Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hà Thạch Hãn. Show all posts
Showing posts with label Hà Thạch Hãn. Show all posts

Friday, November 25, 2011

HÀ THẠCH HÃN - ĐỜI CÔ TÔI


Cứ bị cuốn vào dòng trôi của cuộc sống nơi phương xa, mãi đến một hôm hội ngộ lớp bạn bè ấu thời, ước muốn tìm gặp lại cô giáo cũ trong tôi mới trỗi dậy mạnh mẽ.
Nhưng soi lại ký ức, lục tung hồ sơ, sổ sách liên quan… chúng tôi cũng chỉ biết chung chung quê cô ở Quảng Bình.
Cho đến một ngày thằng bạn giờ đã là bác sĩ bỗng hét toáng lên: “Tìm ra cô Tiu rồi, cô Phan Thị Tiu ở Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình…”.


CHÙM VẢI THỜI ĐÓI NGHÈO

Gần 30 năm qua, mỗi lần chợt nhớ đến cô là hình ảnh chùm vải thiều lại hiện lên trong tâm trí tôi với một câu hỏi đeo đẳng. Giờ đây gặp lại cô, câu hỏi ấy dường như càng thôi thúc hơn: “Tại sao lúc ấy đói kém như thế, tại sao ở Quảng Trị không có vải mà cô lại có được chùm vải để minh họa cho bài học trên lớp?”.

Cô vẫn cười hiền lành: “Nói thật lúc ấy rất khó khăn, khó lắm, nhưng nghĩ mãi: chẳng lẽ học về trái vải mà HS chưa bao giờ thấy vải thì làm sao cảm nhận được. Thế là cô lấy ra vài đồng dành dụm gửi người đi chợ trong Huế mua về để bài giảng thêm sống động”.
Quả là chùm vải hôm ấy đối với lũ trẻ chúng tôi hết sức “trực quan sinh động”, nhờ thế mà những bài giảng của cô luôn có một sức hút kỳ lạ. Không những thế, cô còn dạy chúng tôi nhiều kỹ năng khác, từ may vá, thêu thùa, đơm nút… cho đến làm thơ! Những câu thơ thô vụng ngày nào như Lớp em là lớp 5A. Học hành tấn tới mới là trò ngoan đã nâng bước tâm hồn cho bao lớp bạn bè tôi, giúp họ biết sống đẹp trong và hồn hậu nơi chân trời góc bể.

Ngày ấy nghèo, rất nghèo nhưng cái tình thầy trò luôn thấm đẫm và gần gũi. Sau năm 1975, cha tôi mất, từ miền Nam trở về quê (Quảng Trị), mẹ tôi một nách bốn đứa con thơ trong bối cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn, gia đình tôi dường như túng bấn đến cùng cực.

Tôi một buổi chăn trâu, một buổi đến trường với bộ quần áo tận dụng từ vải bao cát, chiếc cặp táp chỉ đơn sơ là túi lác, vở viết qua một lần phải ngâm nước cơm phơi khô viết lại (thường bị nhòe nhoẹt), rồi mực viết cũng phải “chế biến” từ hạt mồng tơi… Cơm không đủ ăn, các anh em tôi phải thay nhau chăn trâu cho hợp tác xã mà vẫn cứ đói. Đói đến độ phải thường xuyên ăn cháo rau (các loại rau tập tàng ở vườn nhà, một ít khoai và chỉ nhúm gạo), khoai sắn, thậm chí phải ăn cả cám, gốc chuối, gốc đu đủ… thay cơm. Ngày nào chủ nợ cũng rậm rịch và eo éo đòi nợ bên hiên nhà.

