 |
| Ảnh từ: https://vinwonders.com/ |
THÀNH ĐỒ BÀN - TRẦN
NHÂN TÔNG - NĂM TÂN SỬU 1301: NHỮNG GHI CHÉP ĐÓ ĐÂY
Đình Hy
1. Thành Đồ
Bàn, Chà Bàn, Vijaya.
Trong lịch sử, địa
danh thành Đồ Bàn được xác nhận là kinh đô của Champa từ năm 999 đến 1471, một
thành lũy cũ ở phường An Nhơn, tỉnh Gia Lai ngày nay. Theo bi ký, thành được
xây dựng vào năm 988 trong triều đại vua Harivarman II.
Thành Đồ Bàn được ghi trong nhiều
sách xưa nay. Ví như sách “Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng Đế”, Nxb KHXH -
2004, 2 tác giả Nguyễn Thanh Mừng – Trần Thị Huyền Trang dùng: “Đất Đồ Bàn – Vijaya, những cuộc hội ngộ
lịch sử”... Cũng có sách ghi là thành Chà Bàn,
“Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán Triều Nguyễn. “Thành cũ Chà Bàn: ở địa phận ba thôn Nam Định, Bắc Thuận và Bả Canh về
phía đông bắc huyện Tuy Viễn. Xưa là quốc đô Chiêm Thành, chu vi 30 dặm, trong
thành có tháp cổ, có nghê đá, đều của người Chiêm Thành. Tây Sơn Nguyễn Văn
Nhạc chiếm cứ thành này, nhân nền cũ xây đá ong, tiếm xưng là thành Hoàng Đế.
Năm Kỷ Mùi (1799) đầu đời Trung hưng khi mới thu phục đất này, đổi tên là thành
Bình Định”.
Từ kết quả nghiên cứu liên ngành
mới đây, nhất là giải mã cổ ngữ bi ký Champa, giải mã Biên niên sử Hoàng gia
Champa, cho chúng ta biết rằng: Champa là một nhà nước có tính liên bang hơn là
trung ương tập quyền, trong đó có địa danh xuất xứ từ Phạn ngữ khắc trên bi ký
được hiểu là các tiểu quốc Indrapura (xứ Quảng Bình – Quảng Trị), Amaravati
(Thừa Thiên - Quảng Nam), Vijaya (Quảng Ngãi - Bình Định), Kauthara (Phú Yên -
Khánh Hòa), Panduranga (Ninh Thuận - Bình Thuận) [Po Dharma].
Thực tế, trong tâm thức người
Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, cách ghi những địa danh trên rất xa lạ, trong
các thư tịch, thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ariya... không xuất hiện các
địa danh này. Ngay cả Kauthara, Panduranga là địa bàn mật thiết với Phan Rang,
họ cũng mới thông thuộc gần đây qua các công trình nghiên cứu cổ ngữ Chăm, sử
học, kiến trúc tháp, thậm chí qua ca khúc “Miền đất Panduranga” của nhạc sĩ Amư
Nhân, huống chi Vijaya, lại càng không rõ lắm, chỉ biết sơ lược Đồ Bàn qua sử
sách, qua các bài hát, bài thơ nổi tiếng...
Trong bài “Biên niên sử Champa” (Sakkarai Dak Rai Patao), PGS.TS Po Dharma viết: “Các danh xưng của vua chúa trong Sakkarai Dak Rai Patao đều khởi
đầu bằng cụm từ “Po”, như Po Romé, Po Klaong Haluw, v.v. chứ không phải khởi
đầu bằng cụm từ “Jaya, Sri” như Jaya Indravarman, Sri Sinhavarman, v.v. được sử
dụng bởi các vua chúa liên bang Champa đóng đô ở Vijaya. Thêm vào đó, người ta
chưa bao giờ tìm thấy một bản văn nào viết bằng Akhar Thrah Chăm phát xuất từ
khu vực Panduranga lại nhắc đến một số kỷ niệm xa xưa ở khu vực Champa miền bắc
(từ Bình Định cho đến Quảng Bình), ngoại trừ vài danh từ địa phương như Huê
(tức là Huế), Mbin Ngai (tức là Quảng Ngãi), v. v., vì rằng các địa danh này
chỉ xuất hiện trong văn chương Chăm vào thời Nguyễn mà thôi”.
