống những cái lỗ hang nhỏ khi nghe tiếng bước chân chúng tôi từ xa... Gần về tới cổng nhà Ngoại tự nhiên gợi tôi nhớ lại hình ảnh Bà Ngoại nhỏ bé, già nua của tôi đứng trước cổng nhà vẫy tôi theo Bà dẫn đi ăn bánh xèo ở cái quán nhỏ cuối xóm. Tôi sinh ra đời vốn thể chất rất tệ. Má tôi kể, lúc lọt lòng, tôi cân nặng chỉ 2 kí rưỡi, ốm đau quanh năm làm khổ Má tôi không ít. Đã vậy hồi ấy Ông Bà Ngoại tôi mới có 2 đứa cháu là chị hai Hằng và tôi, các dì và cả Cậu Bảy Ời còn chưa lập gia đình, nên Bà Ngoại càng cưng chiều thằng cháu Ngoại đầu lòng là tôi. Các Dì, Cậu tôi hay bị Bà la oan hoài mỗi khi tôi khóc nhè không cần hỏi nguyên cớ vì sao. Cuộc đời bà Ngoại tôi thật tội nghiệp! Suốt một đời tảo tần lo cho con, nhất là lo chuyện vợ con cho Cậu Bảy Ời, vì Cậu là con trai duy nhất, còn riêng bà có mấy ngày vui! Ngày ngày từ mờ sáng bà tôi đã quẩy đôi quang gánh đầy cá mang xuống bán ở Chợ Lớn Qui Nhơn. Bà qua đời sớm ở tuổi 50 chỉ vì một chuyện không đâu, do ăn cá Nóc bị ngộ độc, loại cá rẻ tiền song thịt loại cá này rất ngon, nhưng nếu khi làm thịt vô ý làm dập mật thì rất độc!  Mỗi lần đến ngày giỗ Bà tôi, nhìn ảnh thờ của Bà, tôi hay tự hỏi sao trông bà móm mém già đến thế ở cái tuổi như vậy!: “ ...Rồi Bà qua đời sau một tai nạn bất ngờ ở tuổi ngoài 50, / sau một đời bươn chải mua gánh bán gồng những con cá con tôm từ con sông quê” (trong bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa)

.
    Đông qua Xuân lại, Hạ vàng Thu rơi dòng thời gian vô cùng trôi đi mang theo ba phần tư đời tôi đến nay ở một đất nước xa lạ đủ lâu đã nên cố quận mà nghe sao hồn mình vẫn không gì thay đổi. Dạo này, chợt phát hiện mình hay dễ xúc động bất kỳ lúc nào chỉ vì một chuyện buồn tha nhân không liên can gì đến mình. Tôi còn hay lẩn thẩn tự nghĩ dù phận đời người có vô thường, nhưng ở nơi ấy dù có tôi hay không nước dưới chân Cầu Đôi vẫn cứ trôi xuôi từ thượng nguồn về ngang qua Xóm Cổng ngày xưa đã từng có Bà Ngoại, Ông Ngoại, các Dì, có cậu Bảy Ời với ngón đờn 6 câu vọng cổ, và có cả tôi ngày xưa còn bé xíu, trước khi chảy ra cửa biển Thị Nại, đổ ra biển cả Thái Bình Dương, và biết đâu không chảy chảy ngang qua cả nước Mỹ này? Nhưng có một điều chẳng lạ lùng gì: Tôi mãi mãi vẫn không nói lưu loát được thứ tiếng phương xa này, khác với thứ tiếng mẹ đẻ mà ngày xưa còn bé tôi đã bắt đầu bập bẹ tiếng nói ba... ba... đầu đời trong ngôi nhà Ngoại tôi. Quê Ngoại thân thương của tôi với những cơn gió nồm trưa hè hay đêm trăng vàng ươm mật đã từng một thời xa xưa như trong cổ tích vuốt ve tâm hồn tôi, ươm gầy tâm hồn tôi nên một thi nhân. Và thật sự bồi hồi tiếc nuối làm sao Quê Ngoại còn đó mà đã mù sa rồi... thật sự mù sa... đâu là Xóm Cổng Quê Ngoại của tôi một thuở ấu thơ!: “...Xóm Cổng… Xóm Cổng ngày xưa, cái tên mộc mạc / nơi có những con người quanh năm an phận / cái xóm nhỏ đầy ắp yêu thương có Ông, Bà, Cậu, Dì và bà con quanh xóm / nhớ những đêm trăng lộng gió trên những tàu dừa trước sân / ngày xửa, ngày xưa… / Xóm Cổng còn đó / mà đã thật sự mù sa!” (trích trong bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa)


