Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hồ Ngọc Thanh. Show all posts
Showing posts with label Hồ Ngọc Thanh. Show all posts

Saturday, May 13, 2023

TÌNH YÊU NGƯỜI CHẾT – Tùy bút của Thanh Phương


Tác giả Thanh Phương
(Thầy Hồ Ngọc Thanh)


VÀI LỜI GIỚI THIỆU:
 
Thanh Phương là bút hiệu của thầy Hồ Ngọc Thanh, trước năm 1975 là giáo sư trường Nguyễn Hoàng - Quảng Trị. Đây là câu chuyện thật, tác giả viết tự sự về chính mình. Tôi được tác giả cho phép gởi đăng trên báo mạng, hầu học trò và bạn đọc hiểu thêm tâm tình của một nhà mô phạm.                                               
                                                          Châu Thạch
 
1. Vợ chồng ông bà Giáo sống trong căn phố nhỏ ở xóm chợ An Đông, ít giao du với các gia đình trong xóm. Sống trong xóm trên 3 năm dài, ông bà chưa biết hết tên những gia chủ trong xóm và không có dịp quan hệ với họ, ngoại trừ hai gia đình sống liền kề con phố của họ. Tưởng họ sống khép kín. Nhưng không. Họ sống vậy vì tuổi tác. Thực ra họ có nhiều con cháu ở riêng không xa đó. Họ có nhiều bạn bè đồng nghiệp ngành y và giáo dục, nhất là ông có rất nhiều cựu học trò nay tuổi đã cao. Bạn hữu và học trò xưa, cũng như con cháu thỉnh thoảng đến thăm ông bà. Họ đón đưa nhau rất thân tình, có khi họ cùng nhau đi chơi xa một đôi ngày hoặc suốt tuần lễ. Đang ở tuổi “Bát thập chờ qui” nhưng ông bà trông còn trẻ hơn tuổi cả chục năm. Trẻ trung trong trang phục, sáng nào trong tuần ông bà áo quần trắng đến Trung tâm dưỡng sinh và vật lý trị liệu để thực tập cách sống vui, sống khỏe. Sáng chủ nhật ông bà phục sức chỉnh tề, sang trọng đi lễ nhà thờ Tin Lành. Giờ nghỉ, ông bà thường ở nhà đọc sách báo, xem tivi hoặc viết sách, và tiếp con cháu, bạn bè đến thăm. Họ chuyện trò tâm giao, có khi đãi nhau bữa cơm, chén chè tình nghĩa. Cuộc sống họ thật êm đềm và an lành. Họ là cặp đôi xứng hợp và tốt đẹp như lời của những người bạn thân nhận xét.
 
2. Qui luật “sinh ký, tử qui”, “hữu sinh, hữu tử” không ai thoát sự chết, và Nho gia đã từng ví “Ngũ niên, Lục nguyệt, Thất nhật, Bát thời”. Sự sống của con người, nhất là đối với người già ở tuổi 70 hay 80 được đo bằng ngày, bằng giờ. Như ông bà đang ở tuổi 80 thì sự chết có thể đến bất cứ giờ khắc nào.
 
Quả vậy. Vừa qua tuổi 80 bệnh tật tái phát, ông phải nhập viện cấp cứu, phải đại phẩu tốn kém vô cùng suốt 2 tháng nằm viện tưởng đã chết. Nhưng ông vẫn sống được, về nhà bà chăm sóc ông theo chế độ kiên khem về ăn uống, thuốc men và quan hệ xã hội. Ông cảm kích tình yêu của bà đối với ông “tương kính như tân” cho đến ngày đầu bạc răng long. Bà là tấm gương sáng nêu cao tình nghĩa phu thê, xứng đáng với tình yêu của ông dành cho bà từ thuở ban đầu suốt 60 năm qua.
 
Không ai đoán định sự sống, sự chết của mình được. Ông không chết vì bệnh tim nghiêm trọng, bà lại chết vì một bệnh cũng vô cùng nghiêm trọng khác: bệnh ung thư. Bệnh quái ác đã cướp mất sự sống của bà đang phơi phới như hồi xuân. Chỉ một thời gian ngắn tích cực chạy chữa, đành thua tử thần. Ra đi không kịp từ giã bạn bè, xóm giềng, bà con nghe tin không ai khỏi bị sốc vì quá bất ngờ, khó tin được. Ngay cả người nhà, mặc dù đã đón đợi trước, cũng không ngờ quá nhanh. Để lại bao thương tiếc cho chồng con, gia đình, bạn bè.
 
