Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, March 27, 2026

TỪ ẤY - Thơ Lê Kim Thượng

 

Nhà thơ Lê Kim Thượng


Từ  Ấy

 

1.

 

Em xa từ ấy đến giờ

Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây

Nhớ tà áo gió bay bay

Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…

Bàn tay mười ngón búp măng

Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời

Tóc thề che nửa lưng người

Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong

Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong

Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…

Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn

Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm

Ai làm nhung nhớ nhiều thêm

Ai làm ngây ngất con tim chung tình

Thương yêu cho hết lòng mình

Qua bao năm tháng chuyện tình không phai…

 

 

2.

 

Bây giờ nhớ lại ai ơi

Tình đầu ngày ấy, một thời chia xa

Tình đau như cắt thịt da

Ai chờ, ai đợi tình qua tít mù

Tôi đi về phía mây mù

Hình như trời héo, mùa thu ướp nồng

Tôi đi tìm nhớ tìm mong

Tôi đi nhặt nắng đem hong tơ hồng…

Cà phê giọt đắng chát lòng

Hương cô đơn cứ lòng vòng quanh ta

Bây giờ hai đứa cách xa

Nghìn trùng vạn lý phôi pha cũng đành

Xứ xa em có an lành

Có mong có nhớ như anh bên này?

Dẫu người góc biển chân mây

Trái tim vẫn cũ, vẫn đầy yêu thương…

              

 

            Nha Trang, tháng  03. 2026

                 LÊ KIM THƯỢNG

                            lekimthuongtho@gmail.com

 

READ MORE - TỪ ẤY - Thơ Lê Kim Thượng

THÀNH ĐỒ BÀN - TRẦN NHÂN TÔNG - NĂM TÂN SỬU 1301: NHỮNG GHI CHÉP ĐÓ ĐÂY - Đinh Hy

 

Ảnh từ: https://vinwonders.com/

THÀNH ĐỒ BÀN - TRẦN NHÂN TÔNG - NĂM TÂN SỬU 1301: NHỮNG GHI CHÉP ĐÓ ĐÂY

          Đình Hy


1. Thành Đồ Bàn, Chà Bàn, Vijaya.

Trong lịch sử, địa danh thành Đồ Bàn được xác nhận là kinh đô của Champa từ năm 999 đến 1471, một thành lũy cũ ở phường An Nhơn, tỉnh Gia Lai ngày nay. Theo bi ký, thành được xây dựng vào năm 988 trong triều đại vua Harivarman II.

Thành Đồ Bàn được ghi trong nhiều sách xưa nay. Ví như sách “Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng Đế”, Nxb KHXH - 2004, 2 tác giả Nguyễn Thanh Mừng – Trần Thị Huyền Trang dùng: “Đất Đồ Bàn – Vijaya, những cuộc hội ngộ lịch sử”... Cũng có sách ghi là thành Chà Bàn, “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán Triều Nguyễn. “Thành cũ Chà Bàn: ở địa phận ba thôn Nam Định, Bắc Thuận và Bả Canh về phía đông bắc huyện Tuy Viễn. Xưa là quốc đô Chiêm Thành, chu vi 30 dặm, trong thành có tháp cổ, có nghê đá, đều của người Chiêm Thành. Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc chiếm cứ thành này, nhân nền cũ xây đá ong, tiếm xưng là thành Hoàng Đế. Năm Kỷ Mùi (1799) đầu đời Trung hưng khi mới thu phục đất này, đổi tên là thành Bình Định”[1].

Từ kết quả nghiên cứu liên ngành mới đây, nhất là giải mã cổ ngữ bi ký Champa, giải mã Biên niên sử Hoàng gia Champa, cho chúng ta biết rằng: Champa là một nhà nước có tính liên bang hơn là trung ương tập quyền, trong đó có địa danh xuất xứ từ Phạn ngữ khắc trên bi ký được hiểu là các tiểu quốc Indrapura (xứ Quảng Bình – Quảng Trị), Amaravati (Thừa Thiên - Quảng Nam), Vijaya (Quảng Ngãi - Bình Định), Kauthara (Phú Yên - Khánh Hòa), Panduranga (Ninh Thuận - Bình Thuận) [Po Dharma].