Trong tình cảnh ấy, một đêm mẹ tôi ôm tôi vào lòng rưng rức: “Mẹ tiếc là đã không thực hiện được lời hứa với cha con lúc sinh thời. Đến nước này rồi, con phải nghỉ học để đỡ đần thêm với các anh chị, mẹ xót xa lắm…”. Đứa trẻ 9 tuổi chỉ biết gạt nước mắt từ bỏ giấc mơ trở thành kỹ sư, xa bạn bè, thầy cô… nhận lấy con trâu của hợp tác xã – chính thức trở thành mục đồng chuyên nghiệp để có thêm 4 ang lúa (khoảng 17 kg/ang) mỗi vụ.

Nhưng rồi một đêm khi biết chuyện, cô Tiu đã đến tận nhà tôi động viên, thuyết phục mẹ cho tôi trở lại trường. “Nếu không có gạo ăn, cô và giáo viên trong trường sẽ góp vào nuôi em, chị đừng lo…” – cô Tiu tự tin nói. Không đứng vững nổi trước lời thuyết phục tha thiết của cô, mẹ tôi không cầm được nước mắt, đành gật đầu. Riêng tôi vui sướng đến nghẹn ngào vì đã được trở lại trường lớp với thầy cô và bạn bè thân yêu của mình.

Tôi may mắn được học cô Tiu liên tục đến ba năm, từ lớp 3 đến lớp 5. Trong ký ức của mình tôi vẫn nhớ về ngôi trường nhỏ bé – nơi mà nhiều giáo viên, trong đó có cô – được lũ trẻ chúng tôi xem như một người mẹ thứ hai. Cô tỉ mẩn đơm lại từng chiếc nút bị đứt cho đứa này, cẩn thận dặn dò đứa kia nhớ mang áo ấm khi trời trở rét, lo lắng về đến tận nhà HS kèm cặp thêm mỗi khi có ai đó chưa hiểu bài…

Có lần đưa chúng tôi đi thi HS giỏi ở tận thị trấn huyện lỵ, cô trò cơm đùm cơm nắm đi bộ đến 12km, mệt đến rã rời. Biết vậy nên chốc chốc cô lại dừng chân lấy nước cho chúng tôi uống, động viên chúng tôi cố bước lên phía trước… Đêm trước ngày thi, cô trò phải vào nhà dân xin ngủ nhờ. Ba cô trò một giường và khi say giấc, bạn N. còn vô tư quờ tay sờ tí cô như vẫn quen với mẹ (!).


HÒN ĐÁ LĂN HOÀI, KHÔNG ĐÓNG RÊU…

Năm 1994, cô trở về quê sau đúng 20 năm đằng đẵng gắn bó với mảnh đất Quảng Trị. Về lại Hàm Ninh, Quảng Ninh (Quảng Bình) quê hương, cô vẫn tiếp tục đứng trên bục giảng, dù sau đó được cất nhắc lên hiệu phó Trường tiểu học số 1 Hàm Ninh.

“Hòn đá lăn hoài, hòn đá không đóng rêu”. Sau gần 30 năm gặp lại cô, câu ngạn ngữ ấy cứ khiến tôi day dứt, bùi ngùi… Ngày cô rời ngôi trường Hải Tân (Hải Lăng, Quảng Trị), nhiều cán bộ xã và người dân đã tiễn cô trong nước mắt. Người ta không khỏi xúc động vì cô đã để lại trọn tuổi thanh xuân cho mảnh đất này – một sự dâng hiến không chút đòi hỏi, đắn đo – và cả chạnh lòng cho nỗi chiếc bóng của thân phận.

“Hòn đá lăn hoài, hòn đá không đóng rêu”. Ra đi một bóng trở về một bóng. Phải khó khăn lắm tôi mới đặt được câu hỏi với cô về chuyện chồng con, vì vẫn không tin một nhan sắc mặn mà, một tính cách sôi nổi như cô thời trẻ lại phải chịu sự hẩm hiu của số phận. Cô cười mà ánh mắt xa xăm: “Có lẽ cái số cô nó thế…”.


CÓ BAO GIỜ CÔ ÂN HẬN VỚI CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN?