(4:29 mờ sáng)
Stanton, Little Saigon California Mar. 2003 – May 18th, 2025

*Nguyên bản tản văn mới nhất thay cho lời ngỏ trong tác phẩm “Có những cơn... Mưa & Em”

**Người dân quê tôi hay gọi là tàu lửa hay xe lửa, thay vì tàu hỏa như miền khác
“Chừng*** nào con lấy vợ hử*** con, Hiền...”: phương ngữ Bình Định

Lê Minh Hiền    


READ MORE - Tản văn XÓM CỔNG QUÊ NGOẠI CÒN ĐÓ MÀ ĐÃ MÙ SA - Lê Minh Hiền

SỢ EM LẠNH MÁI TÓC THỀ - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 

Tranh: Thái Tuấn

HUỲNH LIỄU NGẠN

SỢ EM LẠNH MÁI TÓC THỀ

nửa khuya bóng nhập với hình
anh đem thân thế ra tình tự đêm
nhành cây đã trỉu cành mềm
đã chia ngàn vạn nỗi niềm về đâu

chia đời lẻ mấy buồng cau
mà như rụng ánh trăng đầu thật xưa
ngoài vườn nở cánh hoa mua
sắc lên màu nhớ làm mưa quên về

sợ em lạnh mái tóc thề
nên xuôi rồi ngược bộn bề sá chi
bởi anh thương nhánh nhớ thì
làm rơi rụng cánh tường vi sang mùa

mùi hương thoảng gió nhẹ đưa
nép trong ngực áo em vừa thổi bay
tay cầm hơi thở em say
mới hôm ấy mà hôm nay đã vòng

tiếc thầm ngọn lá sầu đông
che thêm mấy lớp vẫn không ấm lòng
anh về khơi bếp lửa hồng
môi em như rượu cay nồng đời anh.

19.7.2023

HUỲNH LIỄU NGẠN
Tranh: Thái Tuấn
READ MORE - SỢ EM LẠNH MÁI TÓC THỀ - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

CÂU KINH GIŨA LÒNG TÔI - Thơ Mặc Phương Tử

 

Tác giả Mặc Phương Tử


CÂU KINH GIŨA LÒNG TÔI



Lâu lắm,

Không làm bài thơ cúng Phật

Những câu chú

Vẫn còn nằm yên trong trang kinh cũ,

Chỉ lần theo hạt bụi thời gian,

Tìm nghe hương cỏ bên trời,

Sỏi đá tâm tình ở mãi tấm lòng tôi.


Chúng ta,

Là những người hiện thân vào thế kỷ

Đã khoát lên chiếc áo đời rất thật.

Màu lá đương xanh mang đầy nghĩa Phật,

Mỗi ý niệm an lành, lòng Phật vẫn mênh mông.


Từng bước đi xa

Gọi nhau về bổn xứ

Nghe chim hót, vang những lời tình tự,

Mỗi ngày mặt trời lên

Cho thơm trái tim đời,

Câu kinh kệ

Khi đã viết vào những trang vui,

Trang lòng mới, cho hồng thêm câu chữ.



Những vì sao

Vẫn thức trắng giũa đêm đen,

Những hạt sương 

Vẫn sáng hồn trên chiếc lá.

Đường ta đi bốn phương về mới lạ,

Thức trắng đời thơ

Cho ý thức chong đèn.


Ta gặp nhau trên đường đời muôn ngã

Và chia nhau theo mỗi ngã vào đời.

Như con Ong đi tìm hương mật,

Con Kiến tha mồi chia mảnh thời gian.


Ta mang từng ý niệm xanh

Cho cây đời thêm sức sống.

Cho trăm nụ chồi xanh thêm biếc lộc,

Để lối về hoa cỏ sắc thêm tươi.

Câu kinh kệ,

Khi đã viết giũa lòng tôi !


Westminster, hè 2025.

MẶC PHƯƠNG TỬ.


READ MORE - CÂU KINH GIŨA LÒNG TÔI - Thơ Mặc Phương Tử