Thực tế, trong tâm thức người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, cách ghi những địa danh trên rất xa lạ, trong các thư tịch, thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ariya... không xuất hiện các địa danh này. Ngay cả Kauthara, Panduranga là địa bàn mật thiết với Phan Rang, họ cũng mới thông thuộc gần đây qua các công trình nghiên cứu cổ ngữ Chăm, sử học, kiến trúc tháp, thậm chí qua ca khúc “Miền đất Panduranga” của nhạc sĩ Amư Nhân, huống chi Vijaya, lại càng không rõ lắm, chỉ biết sơ lược Đồ Bàn qua sử sách, qua các bài hát, bài thơ nổi tiếng...

Trong bài “Biên niên sử Champa” (Sakkarai Dak Rai Patao), PGS.TS Po Dharma viết: Các danh xưng của vua chúa trong Sakkarai Dak Rai Patao đều khởi đầu bằng cụm từ “Po”, như Po Romé, Po Klaong Haluw, v.v. chứ không phải khởi đầu bằng cụm từ “Jaya, Sri” như Jaya Indravarman, Sri Sinhavarman, v.v. được sử dụng bởi các vua chúa liên bang Champa đóng đô ở Vijaya. Thêm vào đó, người ta chưa bao giờ tìm thấy một bản văn nào viết bằng Akhar Thrah Chăm phát xuất từ khu vực Panduranga lại nhắc đến một số kỷ niệm xa xưa ở khu vực Champa miền bắc (từ Bình Định cho đến Quảng Bình), ngoại trừ vài danh từ địa phương như Huê (tức là Huế), Mbin Ngai (tức là Quảng Ngãi), v. v., vì rằng các địa danh này chỉ xuất hiện trong văn chương Chăm vào thời Nguyễn mà thôi”.

Bằng chứng là trong những cuốn Từ điển tiếng Chăm lần lượt xuất bản suốt chiều dài lịch sử, không kể Từ điển do E. Aymonier, A. Cabaton biên soạn đầu thế kỷ XX, chỉ tính Từ điển Chàm – Việt – Pháp, Trung tâm Văn hóa Chàm – 1971; Từ điển Chăm - Việt, 1985, Từ điển Việt – Chăm, 1986 do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á thuộc Đại học KHXH và Nhân văn TP Hồ Chí Minh biên soạn, chưa thấy ghi Đồ Bàn, Vijaya. Mục từ Vijaya chỉ mới đưa vào Từ điển năm 2014, 2020 do cập nhật theo thành quả nghiên cứu đã nêu: “Vijaya: có nghĩa là “chiến thắng”, một địa danh ở Ấn Độ, Chăm lấy đặt tên cho vùng Bình Định”[2] hoặc như sách “Lịch sử các tháp Chăm” có kê 5 tiểu quốc cũng là cập nhập kết quả nghiên cứu[3].

Năm Tân Sửu - 1301 vua Trần Nhân Tông vào Champa.

Bối cảnh trước năm 1301.

Nhà Trần đã 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược. Lần thứ 1 năm 1258, riêng đời vua Trần Nhân Tông đã cùng tướng sĩ và nhân dân Đại Việt kháng chiến thành công lần thứ 2 - 1285 và lần thứ 3 - 1288.

Trong thời gian này có sự kiện liên minh giữa Đại Việt và Champa chống lại sự xâm lăng của Nguyên Mông. Năm 1285, trước sự uy hiếp của tướng Ô Mã Nhi, nhưng Đại Việt vẫn không cho quân Nguyên Mông mượn đường sang đánh Champa. Đại Việt sử ký toàn thư ghi cuộc đối đáp giữa Trần Khắc Chung và Ô Mã Nhi, có đoạn: “Ô Mã Nhi nói: Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc vương ngươi nếu đến hội quân thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may. Nếu cứ chấp nê thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát”, (trong bài này dùng Đại Việt sử ký toàn thư, Viện KHXH dịch, Nxb KHXH – Hà Nội, 1993).