- Không, cô chưa bao giờ có suy nghĩ ấy, ngay từ ngày đầu nhận quyết định đi B vào Nam. Nếu được lựa chọn lại, cô vẫn chọn nghề giáo…
Khi tôi tìm gặp được cô cũng là lúc cô chuẩn bị nhận quyết định nghỉ hưu. Cũng may, năm 1994 từ Quảng Trị trở về cô còn lận lưng được 9 triệu đồng nhờ tăng gia… nuôi heo miệt mài trong 20 năm ở đây. Số vốn ấy cùng với sự trợ giúp của họ hàng, người thân, cô đã xây được một ngôi nhà nhỏ trên mảnh đất của người anh trai. Phía trong trang thờ, hàng chồng bằng khen, giấy khen cô vẫn còn cất giữ.

Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, trong đó có 25 năm là “chiến sĩ thi đua”, rồi nào là bằng khen dạy giỏi, bằng khen về công tác phổ cập giáo dục và cả bằng khen “giỏi việc nước, đảm việc nhà”! Và có lẽ quí giá nhất đối với cô vẫn là tấm Huân chương Kháng chiến hạng 3 do Chủ tịch nước trao tặng năm 1997, được treo trang trọng ở góc tường.

Đó là tất cả gia sản của một đời người dạy học.

Chia tay cô, đêm đã bắt đầu xuống nhanh. Nhìn ngôi nhà hai gian trống trải giữa vùng chiêm trũng mênh mang mà không khỏi ái ngại. Không hiểu cô sẽ sống ra sao với những năm tháng còn lại phải rời phấn trắng bảng đen vốn đã thành nghiệp, trong khi căn bệnh đại tràng 10 năm qua vẫn chưa buông tha cô?

Dẫu biết thời gian không bất biến, dẫu biết cái nghiệp cầm phấn vốn không so đọ thiệt hơn, được mất… nhưng sao vẫn thấy cay cay nơi khóe mắt khi chạnh nghĩ về nỗi quạnh quẽ, đơn côi khủng khiếp của một kiếp người. 

***

- Tháng 10-1974, từ Quảng Bình, cô được điều động vào Quảng Trị giảng dạy ở vùng giải phóng theo chế độ đi B (dân chính). Năm 1975, cô chuyển vào Hải Tân, huyện Hải Lăng, Quảng Trị và dạy một lèo đến 20 năm.
- Sau giải phóng, đời sống người dân nói chung hết sức cơ cực, riêng miền Trung còn cơ cực hơn. Lương giáo viên tiểu học chỉ khoảng 40 đồng/tháng, trong đó có những năm như 1979-1980, giáo viên phải thường xuyên ăn bo bo, bột mì thay cơm. Đó cũng là thời kỳ mà trong khi không ít giáo viên đã phải “nhảy” sang ngành khác thì cô vẫn đều đều ba bữa bo bo đến lớp.
- Hơn 30 năm dạy học đối với cô, dường như chỉ có cho mà không hề nhận lại gì cho mình, nếu có cũng rất ít. Đó là nét đẹp nhân văn cao cả của nghề giáo và cũng là nỗi nghiệt ngã của nghề.

(Tháng 11-2007)
Hà Thạch Hãn
READ MORE - HÀ THẠCH HÃN - ĐỜI CÔ TÔI

Wednesday, June 29, 2011

HÀ THẠCH HÃN – SỰ THẬT TRẦN TRỤI



1.C bn 7 người ráo riết chun b cho chuyến tham quan Vườn Quc gia Cát Tiên t hai tun trước. Tâm trng ai ny đu háo hc ch đi được khám phá mt di ch văn hóa, thăm thú các thm rng nguyên sinh và nht là được mc s th các loài đng vt nơi đây.