An ủi cho người ở lại là sự ra đi của bà thật quá nhẹ nhàng như trở bàn tay, không đau đớn dằn vặt. Tang sự được tổ chức tốt đẹp, mồ yên mã đẹp đúng như tâm định của ông nói với bà khi sinh thời.
 
3. Bà về Thiên quốc, để ông lại một mình côi cút. Ngày hai buổi sáng chiều, ngồi nhìn ảnh bà đối diện, ông nhớ bà, tưởng như bà đi đâu chưa về. Nhớ bà, ông nhớ những giờ phút có bà bên cạnh. Bà lo cho ông bữa ăn, thức uống và cả giấc ngủ, uống thuốc chữa bệnh. Ông thấy rõ mục đích Thiên Chúa dựng nên người nữ là để “giúp đỡ người nam” dù người nam mạnh mẽ hơn để làm chỗ dựa cho người nữ. Thiếu vắng bà, ông thấy hụt hẫng như đũa một chiếc, dép lẻ đôi. Ngồi buồn, nhớ bà. Ông nhớ từ những ngày tháng xa xưa khi mới yêu bà, thư từ hẹn hò, nhớ những ngày tháng vợ chồng nồng ấm, sinh con cái, có danh phận và cả những năm tháng sa cơ lỡ vận. Dù cuộc sống đổi thay, tình yêu ông bà dành cho nhau vẫn mặn nồng như thuở thanh xuân. Bà hạnh phúc về điều đó, và vì cớ đó khi lâm bệnh, bà sợ ông còn lại một mình tội nghiệp, bà không đành ra đi. Nhưng ý người không hơn được ý trời, bà phải ra đi. Thân xác bà trở về cùng bụi đất, linh hồn về cùng Thiên Chúa, nhưng tâm tình bà cứ vương vẫn cõi trần cùng ông. Trong tâm tưởng, ông bà vẫn bên nhau, hằng ngày ông viết thư tình thương nhớ bà. Đôi ba ngày, có nhiều đêm liền bà về với ông trong giấc ngủ, có khi ông đang mơ màng như chiêm bao. Bà vỗ vai ông, đập tay ông như thức ông dậy, có khi ông có cảm giác như bà đang đắp chăn cho ông, hoặc bà đang sưởi ấm cho ông như hiện tượng “bóng đè”. Ông âm thầm hưởng cảm giác như bà đang về cùng ông. Điều này vẫn xảy đến vào những ngày ông về quê ở Huế, hoặc khi ông đang ở Buôn Ma Thuột thăm gia đình con gái, và ở Đà Lạt thăm thân nhân gia đình, không chỉ trong giấc ngủ đêm mà cả trong giấc ngủ trưa. Một hiện tượng rõ nét có khi ông đang tỉnh ngủ, chỉ lim dim mắt một buổi chiều cuối tuần, ông cùng các con vào viếng mộ bà. Từ ngoài cửa nghĩa trang nhìn vào khu mộ, ông thấy người phụ nữ nào như bà đang ngồi bên phần mộ bà. Tiến lại gần, bóng người tan biến theo luồng gió nhẹ như khói lam chiều bay lên không trung. Ông biết bà đang còn lơ lững bên ông trong khi ông vẫn không quên được bà với sự thương yêu sâu đậm. Ông nhớ bà da diết, nhớ tất cả mọi điều hạnh phúc ông bà đã có được, nhớ những ngày tháng khó khăn mà bà phải chịu đựng trong những năm tháng thiếu vắng ông sau năm 1975. Nhưng bà đã được bù đắp bằng tình yêu của ông, và sự yêu thương của con cháu, sự tôn trọng của bà con họ tộc.
 
Gần 60 năm tình sâu nghĩa nặng dành cho bà, ông vẫn cảm thấy như chưa đủ. Vì vậy ông lại càng yêu bà hơn, và bà cũng yêu ông hơn, đến nỗi khi đã mãn phần trên đất rồi mà tình già cũng cứ quấn quýt nhau không dứt. Cho hay, nghĩa phu thê là một sự nhiệm mầu, như là món quà mà Thiên Chúa ban cho hôn nhân của hai kẻ yêu nhau hết lòng. Biết đâu nếu có kiếp sau, ông bà vẫn còn là cặp đôi xứng hiệp. Ông tự mỉm cười với ý tưởng này.                                            
 
Thanh Phương

READ MORE - TÌNH YÊU NGƯỜI CHẾT – Tùy bút của Thanh Phương

Wednesday, January 7, 2015

NGHỀ THẦY XƯA VÀ NAY - Hồ Ngọc Thanh


         