Trong cuộc chiến ở Champa chống Nguyên Mông, năm 1283, Hoàng thái tử Harijit (sau trở thành vua Chế Mân) tham gia chỉ huy kháng chiến tại Thị Nại chống giặc do Toa Đô cầm đầu.

Đối với Trần Nhân Tông, năm 1293 ông nhường ngôi cho con làm vua hiệu là Trần Anh Tông, lên làm Thượng hoàng, sau đó vân du đó đây và xuất gia tu Phật.

          Có một sự kiện đáng suy nghĩ: đó là năm 1294, dù Thượng hoàng đã xuất gia, nhưng vẫn cầm quân chinh phạt Ai Lao, vì trong khi giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta ở mặt đông, thì mặt tây Ai Lao cho quân sang cướp phá, giết chóc nhân dân ta. Việc này Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao, bắt được người và súc vật nhiều không kể xiết”, chứng tỏ Thượng hoàng “xuất gia” nhưng không từ bỏ mọi sự mà vẫn còn tham gia chính sự, quốc phòng...

Tình hình còn cho thấy sau thất bại lần thứ 3 – 1288, quân tướng Nguyên Mông tan tác trở về nhưng thừa lệnh vẫn chuẩn bị cho cuộc xâm lược tiếp theo. Năm 1293, vua Nguyên cho củng cố An Nam hành tỉnh ở Giang Lăng, đóng quân ở Tĩnh Giang, Quảng Tây, bắt giữ sứ thần nhà Trần. Nguy cơ Đại Việt và cả Champa bị Nguyên Mông xâm lược vẫn hiện hữu.

Trong năm 1301.

Năm Tân Sửu - 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi thăm thú vùng phương Nam Đại Việt và đi vào đất Chiêm, 9 tháng sau mới trở về. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Tháng 2, Chiêm Thành sang cống. Tháng 3, Thượng hoàng vân du các nơi, sang Chiêm Thành”, “ Mùa đông, tháng 11, Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về”.

Tính ra trong thời gian 9 tháng ở Champa, chắc chắn Trần Nhân Tông đã thực hiện những công việc trọng đại, nhưng Đại Việt sử ký chỉ ghi sơ lược như thế. Điểm này theo Hoàng Quốc Hải viết năm 2011, thì: Tôi không tin những điều đã chép ấy là sự thật lịch sử, mà tôi ngờ rằng các nhà chép sử cố ý làm mờ nhòe sự thật để giảm bớt tầm quan trọng của sự việc vì một lý do tế nhị nào đấy. Tuy nhiên trong hơn 700 năm qua vấn đề này đã không được hậu thế lý giải cho minh bạch, khiến đời sau cứ tin đó là sự thật lịch sử”. [nguồn: Văn hóa Nghệ An, Sở Văn hóa Thể thao Nghệ An, 26/11/2011] (Hoàng Quốc Hải là tác giả tiểu thuyết lịch sử “Huyền Trân công chúa”, Nxb Thuận Hóa, 1988).

Chúng tôi thì không cho là như thế, vì rằng cũng có khả năng, Thượng hoàng tuyệt đối không cho biết những công việc của mình khi vào xứ người, không tiết lộ ghi chép về kinh đô Champa, là thượng khách, chắc chắn Thượng hoàng ở rất lâu ở kinh đô Đồ Bàn, lại không hề để lại sáng tác thơ về xứ sở Champa như đã từng sáng tác ở đất Việt... nên sử gia không thể ghi lại cụ thể. Về sáng tác thơ cũng là chuyện lạ, Trần Nhân Tông thường sáng tác nhiều thơ khi có dịp, khi tức cảnh:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu”.

Khi xướng họa, khi tiếp sứ, kể cả khi đi đánh giặc Ai Lao cũng viết bài thơ “Chinh Tây đạo trung”, vậy mà không hề lưu lại một bài nào về Champa. Toàn bộ chuyến đi 9 tháng ấy sử gia chỉ biết và ghi chép mỗi điều: “Bính Ngọ - 1306... Mùa hạ, tháng 6 gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Trước đây Thượng hoàng vân du sang Chiêm Thành, đã hứa gả rồi. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm thơ, từ bằng quốc ngữ để châm biếm việc đó”.