Nhưng háo hc bao nhiêu thì li tht vng by nhiêu. 20 g 15, c bn được xe ô tô đưa đi xem thú, cách khu nhà ngh chng 10 km. Thú tht, trong thâm tâm ai cũng nghĩ rng đy là mt bình nguyên rng phong phú v chng loài và đa dng v mt sinh hc như nhng khu bo tn Nam Phi mà ti vi thường phát. Thế nhưng trái vi nhng gì người ta mường tượng, nơi chúng tôi xem thú ch là nhng trng c thưa tht bóng cây và không mt tiếng chim kêu hay vượn hót.

Tuy vy, ai cũng căng mt dõi theo ánh đèn pha t tay anh nhân viên kim lâm liên tc quét vào rng. Và, thi thong theo ánh đèn y mi thy t xa hin ra 1-2 đm xanh mà nhân viên kim lâm cho là mt nai hay mt chn(!). Ha hon lm mi nhn ra mt vài dáng nai m o lng thng nơi xa tít. Và… chm hết!

Anh bn đi cùng không giu được ni tht vng: Vy mà gi là xem thú sao?! Ngi ngùng, tôi phi ra du cho anh ngưng…phát biu cm tưởng vì s làm nhân viên kim lâm hướng dn pht lòng.

2. Sáng hôm sau, chúng tôi được đi tham quan Trung tâm cu h linh trưởng Đo Tiên, cách đó khong 15 phút đi xung. Tht bt ng khi được biết nơi đây đang có đến 6 tình nguyn viên người nước ngoài sang h tr trung tâm v chuyên môn và trc tiếp chăm sóc thú. Đáng trân trng hơn, h tình nguyn sang Vit Nam phc v không lương trong khong 1-2 năm vi mi chi tiêu đu t tin túi ca mình.

Vy mà h tn tâm chăm sóc thú đến kinh ngc. Lúc chúng tôi đến, đang có 3 n tình nguyn viên mit mài c ra chung tri còn sch hơn c nhà ca mình. Và, khi mt người trong nhóm chúng tôi rón rén đến gn chung vượn đ quan sát thì lin b n tình nguyn viên này yêu cu ri khi đó ngay bng mt ging Vit lơ l: Xin li, không được đến gn vì làm vượn s!

3. Trưa cùng ngày, chúng tôi ri Cát Tiên và trên đường ra đã ghé li mt quán ăn gn đó đ lót d trước khi tr v Sài Gòn. Va ngi vào bàn chng 2 phút, anh bn đi cùng cht ra hiu, ch tr và hướng s chú ý ca mi người v phía nhà bếp… Tht khng khiếp, bên dưới gian bếp ca quán ăn đang treo lng lng mt con voc chà vá (có tên trong sách đ) va b phanh thân m bng toang hoác, trong khi mt con vt vn trn trng như chưa thôi kinh ngc vì s man ác ca loài người.

Bàng hoàng đến thn th!

Trên đường v, hình nh v con voc c đeo đng mãi trong tâm trí tôi vi nhng câu hi day dt: Ti sao nhng cô gái nước ngoài kia li yêu thương đng vt hoang dã đến thế, trong khi chúng ta vn luôn săn tìm và tn dit chúng đ phc v cho ni thèm ăn ca mình và ai đó? Bao gi người dân mình mi nhn thc và hành đng đúng mc đ hn chế nhng tác đng ca biến đi khí hu? Làm sao đ khái nim “đưa trái đt v vườn nhà” gn gũi vi tt c mi người? Phi chăng ý thc v môi trường ca dân ta kém hơn dân Tây?

Nhng câu hi y đến nay vn chưa có li đáp…


Nguồn: hathachhan.wordpress.com

READ MORE - HÀ THẠCH HÃN – SỰ THẬT TRẦN TRỤI

Monday, June 13, 2011

HÀ THẠCH HÃN - TẢN MẠN VỀ ỚT


Những ngày rong ruổi ở miền Trung, đi đến đâu cũng thấy sự hiện diện của ớt, lúc nào cũng cảm nhận được hương vị nồng nã của ớt.