Bằng chứng là trong những cuốn Từ
điển tiếng Chăm lần lượt xuất bản suốt chiều dài lịch sử, không kể Từ điển do
E. Aymonier, A. Cabaton biên soạn đầu thế kỷ XX, chỉ tính Từ điển Chàm – Việt –
Pháp, Trung tâm Văn hóa Chàm – 1971; Từ điển Chăm - Việt, 1985, Từ điển Việt –
Chăm, 1986 do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á thuộc Đại học KHXH và
Nhân văn TP Hồ Chí Minh biên soạn, chưa thấy ghi Đồ Bàn, Vijaya. Mục từ Vijaya
chỉ mới đưa vào Từ điển năm 2014, 2020 do cập nhật theo thành quả nghiên cứu đã
nêu: “Vijaya: có nghĩa là “chiến thắng”,
một địa danh ở Ấn Độ, Chăm lấy đặt tên cho vùng Bình Định”
hoặc như sách “Lịch sử các tháp Chăm” có kê 5 tiểu quốc cũng là cập nhập kết
quả nghiên cứu.
Năm Tân Sửu - 1301 vua Trần
Nhân Tông vào Champa.
Bối cảnh trước năm 1301.
Nhà Trần đã 3 lần đánh thắng quân
Nguyên Mông xâm lược. Lần thứ 1 năm 1258, riêng đời vua Trần Nhân Tông đã cùng
tướng sĩ và nhân dân Đại Việt kháng chiến thành công lần thứ 2 - 1285 và lần
thứ 3 - 1288.
Trong thời gian này có sự kiện liên
minh giữa Đại Việt và Champa chống lại sự xâm lăng của Nguyên Mông. Năm 1285,
trước sự uy hiếp của tướng Ô Mã Nhi, nhưng Đại Việt vẫn không cho quân Nguyên
Mông mượn đường sang đánh Champa. Đại Việt sử ký toàn thư ghi cuộc đối đáp giữa
Trần Khắc Chung và Ô Mã Nhi, có đoạn: “Ô
Mã Nhi nói: Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc vương ngươi nếu
đến hội quân thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may. Nếu cứ chấp nê
thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát”,
(trong bài này dùng Đại Việt sử ký toàn thư, Viện KHXH dịch, Nxb KHXH – Hà Nội,
1993).
Trong cuộc chiến ở Champa chống
Nguyên Mông, năm 1283, Hoàng thái tử Harijit (sau trở thành vua Chế Mân) tham
gia chỉ huy kháng chiến tại Thị Nại chống giặc do Toa Đô cầm đầu.
Đối với Trần Nhân Tông, năm 1293 ông
nhường ngôi cho con làm vua hiệu là Trần Anh Tông, lên làm Thượng hoàng, sau đó
vân du đó đây và xuất gia tu Phật.
Có một
sự kiện đáng suy nghĩ: đó là năm 1294, dù Thượng
hoàng đã xuất gia, nhưng vẫn cầm quân chinh phạt Ai Lao, vì trong khi giặc
Nguyên Mông xâm lược nước ta ở mặt đông, thì mặt tây Ai Lao cho quân sang cướp
phá, giết chóc nhân dân ta. Việc này Đại Việt
sử ký toàn thư chép: “Tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao,
bắt được người và súc vật nhiều không kể xiết”, chứng tỏ Thượng hoàng “xuất
gia” nhưng không từ bỏ mọi sự mà vẫn còn tham gia chính sự, quốc phòng...
Tình hình còn cho thấy
sau thất bại lần
thứ 3 – 1288, quân tướng Nguyên Mông tan tác trở về nhưng thừa lệnh vẫn chuẩn
bị cho cuộc xâm lược tiếp theo. Năm 1293, vua
Nguyên cho củng cố An Nam hành tỉnh ở Giang Lăng, đóng quân ở Tĩnh Giang, Quảng
Tây, bắt giữ sứ thần nhà Trần. Nguy cơ Đại Việt và cả Champa bị Nguyên Mông xâm
lược vẫn hiện hữu.
Trong năm 1301.
Năm Tân Sửu - 1301, Thượng hoàng Trần
Nhân Tông đi thăm thú vùng phương Nam Đại Việt và đi vào đất Chiêm, 9 tháng sau
mới trở về. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Tháng 2, Chiêm Thành sang cống. Tháng 3,
Thượng hoàng vân du các nơi, sang Chiêm Thành”, “ Mùa đông, tháng 11, Thượng
hoàng từ Chiêm Thành trở về”.