Và chúng ta đã biết, cuộc hôn nhân này là sự kiện mang tính củng cố bang giao liên minh 2 nước, “gieo hạt hòa bình” (từ của nữ Nhà văn Kim Hòa, Phan Rang).

Ngoại truyện: ở một số sách tác giả người Việt, người Chăm đương đại, thi thoảng có viết một số chi tiết liên quan Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308), liên quan vua Chế Mân (1260 – 1307), công chúa Huyền Trân (1287 – 1340) vào xứ sở Champa làm Hoàng hậu.

Ví dụ có sách ghi: “Vĩnh Hảo: Craoh Aia Ju, (suối, Chăm, Việt, Bình Thuận). Địa danh thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận có gốc Chăm là Craoh Aia Ju (Craoh: suối, Aia: nước, Ju: sôi, trào). Vĩnh Hảo là địa danh người Việt không có liên quan gì đến nguồn gốc địa danh Chăm. Bản chất nước suối Vĩnh Hảo là loại nước khoáng nóng có Natri Cacbonat, một mỏ khoáng quý hiếm nhất Đông Nam Á được người Chăm phát hiện đầu tiên. Tương truyền rằng, nước này rất mầu nhiệm dùng để chữa bệnh ghẻ ngứa và cũng là loại nước dùng để tắm tượng thần ở các đền tháp trước khi dâng lễ vật cúng tế thần. Lịch sử ghi nhận năm 1292 (đúng ra là năm 1301, ĐHy chú), sau khi thắng giặc Nguyên – Mông, để thể hiện tình đoàn kết, giao lưu, vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293), (đúng ra là 1258 – 1308, ĐHy chú) đã ghé thăm Champa được vua Chế Mân đưa đi thăm danh lam thắng cảnh Cà Ná và suối Vĩnh Hảo. Mùa hạ năm Bính Ngọ (1306), Chế Mân, một lần nữa cũng đưa Huyền Trân công chúa đến nơi đây để thưởng ngoạn”[4].

Văn nghệ Tuy Phong, Phan Chính viết: “Dòng suối Vĩnh Hảo chảy từ hang động ra, với nguồn muối khoáng có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Từ năm 1928 người Pháp đã khai thác, trở thành thương phẩm nổi tiếng cả nước cho đến sau này. Lưu truyền đây cũng là nơi nghỉ dưỡng cho hoàng tộc của Vương quốc Champa và có vườn mai uyển của Chế Mân để thêm phần thơ mộng với Vương hậu 2 Huyền Trân đến đây tận hưởng”[5].

Trần Huiền Ân viết: “Có lẽ bà hoàng hậu thứ ba (Huyền Trân) rất được Chế Mân sủng ái đã đưa đi thưởng ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh, mong muốn sự tốt đẹp bền vững gửi gắm vào tên suối nước nóng Vĩnh Hảo (Tuy Phong – Bình Thuận)”[6].

Đương nhiên đây là dựa vào những mẩu chuyện truyền khẩu, xem như truyền thuyết kể rằng... chứ không có tài liệu lịch sử xác nhận. Xin cung cấp thêm thông tin: Chế Mân (Jaya Simhavarman III) trị vì năm 1288 đến 1307, là vị vua Liên bang Champa, kinh đô ở Vijaya (Bình Định), trong khi đó đối chiếu theo Biên niên sử Hoàng gia Champa (Sakkarai Dak Rai Patao) ở tiểu quốc Panduranga (Ninh Thuận – Bình Thuận) vua Po Dobatasuar đang trị vì (1269 - 1294 hay 1281 – 1306 tùy theo dị bản Biên niên sử), là vị vua thứ 8 ghi trong Biên niên sử. Vua lên ngôi năm Tỵ, thoái vị năm Ngọ, trị vì 26 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu) [Po Dharma]. Quả thật Chế Mân, vị vua Liên bang Champa (Raja di raja: tức là vua của vua) đưa Thượng hoàng hoặc công chúa đến vùng Cà Ná, Vĩnh Hảo nhưng không hề thấy Biên niên sử ghi Po/ vua tiểu quốc Panduranga phục vụ như thế nào, nếu có ghi thì quá tốt. Đưa vấn đề này ra để chúng ta suy nghĩ...