Lại nhớ một thời ấu thơ bần hàn gắn chặt với cái thứ cay nồng da diết ấy. Nào là ớt kho, ớt bột; rồi nào là ớt ướp, ớt hấp dầm nước mắm… Chao ôi, cả một thế giới ớt trong bữa ăn người túng khó.

Cây ớt ở quê tôi thường được trồng vào những tháng cận Tết, khi mưa phùn lất phất bay và cơn gió se se lạnh ùa về. Đấy là một loại ớt rất đặc trưng miền Trung: trái thon dài, không quá cay mà lại thơm nồng mãi trong ký ức. Ớt được trồng khắp mọi nơi, ngoài đồng, trồng trên bờ đê, trong vườn và cả bên thềm nhà…

Một bữa ớt chưa kịp ra trái, mẹ đưa tôi 5 hào sang nhà mụ Viên mua về cả nắm. Thế rồi, bữa cơm bỗng trở nên nồng ấm khác thường: rau sống, rau luộc cắn kèm với miếng ớt mà ngon đến lạ lùng. Những ngày đói kém, không có món ăn nào khác trên mâm cơm, ớt trở thành thứ gia vị duy nhất đánh lừa được đầu lưỡi, kích thích người ta đưa cơm vào miệng. Trong hoàn cảnh ấy, nếu không có ớt, miếng cơm trở nên nhạt nhẽo và vô duyên tệ.

Và rồi, ăn ớt đến mức nghiện. Thiếu ớt lại thấy trống vắng, quay quắt. Thậm chí, ăn mãi mà tăng đô đến độ như cô giáo tôi, chỉ ăn toàn hạt ! Cũng chính vì thế mà sau này, khi đã bị căn bệnh dạ dày hành hạ hàng ngày, cô vẫn nhất quyết không từ bỏ ớt (Nếu có Lam Điền, hắn sẽ ứng khẩu ngay rằng: Ăn ớt thì ăn cho mau/Nếu mà ăn chậm thì đau…dạ dạy ! Hehe).

Ớt đã trở thành hương hồn hương tuý và lưu trú vào tâm thức người làng tôi một góc vững bền, thâm căn cố đế.

Nhưng trong vô số những thực đơn về ớt, nổi tiếng nhất ở làng tôi vẫn là món ớt ướp. Khi ớt chín đến, người ta sẽ hái về đem bỏ vào cối đâm dập, rồi phơi sương cho heo héo trước khi bỏ vào hũ ngâm muối. Đặc biệt ngoài nguyên liệu chính là ớt, người làng còn cho thêm vào đó một ít tỏi và măng nhánh. Khoảng 3-4 ngày sau là có thể đem ra ăn được, khi ấy chỉ mới mở nắp hũ thôi là đã nghe thơm lừng, nồng cay ngào ngạt.

Ớt ướp quê tôi nổi danh đến độ, có cả một dự án sản xuất ớt ướp để xuất khẩu sang tận Đài Loan ! Chỉ tiếc số người Việt viễn xứ không nhiều và cũng không mấy người ăn được ớt nên dự án này không thể mở rộng, phát triển mạnh mẽ như mọi người kỳ vọng.

Bây giờ, dù đã 27 năm đằng đẵng xa quê, nhưng hồi ức về ớt vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng trong tôi. Thi thoảng, chị Kim Em hay Đăng Nam (Văn phòng Đà Nẵng) vẫn gửi biếu vài kg để dành ăn dần cho đỡ thèm nhớ, đành rằng ớt ở hai vùng ít nhiều khác biệt.

Một buổi chiều cùng mấy thằng bạn xa xứ lai rai trên tầng thượng chốn thị thành nhà cao cửa rộng, dõi mắt về miền Trung-nơi nghèo khó và lũ lụt triền miên mà chợt thấy cay cay nơi sống mũi, dù không ăn một miếng ớt nào.

Quê ơi !