Tính ra trong thời gian 9 tháng ở Champa, chắc chắn
Trần Nhân Tông đã thực hiện những công việc trọng đại, nhưng Đại Việt sử ký chỉ
ghi sơ lược như thế. Điểm này theo Hoàng Quốc Hải viết năm 2011, thì: “Tôi không tin những điều đã chép ấy là sự thật
lịch sử, mà tôi ngờ rằng các nhà chép sử cố ý làm mờ nhòe sự thật để giảm bớt
tầm quan trọng của sự việc vì một lý do tế nhị nào đấy. Tuy nhiên trong hơn 700
năm qua vấn đề này đã không được hậu thế lý giải cho minh bạch, khiến đời sau
cứ tin đó là sự thật lịch sử”. [nguồn: Văn hóa Nghệ An, Sở Văn hóa Thể thao
Nghệ An, 26/11/2011] (Hoàng Quốc Hải là tác giả tiểu thuyết lịch sử “Huyền Trân
công chúa”, Nxb Thuận Hóa, 1988).
Chúng tôi thì không cho
là như thế, vì rằng cũng có khả năng, Thượng hoàng tuyệt đối không cho biết
những công việc của mình khi vào xứ người, không tiết lộ ghi chép về kinh đô
Champa, là thượng khách, chắc chắn Thượng hoàng ở rất lâu ở kinh đô Đồ Bàn, lại
không hề để lại sáng tác thơ về xứ sở Champa như đã từng sáng tác ở đất Việt...
nên sử gia không thể ghi lại cụ thể. Về sáng tác thơ cũng là chuyện lạ, Trần
Nhân Tông thường sáng tác nhiều thơ khi có dịp, khi tức cảnh:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”.
Khi xướng họa, khi tiếp
sứ, kể cả khi đi đánh giặc Ai Lao cũng viết bài thơ “Chinh Tây đạo trung”, vậy
mà không hề lưu lại một bài nào về Champa. Toàn bộ chuyến đi 9 tháng ấy sử gia
chỉ biết và ghi chép mỗi điều: “Bính Ngọ
- 1306... Mùa hạ, tháng 6 gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân.
Trước đây Thượng hoàng vân du sang Chiêm Thành, đã hứa gả rồi. Các văn sĩ trong
triều ngoài nội nhiều người mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô,
làm thơ, từ bằng quốc ngữ để châm biếm việc đó”.
Và chúng ta đã biết,
cuộc hôn nhân này là sự kiện mang tính củng cố bang giao liên minh 2 nước,
“gieo hạt hòa bình” (từ của nữ Nhà văn Kim Hòa, Phan Rang).
Ngoại truyện: ở một số
sách tác giả người Việt, người Chăm đương đại, thi thoảng có viết một số chi tiết
liên quan Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308), liên quan vua Chế Mân
(1260 – 1307), công chúa Huyền Trân (1287 – 1340) vào xứ sở Champa làm Hoàng
hậu.
Ví dụ có sách ghi: “Vĩnh Hảo: Craoh Aia Ju, (suối, Chăm, Việt,
Bình Thuận). Địa danh thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận có
gốc Chăm là Craoh Aia Ju (Craoh: suối, Aia: nước, Ju: sôi, trào). Vĩnh Hảo là
địa danh người Việt không có liên quan gì đến nguồn gốc địa danh Chăm. Bản chất
nước suối Vĩnh Hảo là loại nước khoáng nóng có Natri Cacbonat, một mỏ khoáng
quý hiếm nhất Đông Nam Á được người Chăm phát hiện đầu tiên. Tương truyền rằng,
nước này rất mầu nhiệm dùng để chữa bệnh ghẻ ngứa và cũng là loại nước dùng để
tắm tượng thần ở các đền tháp trước khi dâng lễ vật cúng tế thần. Lịch sử ghi
nhận năm 1292 (đúng ra là năm 1301, ĐHy chú), sau khi thắng giặc Nguyên – Mông,
để thể hiện tình đoàn kết, giao lưu, vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293), (đúng ra
là 1258 – 1308, ĐHy chú) đã ghé thăm Champa được vua Chế Mân đưa đi thăm danh
lam thắng cảnh Cà Ná và suối Vĩnh Hảo. Mùa hạ năm Bính Ngọ (1306), Chế Mân, một
lần nữa cũng đưa Huyền Trân công chúa đến nơi đây để thưởng ngoạn”.