Chúng ta còn biết bao câu chuyện văn hóa dân gian, kiến trúc đền tháp nổi tiếng vùng Đồ Bàn... nhưng rõ ràng năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến và ở lại kinh thành Đồ Bàn – Vijaya, giao hảo với vua Chế Mân và triều đình Champa. Sự kiện một vị Thượng hoàng Đại Việt vào Champa suốt 9 tháng chắc chắn không phải vân du, thưởng ngoạn, không phải vì “Phật sự” khi ông đã xuất gia, cũng không phải ý định gả con gái... mà ẩn chứa một sự thật lớn lao vì vận mệnh 2 dân tộc, 2 đất nước Đại Việt, Champa. Hy vọng giới sử học sẽ giải mã...

 


Tài liệu tham khảo:

- Đại Nam nhất thống chí (2006), tập 3, Nxb Thuận Hóa.

- Lương Ninh: Lịch sử Vương quốc Champa, (2004), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Ngô Văn Doanh: Tháp cổ Chămpa: sự thật và huyền thoại, (1994), Nxb Văn hóa Thông tin.

- Trần Kỳ Phương: Góp phần nghiên cứu văn minh và nghệ thuật của Vương quốc cổ Champa tại miền Trung Việt Nam, (2019), Nxb Hội Nhà văn.

- Nguyễn Thanh Mừng – Trần Thị Huyền Trang: Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng Đế (2004), Nxb KHXH.

- Trần Huiền Ân: Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai (2025), Nxb Hội Nhà văn.

- Sakaya và nhóm cộng tác: Từ điển Chăm – Việt - Anh (2014), Nxb Tri thức.

- Sakaya và nhóm cộng tác: Từ diển Địa danh đối chiếu Việt – các dân tộc thiểu số... (2020), Nxb Tri thức.

- Key Chong: Lịch sử các tháp Chăm tại Panduranga (2023), Nxb Hội Nhà văn.

- Văn nghệ Tuy Phong số Xuân Ất Tỵ - 2025, Nxb Hội Nhà văn.

(Bài đã đăng tạp chí Xưa & Nay)

 

Chú thích:

[1] Đại Nam nhất thống chí (2006), tập 3, Nxb Thuận Hóa, trang 43, 44.

[2] Sakaya và nhóm cộng tác: Từ điển Chăm – Việt - Anh (2014), Nxb Tri thức, trang 765. Từ diển Địa danh đối chiếu Việt – các dân tộc thiểu số... (2020), Nxb Tri thức cũng giải thích như thế.

[3] Key Chong: Lịch sử các tháp Chăm tại Panduranga (2023), Nxb Hội Nhà văn, trang 5, 6.

[4] Sakaya và nhóm cộng tác: Từ diển Địa danh đối chiếu Việt – các dân tộc thiểu số... (2020), Nxb Tri thức, trang 157.

[5] Phan Chính: Ngày ấy, người Chăm trên đất Tuy Phong, Văn nghệ Tuy Phong số Xuân Ất Tỵ - 2025, Nxb Hội Nhà văn, trang 30.

[6] Trần Huiền Ân: Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai (2025), Nxb Hội Nhà văn, trang 270.


From:

Dinh Hy <dinhhy_nt@yahoo.com.vn>

 

READ MORE - THÀNH ĐỒ BÀN - TRẦN NHÂN TÔNG - NĂM TÂN SỬU 1301: NHỮNG GHI CHÉP ĐÓ ĐÂY - Đinh Hy

HƯƠNG QUÊ TRONG TIM - Trần Thị Lan Anh


Tác giả Trần Thị Lan Anh



Hương Quê Trong Tim

Tác giả: Trần Thị Lan Anh (Aschaffenburg, Germany)
Bản quyền © 2026 – Mọi quyền được bảo lưu


Có những điều trong đời tưởng như đã lùi rất xa, nhưng thực ra lại chưa bao giờ rời khỏi ta. Quê hương là một điều như thế. Dẫu có đi qua bao nhiêu miền đất, trải nghiệm bao nhiêu điều mới lạ, thì trong sâu thẳm trái tim, hình ảnh mái ngói xưa phủ rêu xanh vẫn âm thầm hiện diện, như một góc bình yên không thể thay thế.