Tháng 4-2007

READ MORE - HÀ THẠCH HÃN - TẢN MẠN VỀ ỚT

Sunday, September 14, 2008

HÀ THẠCH HÃN - LẠC EM





Lạc em
Hà Thạch Hãn



Ta lạc em mười năm đằng đẵng

Mải đua chen nên lạc dấu tìm về

Câu thề xưa bị áo cơm đè nặng

Mười năm dài tỉnh ít nhiều mê



Ta lạc em như chim lẻ bạn

Mười năm xa côi cút một mình

Mười năm vẫn lạc loài cánh nhạn

Bầu bạn cùng chiếc bóng lặng thinh



Bao năm rồi biết em còn đợi

Trên đường đời xuôi ngược lướt qua nhau

Nghe tiếng guốc gõ vào lòng đau nhói

Nhịp thời gian bào nỗi nhớ nhạt màu



Mười năm, mười năm ái ngại

Bao đổi thay ai đó có thay lòng

Người còn đây sắc xuân giờ ở lại

Trái tim gầy còn rung động được không



Gặp lại nhau một ngày se lạnh

Hàng cây xanh còn cần bạn bên đường

Bao xa cách chỉ e lòng ráo hoảnh

Hội ngộ rồi lại lạc lối yêu thương



Th tặng LTHY










BIỂN, GIÓ VÀ CÁNH BUỒM



Tự bao đời

Biển sinh ra để khát gió

Khát cánh buồm tri kỷ bên nhau



Không có gió, sóng về đâu hỡi sóng

Không có cánh buồm, biển sao có tri âm



Đừng cậy mênh mông

Nếu một mai cánh buồm vỡ tan trên sóng

Cơn gió lạc chân nơi cuối dòng

Nước thôi mặn nồng



Có gào thét bạc đầu

Biển vẫn cứ cô đơn !






BÀN TAY



Lúc rảnh rỗi hoặc cuối ngày, tôi thường dành thời gian nhìn ngắm lại bàn tay mình như một cách tự kiểm điểm: hôm nay mình đã thực hiện được việc gì và chưa thực hiện được việc gì.

Thường những lúc như thế lại hay lan man nghĩ về những hành vi và sắc độ biểu cảm của bàn tay con người.

Lúc yêu thương nhau, bàn tay thường tìm kiếm bàn tay, nâng niu, xiết chặt, quấn quít…

Thuở nhỏ, tôi thường có một thói quen rất kỳ lạ là hay ngắt hoặc cắn vào ngón tay út của những đứa bé. Bàn tay càng dễ thương,mũm mĩm càng dễ là nạn nhân của tôi. Chụp được ngón tay của đứa bé vô phước nào đó, tôi phải cắn cho đến khi nó khóc thét lên mới thôi. Người lớn cũng có thể trở thành “mồi ngon” của tôi, nhưng tất nhiên phải là người mà tôi vô cùng thương yêu.

Khi hờn dỗi, phân ly, bàn tay lại trở nên lạnh lẽo, hờ hững… Xa cách, bàn tay chợt lạc lõng, trơ trọi để rồi cứ phải nặng lòng day dứt khôn nguôi. Lúc cô quạnh, trống vắng lại thèm có một bàn tay ấm nồng trong tay hoặc một vòng ôm xiết chặt, vỗ về… Trong những khi mất phương hướng, bế tắc lại quay quắt cần một bàn tay chia sẻ, đồng cảm.

Lúc phấn khích, hứng khởi, bàn tay lại nồng nhiệt, dữ dội. Cá biệt, cũng có những bàn tay tráo trở, úp ngửa khó lường...

Ở một góc độ khác, bàn tay còn biểu trưng cho quyền thế của con người. Song, quyền năng lại như vốc cát- càng nắm chặt, cát càng vuột ra ngoài. Đấy cũng là một bài học, một triết thuyết nữa về bàn tay vốn nhiều sắc thái và đa cảm của con người, rất người.






THƠM THẢO QUÀ QUÊ



Hôm thứ hai, Thái Lộc ở văn phòng đại diện Huế gởi cho mình một hộp nấm tràm, một loại thực phẩm khá phổ biến ở miền Trung.