        NGHỀ THẦY XƯA VÀ NAY 
                                Hồ Ngọc Thanh                                  
        Sự nghiệp giáo dục nước Việt Nam ta bắt đầu hình thành và phát triển từ thời nhà Lý, khi việc học được coi trọng, được đặt làm nền tảng cho việc tuyển chọn nhân tài để kinh – bang – tế - thế. Triều đình đã cho lập Quốc tử giám để đào tạo, mở khoa thi tam trường để chọn người chăm lo việc nước, việc dân. Nối tiếp nhà Lý, các đời vua Trần, Lê, Nguyễn đã lập Văn Miếu, Văn Thánh,... ở kinh đô của các triều đại như Hà Nội, Huế để dựng bia đá khắc tên nhằm tôn vinh hiền tài, khuyến khích việc học và lưu danh hậu thế.
       Đã có thi cử, tuyển trạch thì phải có sĩ tử và phải có người làm công việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức và đạo lý làm người cho học trò, đó là người Thầy – một vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách và tương lai của một con người.                                     
     Tuy nhiên, cứu cánh của việc giáo huấn suốt cả thời kỳ Nho học, qua các triều đại phong kiến suốt gần một nghìn năm không chỉ là truyền đạt kiến thức chữ nghĩa Thánh hiền, mà cốt lõi là đạo lý sống của bậc tri giả: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Người sở đắc chữ nghĩa của Thánh hiền là để tiến vi quan, thối vi sư. Làm quan là để phục vụ nước nhà, làm thầy là để đào tạo người khác phục vụ. Người dạy và người học không lệ thuộc hẳn về thứ lớp của tuổi tác hay trình độ tri thức mà bằng cái tâm, cái chí sở cầu. Thầy giáo được tôn xưng là bậc tri giả, đức độ cao dày. Người thầy không hẳn là người từng đỗ đạt ở chốn trường thi mà chính là tâm, trí và đức đã hấp thu từ chữ nghĩa của bậc trí nhân quân tử mà thành. Đệ tử cũng cầu tìm thầy bằng cái tâm quyết chí tầm sư học đạo. Thầy có sở học và tâm đạo đến đâu thì truyền cho môn sinh đến đó, nhưng tựu trưng vẫn là việc dạy học. Những sách Tam thiên tự, Tứ thư, Ngũ kinh, Luận ngữ, v.v... chỉ là phương tiện cho việc dạy và học. Sự thành đạt ở chốn quan trường thường tuỳ thuộc vào tâm và trí của thầy lẫn trò. Thầy truyền dạy chữ nghĩa và đạo lý Thánh hiền, trò học không chỉ để biết mà còn để sống theo khuôn mẫu Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Người có học được nể trọng, là giai cấp đứng đầu trong xã hội theo thứ tự: sĩ, nông, công, thương. Do đó, người thầy được tôn cao hơn cả đấng sinh thành – chỉ sau vua -  theo thứ bậc: Quân, sư, phụ. Trò tôn vinh thầy là sư phụ không hẳn vì thầy đã dạy trò thành đạt ở chốn trường thi, nên danh phận trong xã hội mà giản đơn chỉ vì thầy đã góp tâm sức khai trí, truyền đạt đạo lý làm người dù ít hay nhiều bởi cơ duyên thầy trò gặp gỡ. Tương quan thầy trò là tương quan sư đệ. Đạo lý sư đệ rất được coi trọng theo châm ngôn Nhất tự vi sư, bán tự vi sư – một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy – công ơn ấy trò luôn ghi tâm khắc cốt. Trò trở lại thăm viếng thầy khi thành đạt và có người còn để tang thầy khi thầy rời xa nhân thế. Ôi! Nghĩa thầy trò mới cao đẹp làm sao!
     Từ đầu thế kỷ thứ XX, phong trào tây học với chữ quốc ngữ bắt đầu đào tạo tầng lớp trí thức có cách tân, có sở học đa năng, đa dụng nhằm phục vụ guồng máy chính quyền thuộc địa và xây dựng xã hội mới. Cơ sở giáo dục được tổ chức có hệ thống từ thấp lên cao dù chưa rộng khắp. Người thầy bắt đầu được đào tạo có tính chuyên môn, nhưng cứu cánh của giáo dục vẫn là đào tạo con người có tri thức, có đạo đức để làm người, sống hữu ích và tốt đẹp hơn.