Tôi nhớ những buổi chiều quê, khi ánh nắng không còn gay gắt mà trở nên dịu dàng, lan tỏa khắp không gian như một tấm lụa vàng mỏng. Ánh nắng ấy vương trên mái nhà, trên lối nhỏ, trên những tán cây quen thuộc, và len lỏi vào cả những ký ức tưởng đã ngủ quên. Chỉ cần nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể cảm nhận được cái ấm áp nhẹ nhàng ấy, như đang đứng giữa sân nhà năm nào.

Gió đồng quê mang một mùi hương rất riêng — mùi lúa chín. Đó không chỉ là mùi của đất trời, mà còn là mùi của công sức, của những mùa vụ nối tiếp, của niềm hy vọng và sự bình yên. Mỗi lần cơn gió thoảng qua, mang theo hương lúa ngọt lành, tôi như được ru vào một giấc mơ êm đềm. Cái mát lành ấy không chỉ chạm vào da thịt, mà còn thấm sâu vào tâm hồn, khiến lòng người trở nên nhẹ nhõm và dịu lại.

Trong ký ức tôi, hàng tre vẫn luôn đứng đó, nghiêng mình bên hồ nước lặng. Bóng tre đổ xuống mặt nước, tạo nên một bức tranh vừa quen thuộc vừa kỳ diệu. Mặt hồ như tấm gương trong veo, phản chiếu bầu trời xanh biếc, khiến không gian trở nên sâu thẳm và tĩnh lặng đến lạ. Những buổi trưa hè, tôi từng ngồi bên bờ hồ, lặng lẽ ngắm nhìn từng gợn sóng nhỏ, để rồi thấy lòng mình cũng dần trôi theo sự yên ả ấy.

Giữa không gian đó, những đóa sen nở rộ dưới ánh nắng, tỏa hương nhẹ nhàng mà thanh khiết. Hương sen không nồng nàn, nhưng đủ để lay động lòng người. Nó khiến tâm trí như được nâng lên, thoát khỏi những bộn bề thường nhật, để trôi vào một miền tĩnh lặng, nơi mọi lo toan dường như tan biến. Có những khoảnh khắc, tôi cảm thấy mình như lạc vào một giấc mộng, vừa thực vừa hư, vừa gần gũi vừa xa xôi.

Tiếng chim hót đâu đó vang lên, trong trẻo và rộn ràng, như gọi về những ngày tháng đã qua. Âm thanh ấy không chỉ đơn thuần là tiếng chim, mà là tiếng của ký ức, của tuổi thơ, của những buổi sáng thức dậy trong không khí trong lành và đầy sức sống. Mỗi lần nghe lại, lòng tôi lại dâng lên một nỗi xúc động khó gọi thành tên.

Con kênh nhỏ uốn quanh làng, lặng lẽ chảy qua năm tháng. Nó không chỉ dẫn nước tưới mát ruộng đồng, mà dường như còn dẫn cả những giấc mơ của con người. Nhìn dòng nước trôi, tôi thường tự hỏi mình đã để lại bao nhiêu ước mơ nơi đây, và bao nhiêu trong số đó đã theo tôi đi suốt cuộc đời.

Dẫu có đi xa đến đâu, ký ức về quê hương vẫn không bao giờ phai nhạt. Những mùi hương rất đỗi bình dị như khói rạ, rơm thơm lại có sức gợi nhớ mạnh mẽ đến kỳ lạ. Đó là mùi của những buổi chiều đốt đồng sau mùa gặt, của những ngày đông se lạnh, khi cả gia đình quây quần bên nhau. Những mùi hương ấy không chỉ tồn tại trong không khí, mà còn in sâu trong tâm trí, trở thành một phần không thể tách rời của con người.