Hàng năm cứ vào mùa thu, sau những cơn mưa và đất trời trở nên dịu mát, nấm tràm lại nở rộ. Tôi vẫn nhớ những ngày khó nghèo ở quê, đến mùa nấm mọc mẹ vẫn hay mua về xào hoặc nấu canh với rau tập tàng hái sau vườn, dân dã mà ngon lạ. Gắp tai nấm đưa vào miệng , sau cái vị nhân nhẩn thoạt đầu, lại nghe vừa giòn vừa béo và thơm nồng ngào ngạt. Dường như cuộc đời cũng thế, "khổ tận" sẽ "cam lai", hết nắng là mưa và "hết khổ là vui vốn lẽ đời". Vả chăng, nếu không có niềm tin như thế làm sao người ta có thể sống hay đơn giản hơn, đủ can đảm để ăn món nấm tràm này ?

Qùa quê thỉnh thoảng mới có nên bèn mang xuống căn tin cơ quan cho mọi người cùng thưởng thức. Nhưng, Gia Tiến lanh chanh gắp một miếng đưa vào miệng bỗng…im bặt suốt cả bữa ăn. Xuân Trung cũng tò mò gắp một miếng rồi mặt cũng nhăn như khỉ ăn ớt (!)… Chỉ có một em gái quê ở miền Trung là khen ngon và ăn lấy ăn để.

Tất nhiên, lần đầu ăn nấm tràm quả không dễ. Nhưng đối với những người quen ăn, chính cái vị đăng đắng ấy mới có sức quyến rũ ghê gớm và không thể phai nhoà trong tâm thức, dù có tao tác xa quê tận chân trời góc bể.

Vâng, khẩu vị mỗi người thường được định hình qua nhu cầu của thể trạng và quan trọng hơn, đó là thói quen. Chính vì thế mà có những người dù không thiếu cao lương mỹ vị, dù biền biệt tha hương cầu thực nơi xa ngái vẫn quay quắt nhớ mắm kho, canh thập cẩm, dưa cà…Cô bạn tôi kể rằng, có ông anh rể tuy đã định cư ở nước ngoài hàng chục năm nhưng hễ có người trong nước sang là đều nhờ gửi cho anh một ít mắm ruốc, mặc dù để đưa cái thứ quà quê “khó chịu” ấy qua được cổng an ninh sân bay quả trần ai khoai củ !

Rõ ràng, đã là thói quen thì không dễ đổi. Sau những thay mới, bao giờ người ta cũng cần có thời gian để thích ứng, lâu dần thân thuộc và hình thành nên thói quen. Thế nhưng cũng có những thói quen kỳ diệu đến độ, bất chấp cả không gian, thời gian mà trường tồn bất tận: thói quen yêu đương như một thứ men gây nghiện. Chả thế mà không phải không có lý, người đời vẫn nhìn nhận rằng “tình cũ không rủ cũng đến” đó sao ?







NỢ EM



Ta nợ em một lời thề hẹn

Không trăm năm vàng đá đủ đầy

Không có cả một đêm trọn vẹn

Muối nhạt rồi gừng cũng thôi cay



Ta nợ em những ngày sống nhọc

Đi bên ai lòng vẫn bên này

Một đêm nằm mấy lần thầm khóc

Giấu phận buồn trong chiếc khăn tay



Ta nợ em món quà sự sống

Không oa oa không cả hình hài

Em hi vọng để rồi thất vọng

Không sinh thành ai đó với ai



Ta nợ em cả đời mắc nợ

Cả đời ngu ngơ cho ít nhận nhiều

Nhân thế rộng mà trái tim bé nhỏ

Đến bạc đầu vẫn con nợ tình yêu



HÀ THẠCH HÃN
Nguồn: 360.yahoo.blog/hathachhan
READ MORE - HÀ THẠCH HÃN - LẠC EM