      
     Cảnh thầy Đồ ngày xưa dạy học trò tại làng

Nghề thầy vẫn tiếp tục được tôn vinh, việc học vẫn được coi trọng và truyền thống Tôn sư trọng đạo vẫn mãi là đạo lý của thầy trò. Dù là hương sư dạy bậc sơ học ở trường làng, dù là đốc học hay giáo sư dạy bậc trung học, đại học thì tất cả đều được tôn vinh là thầy giáo. Thầy giáo không chỉ được học trò mà cả xã hội đều kính trọng. Đầu thế kỷ XX, ít có phụ nữ làm nghề giáo mặc dù không thiếu bậc hiền mẫu dạy con nên người. Trong giai đoạn nầy, nghề thầy vẫn là nghề tự phát của một số người có học thức, có tâm chí muốn góp phần xây dựng xã hội. Số thầy giáo và học trò còn hạn chế, thầy không dạy vì đồng lương và trò không học bằng học phí. Mãi đến thập niên 1950 mới bắt đầu có các lớp sư phạm. Các trường sư phạm được mở ở các thành phố lớn của cả ba miền Nam – Trung – Bắc để đào tạo cán bộ ngành giáo dục ở các bậc tiểu học, trung học và đại học nhưng số lượng chính quy vẫn còn hạn chế và sự nghiệp giáo dục chưa mấy phổ cập.
      Người đi học vẫn là con cái của những gia đình khá giả ở thành thị hoặc những ai hiếu học, có chí tự vượt qua sự khó khăn trong cuộc sống. Thầy cô giáo là hình tượng để học sinh ngưỡng mộ về tư cách đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tri thức truyền giảng. Do đó thầy cô giáo luôn gương mẫu trong lời nói, cử chỉ; ngay thẳng trong việc làm;lịch sự trong trang phục; đạo đức trong quan hệ. Hầu như không có trường hợp tai tiếng về tư cách của người thầy trong các mối quan hệ từ gia đình, học đường đến xã hội.
      Nhưng từ khi nhu cầu học vấn bùng nổ và sở học là cứu cánh để tiến thân trong cuộc sống thì số lượng người học tăng lên; đội ngũ nghề thầy cũng đông hơn.  Cuộc sống phát triển nhiều mặt đến nổi mục đích giáo dục không đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức của con người trong cuộc sống. Do đó định hướng giáo dục đôi khi võ đoán phiến diện, kết quả là con người được đào tạo có tri thức nhưng đạo đức được un đúc một cách giáo điều. Hệ luỵ là xã hội đầy rẩy những tri thức rởm, lắm kẻ đạo đức giả, học đường mất đi nhân xưng cao quý là nơi sản sinh bậc hiền giả, tri thức như ngày xưa. Vì thế nghề thầy cũng bị đánh đồng như bao nghề khác trong xã hội, không còn đứng ở bậc cao địa vị hằng được tôn vinh như ngày trước. Thậm chí có nơi trường học hoặc cơ sở giáo dục đào tạo mang hình thái của chợ chữ; Nhà quản lý bán chữ của thầy cô giáo và học trò là người mua chữ. Thầy cô chỉ là người lao động chữ nghĩa nên không còn được trọng vọng như xưa. Trước thực trạng đau lòng ấy, có người đã lên tiếng kêu gọi đã đến lúc cần chấn hưng đạo đức và trách nhiệm giáo dục ở học đường.
                                                