Tôi nhớ những giàn mướp sai trĩu quả, những cây dừa reo vui theo gió. Tất cả tạo nên một bản hòa âm của thiên nhiên — nơi mỗi âm thanh, mỗi mùi hương đều góp phần làm nên nhịp đập rộn ràng của trái tim. Quê hương không chỉ là một nơi chốn, mà là một cảm giác, một phần máu thịt, một điều gì đó luôn hiện hữu trong ta, dù ta có nhận ra hay không.

Thời gian có thể trôi đi, có thể mang theo nhiều thứ, nhưng không thể xóa nhòa hình ảnh quê nhà trong tim. Những kỷ niệm ấy, dù giản dị, vẫn luôn vẹn nguyên, như một dòng chảy âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn. Và có lẽ, chính vì thế mà mỗi khi nghĩ về quê hương, lòng tôi lại chợt dâng lên một nỗi nhớ dịu dàng — một nỗi nhớ không ồn ào, nhưng đủ sâu để khiến ta mãi vấn vương.



The Fragrance of Homeland in My Heart
Author: Trần Thị Lan Anh (Aschaffenburg, Germany)
Copyright © 2026 – All rights reserved

There are things in life that seem far behind us, yet in truth, they have never left. One of those is our homeland. No matter how many places we travel, no matter how many new experiences we gather, deep within our hearts, the image of an old moss-covered roof still quietly remains—a peaceful corner that nothing can replace.

I remember the countryside afternoons, when the sunlight softens and spreads gently across the land like a thin golden silk. It lingers on rooftops, small paths, and familiar trees, seeping into memories long thought forgotten. With just a moment of stillness, I can feel that warmth again, as if I were standing in my childhood yard once more.

The rural wind carries a distinct scent—the fragrance of ripening rice. It is not only the scent of nature, but also of labor, of passing seasons, of hope and quiet contentment. Each gentle breeze, infused with that sweetness, feels like a lullaby, drawing me into a peaceful dream. Its coolness does not merely touch the skin, but soothes the soul, calming the heart in a profound way.

In my memory, rows of bamboo still stand by the tranquil pond, leaning softly as if in silent conversation with the water. Their shadows stretch across the surface, forming a scene both familiar and enchanting. The pond mirrors the vast blue sky, creating a sense of depth and serenity. On summer afternoons, I once sat by its edge, watching the ripples drift by, feeling my thoughts flow just as quietly.

Amid this stillness, lotus flowers bloom under the sun, releasing a gentle, pure fragrance. It is subtle, yet deeply moving. That scent lifts the spirit, freeing it from daily burdens, carrying it into a quiet realm where worries dissolve. At times, I feel as though I am drifting in a dream—both real and unreal, both near and distant.

Somewhere in the distance, birds sing brightly, calling me back to the past. Their songs are not merely sounds of nature, but echoes of memory—of childhood mornings filled with fresh air and vitality. Each time I hear them again, a quiet emotion rises within me, one that words can hardly express.

A small canal winds through the village, flowing silently through the years. It not only nourishes the fields, but seems to carry along the dreams of those who live there. Watching its gentle current, I often wonder how many dreams I once left behind, and how many have traveled with me ever since.

No matter how far I go, the memories of my homeland never fade. The simplest scents—like straw smoke or dried hay—can awaken the deepest nostalgia. They recall harvest evenings, cool winter days, and moments when families gathered close together. These fragrances do not merely linger in the air; they are etched into the soul, becoming an inseparable part of who we are.

I remember the heavy gourds hanging from vines, the coconut trees rustling in the wind. Together, they create a quiet symphony of nature, where every sound and scent contributes to the rhythm of the heart. Homeland is not just a place—it is a feeling, a piece of our being that remains within us, whether we realize it or not.

Time may pass and carry many things away, but it cannot erase the image of home in our hearts. These simple memories remain intact, like an endless stream nurturing the soul. And perhaps that is why, whenever I think of my homeland, a gentle longing rises within me—a quiet, enduring nostalgia that never truly fades.


***

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 

READ MORE - HƯƠNG QUÊ TRONG TIM - Trần Thị Lan Anh