Văn nghệ Tuy Phong,
Phan Chính viết: “Dòng suối Vĩnh Hảo chảy
từ hang động ra, với nguồn muối khoáng có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Từ
năm 1928 người Pháp đã khai thác, trở thành thương phẩm nổi tiếng cả nước cho
đến sau này. Lưu truyền đây cũng là nơi nghỉ dưỡng cho hoàng tộc của Vương quốc
Champa và có vườn mai uyển của Chế Mân để thêm phần thơ mộng với Vương hậu 2 Huyền
Trân đến đây tận hưởng”.
Trần Huiền Ân viết: “Có lẽ bà hoàng hậu thứ ba (Huyền Trân) rất
được Chế Mân sủng ái đã đưa đi thưởng ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh, mong
muốn sự tốt đẹp bền vững gửi gắm vào tên suối nước nóng Vĩnh Hảo (Tuy Phong –
Bình Thuận)”.
Đương nhiên đây là dựa
vào những mẩu chuyện truyền khẩu, xem như truyền thuyết kể rằng... chứ không có
tài liệu lịch sử xác nhận. Xin cung cấp thêm thông tin: Chế Mân (Jaya
Simhavarman III) trị vì năm 1288 đến 1307, là vị vua Liên bang Champa, kinh đô
ở Vijaya (Bình Định), trong khi đó đối chiếu theo Biên niên sử Hoàng gia Champa
(Sakkarai Dak Rai Patao) ở tiểu quốc Panduranga (Ninh Thuận – Bình
Thuận) vua Po Dobatasuar đang trị vì (1269 - 1294 hay 1281 – 1306 tùy theo dị bản Biên niên sử), là vị
vua thứ 8 ghi trong Biên niên sử. Vua lên ngôi năm Tỵ, thoái vị năm Ngọ, trị vì
26 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu) [Po Dharma]. Quả thật Chế Mân, vị vua Liên
bang Champa (Raja
di raja: tức là vua của vua) đưa Thượng hoàng hoặc công chúa đến vùng Cà
Ná, Vĩnh Hảo nhưng không hề thấy Biên niên sử ghi Po/ vua tiểu quốc Panduranga
phục vụ như thế nào, nếu có ghi thì quá tốt. Đưa vấn đề này ra để chúng ta suy
nghĩ...
Chúng ta còn biết bao
câu chuyện văn hóa dân gian, kiến trúc đền tháp nổi tiếng vùng Đồ Bàn... nhưng
rõ ràng năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến và ở lại kinh thành Đồ Bàn
– Vijaya, giao hảo với vua Chế Mân và triều đình Champa. Sự kiện một vị Thượng
hoàng Đại Việt vào Champa suốt 9 tháng chắc chắn không phải vân du, thưởng ngoạn,
không phải vì “Phật sự” khi ông đã xuất gia, cũng không phải ý định gả con
gái... mà ẩn chứa một sự thật lớn lao vì vận mệnh 2 dân tộc, 2 đất nước Đại
Việt, Champa. Hy vọng giới sử học sẽ giải mã...
Tài liệu tham
khảo:
- Đại Nam nhất thống
chí (2006), tập 3, Nxb Thuận Hóa.
- Ngô Văn Doanh: Tháp
cổ Chămpa: sự thật và huyền thoại, (1994), Nxb Văn hóa Thông tin.
- Trần Kỳ Phương: Góp
phần nghiên cứu văn minh và nghệ thuật của Vương quốc cổ Champa tại miền Trung
Việt Nam, (2019), Nxb Hội Nhà văn.
- Nguyễn Thanh Mừng – Trần Thị Huyền
Trang: Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng Đế (2004), Nxb KHXH.
- Trần Huiền Ân: Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai (2025), Nxb Hội Nhà văn.
- Key Chong: Lịch sử các tháp Chăm
tại Panduranga (2023), Nxb Hội Nhà văn.
- Văn nghệ Tuy Phong số Xuân Ất Tỵ -
2025, Nxb Hội Nhà văn.
(Bài đã đăng tạp chí Xưa & Nay)
Chú thích:
Đại Nam nhất thống chí (2006), tập 3, Nxb
Thuận Hóa, trang 43, 44.
Trần Huiền Ân: Rồng chầu
ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai (2025), Nxb Hội Nhà văn, trang 270.
From:
Dinh Hy <dinhhy_nt@yahoo.com.vn>