    Tôi may mắn được học với những vị thầy trong thập niên 1940 và suốt thập niên 1950. Dù họ là thầy giáo sơ học, tiểu học, trung học hay ở trường sư phạm, tất cả đều là những bậc thầy khả kính, đáng nể phục về tri thức lẫn đạo đức. Tôi luôn nhớ đến hình ảnh của các vị thầy đã dạy tôi ở bậc tiểu học thời đó. Quý thầy đều là người đứng tuổi, có phong cách của một công chức thời Pháp thuộc. Trang phục thầy luôn chỉnh tề: sơ - mi, cà - vạt và veston theo mùa, nghiêm chỉnh trong lời nói, cử chỉ; phong thái đĩnh đạc, đạo mạo, khả kính vô cùng. Quý thầy dạy tôi ở bậc trung học trẻ trung hơn nhưng vì tác phong nghề nghiệp nên trang phục, ngôn ngữ, cử chỉ cũng rất nghiêm chỉnh. Khi đứng lớp giảng bài, phong thái của quý thầy thật là uyên bác và sinh động. Đặc biệt quý thầy dạy ở trường sư phạm thì thật là mẫu mực trong mọi sự, vì thầy đang đứng trước giáo sinh – những người thầy tương lai. Do đó, tư cách của quý thầy đã ảnh hưởng đến giáo sinh không ít, trong đó có tôi và các bạn đồng môn, đồng nghiệp sau nầy.
     Suốt gần năm mươi năm, dù xã hội có nhiều chuyển biến nhưng đối với tôi nghề thầy vẫn là niềm vui, niềm tự hào suốt cuộc đời. Tôi luôn thể hiện tư cách tốt của một người thầy mà tôi đã hấp thụ được từ các bậc thầy khả kính của tôi. Bản chất nhà giáo từ khi còn trai trẻ cho đến nay vẫn không thay đổi. Tôi vui vì đã góp phần đào tạo cho xã hội những con người có ích, trong đó nhiều người đã tiếp bước vai trò thầy cô giáo có danh trong ngành giáo dục ngày nay. Với tôi, thầy trò vẫn giữ được tình nghĩa như thuở nào dù bây giờ đã ở vào tuổi hưu trí.
     Mong sao các nhà giáo dục hiện nay sớm có chương trình chấn hưng nền giáo dục nước nhà, phát huy đạo đức và trách nhiệm của người thầy đối với sự hưng vong của xã hội theo câu nói Lương sư hưng quốc để những nhân tài là sản phẩm của một nền giáo dục tốt.      
                Viết trong mùa khai trường                                                     Hồ Ngọc Thanh
Tổng Giám Thị Trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị (1966 - 1973)
.....................................                                
       Địa chỉ:
       27A Quang Cư – Thọ Quang
      Quận Sơn Trà. TP. Đà Nẵng
      Tel:  05-11-384-8134


READ MORE - NGHỀ THẦY XƯA VÀ NAY - Hồ Ngọc Thanh

Saturday, December 20, 2014

THƯA THẦY! THẦY CÒN NHỚ EM KHÔNG? - Hồ Ngọc Thanh


   
               Thầy Hồ Ngọc Thanh (mặc áo vest)


        THƯA THẦY! THẦY CÒN NHỚ EM KHÔNG?

                                                              Hồ Ngọc Thanh
(Nguyên Tổng giám thị trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị)
      1.
Thầy cô giáo được ví như người lái đò đưa khách sang sông. Bao thế hệ học trò nhớ sự dạy dỗ của thầy cô mà nên người. Chỉ một ít kẻ vô ơn, qua cầu rút ván. Đa số vẫn nhớ ơn thầy cô đã góp phần giúp họ nên người thành đạt trong cuộc đời. Do đó, mỗi lần được tái ngộ, dù ở trong hoàn cảnh nào của cuộc sống, tình nghĩa thầy trò vẫn mặn nồng, vẫn là niềm vui.
Sau hơn 50 năm với nghề thầy, nay ở tuổi “cổ lai hy, chuẩn bị quy”, thỉnh thoảng tôi có dịp gặp lại những người học trò xưa tại các buổi họp trường, họp lớp của những thế hệ học trò của tôi một thời.
Tại những cuộc hội ngộ có tổ chức trọng thể, thầy cô giáo được giới thiệu và được học trò cũ đến chào hỏi, chuyện trò. Những học trò thành đạt đang ở chung thành phố với thầy cô thì thầy trò đã nhận ra nhau một cách thân mật, đối với người lưu lạc phương xa, nay mới về “họp đàn”, thầy cô đã trở nên già lão, trò tóc cũng đã hoa râm nên thầy cô chẳng nhớ nỗi tên trò. Dễ thương nhất với câu hỏi của trò: “Thưa thầy (cô), thầy (cô) có nhớ em không?”. Cả thầy cô và trò đều vui khi tên trò được nhớ hay đoán đúng. Có trò phải tự giới thiệu thầy cô mới nhận ra, để rồi nhắc lại chuyện lớp cũ, trường xưa thân thương, tình cảm thầy trò có dịp tỏ bày một cách có ý nghĩa.
Cảm xúc trước những bối cảnh ấy, thầy Lê Nghiêm Kính, cựu giáo sư Trung học Nguyễn Hoàng đã cảm tác bài thơ “Thưa thầy, thầy có nhớ em không?” với bút danh Huy Phương. Bài thơ đã được phổ nhạc và được anh Hoàng Đoàn (bào đệ cô Sa Đa) hát tại cuộc họp mặt Nguyễn Hoàng năm 2011 tại Hoa Kỳ.
2.
Sau năm 1975, trong thời bao cấp, đời sống đầy khó khăn vất vả, có những trường hợp thầy trò gặp nhau trong những hoàn cảnh vô cùng xúc động. Tôi xin kể dưới đây vài câu chuyện đáng nhớ, liên hệ câu hỏi “Thưa thầy, thầy còn nhớ em không?”

* Chuyện 1:
Trưa hè nắng gắt, người thanh niên vào quán giải khát bên đường Bạch Đằng, thành phố Đà Nẵng, ngạc nhiên thấy cô chủ quán phục vụ mình là cô giáo cũ, ái ngại hỏi:
- Thưa cô, có phải cô là cô N?
- Vâng, sao ạ ?
- Thưa cô! Cô còn nhớ em không? Em học với cô trước năm 1975 tại trường Trung học Đông Giang.
- Ồ! Thế mà cô không nhớ nỗi. Xin lỗi em. Sao em còn nhớ cô?
- Hồi đó cô trẻ đẹp, thần tượng của bọn em, nhất là các bạn nữ.
- Nay cô xấu xí rồi phải không?
- Không xấu, chỉ già hơn, nhưng vẫn còn đẹp lão.
- Cảm ơn em khen để an ủi cô.
Rồi cô trò chuyện trò chia sẻ nỗi niềm. Trò về quê Quảng Nam, vừa học vừa giúp cha mẹ việc nông trang, nay mới ra Đà Nẵng xin được việc làm ở một xí nghiệp, chẳng có chức danh gì. Cô thì “mất dạy” vì chồng là sĩ quan cảnh sát chế độ cũ đang cải tạo trong trại. Đó là lý do khiến đời cô phải trải qua những ngày tháng vất vả.

* Chuyện 2:
Sau 5 năm ở trại tù về, thầy giáo T.M.T mua 01 chiếc xích lô làm phương tiện kiếm sống qua ngày ở Đà Nẵng. Một hôm, một thanh nữ gọi xe đi từ chợ Cồn về nhà. Trên đường đi, khách nghe giọng nói quen và nhận ra thầy T dạy Văn trước năm 1975. Đến nhà xuống xe, trả tiền xong khách mạnh dạn hỏi:
- Thưa thầy, có phải thầy là thầy T.M.T?
- Phải, sao em biết?
- Em là Thoa, học trò của thầy tại trường Đông Giang, hồi lớp 9. Sau năm 1975, gia đình em chuyển qua đây kiếm sống. Lâu nay thầy ở đâu mà em không có dịp gặp?
- Thầy ở trại tù 5 năm, được về nay làm ở “ủy ban quanh quẩn” kiếm sống qua ngày.
- Ồ. Thầy có việc làm ở “ủy ban” tại sao phải đạp xích lô?
T cười: - Việc của thầy cũng như nhiều người khác đi đạp thồ suốt ngày chạy quanh quẩn trong thành phố để kiếm sống ấy mà.
Cô gái hiểu ra và ái ngại thương thầy.
Nghe con gái chuyện trò với người đạp xích lô là thầy giáo cũ, từ trong nhà cha cô gái ra vồn vã và lễ phép mời thầy T vào nhà uống nước và chia sẻ. Bản thân chủ nhà, cũng là người đang sa cơ thất thế vì thế sự đổi thay chưa vượt được số phận, đành nhờ vợ con nuôi. Chủ nhà thán phục thầy T.
Bây giờ thầy T định cư ở Mỹ. Khi có dịp về thăm quê hương, gặp lại đồng nghiệp và học trò cũ kể lại những chuyện trên để vui và cũng để cười cho sự đời trớ trêu.

* Chuyện của người viết bài này:
Sau 1975, bị thất sủng rồi vào “đại học An Điềm” 4 năm. Về được với vợ con là may lắm rồi. Lao động “thợ đụng” tiếng Mỹ gọi là “Jacks of all trades” vinh nhục tùy theo nhân sinh quan mỗi người.
Một buổi tối trong thời bao cấp, tôi đang đạp xe rao hàng đêm, từ sau một thanh niên chạy xe honda đến sát bên hỏi:
- Thưa thầy, có phải thầy là thầy H.N.T không?
Xóm đêm không đủ ánh sáng để nhận ra người hỏi, tôi trả lời:
- Phải, anh là ai?
- Dạ em là Trần Thanh Phương, học sinh lớp 10C Anh văn được thầy dạy trước năm 1975 tại trường Trung học Đông Giang.
- Ồ! Tôi nhớ tên em và nhiều bạn cùng lớp 10C của em. Sao em nhận ra thầy trong đêm tối thế này ?
- Dạ! Em nghe giọng thầy và em đoán ra.
- Giỏi quá!
Sau đó, Trần Thanh Phương tìm nhà đến thăm tôi. Thấy tôi đang dạy Anh Văn cho những người có nhu cầu tiếng Anh do thức thời, đi trước thời cuộc hoặc chuẩn bị đi Mỹ. Thầy trò uống trà, chuyện trò thế sự, nhắc lại các thầy cô và tên các học sinh cùng lớp 10C năm ấy. Đa số đang “sa cơ thất thế” phải kiếm sống một cách bất đắc dĩ.
3.
Sau này, khi đã qua cơn bỉ cực đến hồi thái lai, thầy trò có dịp hội ngộ trong những buổi họp trường lớp, nhớ lại chuyện xưa hoặc được kể lại, có trò cảm kích khen ngợi thầy giáo mình có bản lãnh theo kiểu “ngộ biến tùy thời”. Tôi có dịp nhắc lại nhân sinh quan của Nguyễn Công Trứ “Làm tướng không vinh, làm lính không nhục”. Điều quan trọng là “Tùy duyên nhưng bất biến”. Dù trong hoàn cảnh nào “phượng hoàng vẫn là phượng hoàng”, chứ không phải như “chim cu mà muốn làm phượng hoàng”.
Tôi khôi hài với học trò cũ về chuyện đời của các thầy cô sau năm 1975 như là những thước phim đời mà các thầy cô phải đóng. Các em đã từng được thầy cô dạy văn giảng “Đời là sân khấu, mỗi người là diễn viên”. Vai vua thì mặc áo cẩm bào, đội vương miện ngọc tỷ, vai lính thú thì đầu đội nón dấu, chân mặc quần quấn xà cạp. Điều quan trọng là diễn viên phải có tài diễn để người đời yêu mến.
Tôi đã đôi lần muốn viết lại kịch bản của những thước phim cuộc đời mình và bằng hữu với tựa đề “Khi thầy cô giáo đóng phim”, để vinh danh những thầy cô giáo đã có những vai diễn trái nghề trong giai đoạn “thầy giáo tháo giày, giáo chức dứt cháo”. Hy vọng sẽ là phim hay và cảm động vô cùng.
                Hồ Ngọc Thanh 
                               (Cảm tác theo tựa đề bài thơ của Huy Phương)

READ MORE - THƯA THẦY! THẦY CÒN NHỚ EM KHÔNG? - Hồ Ngọc Thanh

Tuesday, December 2, 2014

ĐỌC BÀI THƠ "KHI VỀ QUẢNG TRỊ" - Hồ Ngọc Thanh

             
                              Thầy Hồ Ngọc Thanh (mặc áo vest)

                 ĐỌC BÀI THƠ "KHI VỀ QUẢNG TRỊ" 

                                                                 Hồ Ngọc Thanh

Tôi đã từng đọc thơ của anh Phan Phụng Thạch – người bạn đồng nghiệp cùng trường Nguyễn Hoàng từ năm 1966 cho đến khi anh qua đời (1973). Thơ của Thạch hiền hòa, bay bổng và đầy tình người. Đồng nghiệp và học sinh của anh đã yêu mến những vần thơ ấy như đã yêu mến con người của anh – một thầy giáo độc thân, trẻ tuổi có phong thái điềm đạm. Sự yêu mến đó không chỉ có lúc anh còn sinh thời mà còn tồn tại nhiều năm qua, sau khi anh từ trần vào năm 1973.
Hôm nay, nhân đọc lại bài thơ “Khi về Quảng Trị” tôi thật sự xúc động, tưởng như cảnh mấy mươi năm trước tái hiện, cái khoảng thời gian Quảng Trị bị bom đạn tơi bời, người chết không kịp chôn và người sống tan tác khắp bốn phương trời tìm đất sống. Bài thơ ấy không phải là sự hoài cổ, ca ngợi và tán tụng vẻ đẹp của quê hương hay tình cảm anh dành cho quê hương nhiều hơn người khác mà vì nó chứa một tình yêu Quảng Trị thiết tha – một tình yêu trong tận cùng của nỗi đau:

Rồi mai đây giã từ từng nỗi chết
Ta trở về đứng giữa tang thương

Anh là một người trong số những người may mắn trở về từ cõi chết đang đứng lặng, hoài niệm chiếc cầu; hoài niệm đường xưa lối cũ:

Quê hương đó những chiếc cầu đã gãy
Còn mong chi nối lại những con đường

Cảnh tang thương trước mắt đã khiến lòng anh buốt giá và anh đã không nén được tiếng kêu:

Còn ai đó những người thân yêu cũ
Thắp dùm ta một chút nắng trong hồn

Hoài niệm hình bóng người thân; hoài niệm người em gái một thời mơ  mộng với câu hỏi mà chẳng có câu trả lời:

Em còn đó hay muôn đời đã ngủ

Để rồi cất tiếng than:

Ôi một thời hoa bướm Hạnh Hoa thôn.

Tôi nghĩ phải chăng khi đó anh đang nhớ đến người xưa (có thể là  người đẹp Thiếu Hoa ở thôn Hạnh Hoa ngày ấy).
Và cái tang thương của Quảng Trị sau cuộc chiến mùa hè năm 1972 được anh vẽ lên bằng những nét vẽ mà tôi nghĩ đó là nét vẽ bằng máu khi nhìn quê hương não lòng đến dòng sông cũng “u uẩn”:

Màu đào ai đã chảy về Cửa Việt?
Mà xương khô còn gởi núi Ba Lòng?

Ôi! Không có cái nhức nhối nào bằng cái nhức nhối này. Người ra đi biền biệt và người đã chết như thế đấy! Vậy thì hỏi quê hương còn lại gì ngoài tang tóc, đớn đau. Những cảnh thanh bình ngày nào đâu rồi? Đâu rồi khói lam chiều từ mái tranh trong ánh chiều buông? Đâu rồi mục đồng với đàn trâu trên đồng ruộng? Bức tranh đồng nội nên thơ của một vùng quê hiền lành ấy bây giờ đã bị khai quang, bạch hóa đến nỗi khi nghe bản nhạc Bà Mẹ Gio Linh anh đã phải thốt lên:

Phạm Duy ơi! Giọng hát Thái Thanh buồn.

Và khi về lại Quảng Trị thì những người sống sót như thế nào. Đó là trại định cư với môi trường khắc nghiệt: bụi đường đất đỏ, giếng nước chua phèn. Và con người nơi đó đang dở sống dở chết với những cảnh đời:

Từng bữa cơm người ăn khoai cả vỏ

Cho nên:

Trẻ em gầy tuổi nhỏ cũng già nua

Hỏi có bức tranh nào đau thương bằng bức tranh của quê hương Quảng Trị? Một địa danh đã phải hứng chịu bao nhiêu tổn thất trong chiến tranh. Một vùng quê trù phú ngày nào giờ đã “mỏi mệt yên nằm” vì mưa bom lửa đạn. Nỗi lòng của anh trải dài theo nỗi đau của quê hương, “vọng về muôn ngã” qua từng địa danh: Đông Hà, Ngô Xá, Đạo Đầu, Bích La, Bồ Bản, … Và nỗi đau của người thầy giáo trong anh đọng lại với câu hỏi:

Trời mùa thu sao vắng trẻ đến trường?

Song, từ cái đau thương ấy, tự trong sâu thẳm tâm hồn anh vẫn còn chút ký ức hoa mộng một thời:

Ơi Đại Lộc một lần ta qua đó
Để muôn đời còn nhớ mãi Xuân Ba

Và rồi anh mơ :

Cho tôi ngủ bên dòng sông tuổi nhỏ
Thuở thanh bình vang vọng tiếng chim ca.

Vâng! Và bây giờ thì anh đã ngủ yên rồi và tôi tin rằng tiếng chim ca đã ru giấc ngàn thu cho anh như mơ ước.
Tôi là nhân chứng một thời tại quê hương Quảng Trị, nay đọc lại bài thơ Khi về Quảng Trị của Phan Phụng Thạch, một bài thơ gợi nhớ làm sao mà tôi không xúc động cho được? Đọc thơ anh, tôi tưởng chừng như chính mình là người trở về trong bài thơ vậy.
Có lẽ đây là một trong những vần thơ cuối cùng mà anh để lại cho đời, nó như là một lời báo trước sự ra đi của anh để trở về ngủ mãi bên dòng sông tuổi nhỏ.
Xin cảm ơn Phan Phụng Thạch – người đồng nghiệp quá cố. Tuy anh đã xa lìa cõi thế trên 40 năm rồi nhưng người thân, bạn hữu, học trò của anh và người Quảng Trị vẫn mãi nhớ đến anh với những vần thơ để đời.

                                                      Đà Nẵng, 01/12/2014
                                                         Hồ Ngọc Thanh
(Nguyên Tổng giám thị trường TH Nguyễn Hoàng Quảng Trị)

READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ "KHI VỀ QUẢNG TRỊ" - Hồ Ngọc Thanh