Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phạm Xuân Hùng. Show all posts
Showing posts with label Phạm Xuân Hùng. Show all posts

Friday, January 24, 2025

Trang thơ Từ Dạ Thảo: LỜI CHIA TAY MÙA XUÂN | THƠ NGÀY CUỐI ĐÔNG | TẢN MẠN MÙA ĐÔNG

 

Từ Dạ Thảo

Từ Dạ Thảo tên thật là Phạm Xuân Hùng, sinh năm 1969, quê Quảng Trị. Anh là đạo diễn phim tài liệu, công tác tại Trung tâm Truyền hình Việt Nam ở thành phố Đà Nẵng. Anh làm thơ với bút danh Từ Dạ Thảo và viết truyện ngắn với bút danh Phạm Xuân Hùng.

 

 

LỜI CHIA TAY MÙA XUÂN

 

Anh gửi lại nụ hôn ngủ vùi trong cỏ
Em khuất xa rồi buổi ấy giêng hai
Chỉ còn lại thoáng tầm xuân muộn nở
Biếc thắt lòng câu hát dỗi hờn ai

Chia tay nhé mùa xuân không nói trước
Cuối con đường mùa hạ đứng trầm tư
Phượng đốt lửa trong mắt người day dứt
Ve giăng buồn giăng kín mảnh tình xưa

Chia tay nhé mùa xuân không hẹn ước
Ta - gã si tình xuôi ngược thời gian
Tóc chấm bạc mới hay mình đánh mất
Dấu thiên đường chỉ còn lại tro than

Bao nhiêu nắng cũng không vừa buốt giá
Mùa hạ ơi thương nhớ đến khôn cùng
Bao nhiêu gió để ta về hoá đá
Ngẩn ngơ nhìn hoa rụng tím triền sông...

Không quên được nhưng làm sao nỡ trách
Phút giao mùa òa nghẹn tiếng chia ly
Như ánh chớp ngang trời chưa kịp hỏi
Đã em về đưa tiễn bước xuân đi

Vời vợi thế làm sao anh giấu hết
Những vui buồn bất chợt hoá mồ côi
Dịu ngọt đấy bây giờ thành cay nghiệt
Hoá sắc trời mùa hạ cháy không nguôi...


THƠ NGÀY CUỐI ĐÔNG

 

Rồi như chiếc lá cuối đông 
Thả đường bay trọn một vòng nhân sinh

Thưa rằng dạo ấy mùa xuân 
Có con chim hót tưng bừng suối khe
Rễ ngầm đan những tái tê 
Đất sâu thả hết bùa mê lên trời

Lá xanh hoa thắm tươi cười 
Yêu thương là chín là mười phụ nhau
Thì xin cứ nõn nà lâu 
Để cho dải yếm bắc cầu tìm sang

Mùa thu chớm độ hoa vàng 
Ai đi như thể bóng hoàng hạc bay
Cầu dải yếm ngã mà đau 
Đau từ buổi dưới đất sâu lên trời

Rồi như tàn hết cuộc chơi 
Vòng quay chiếc lá giữa trời cuối đông.

 

 

TẢN MẠN MÙA ĐÔNG


Dọc theo những con đường thơm hương cỏ dại.
Mùa đông ngái ngủ thả bầy chim trốn rét thiên di, thả nỗi buồn nứt nẻ lên môi thiếu phụ, và lũ trẻ đen nhèm trần truồng hơ khói phân trâu.
Ở đâu đó mình ngồi nhớ mùa đông.
Trong chiếc áo tơi ký ức và căn chòi lợp lá đùng đình.
Những củ sắn lùi thơm phức mùi tro và những bắp ngô mỡ màng trong tiếng xít xoa nóng hổi.
Miền Trung quê mình nghèo mà thơm thảo.
Những cơn mưa mang theo vị phù sa, những cơn bão mang theo bài ca dao phận người chắp nối.
Chớ than phận khó ai ơi.
Còn da lông mọc còn chồi xanh cây.
Ô nhỉ, đã bao nhiêu mùa đông mình ngồi đếm tuổi.
Chưa già nhưng cũng không còn trẻ để có thể hồn nhiên, để có thể ngơ ngác như mối tình đầu thơ dại.
Bao giờ râu rụng tóc rụng mình cũng sẽ về với đất.
Ở đó có chiếc áo tơi ký ức và giấc mơ sinh thành chỉ hướng đầu thai

    Từ Dạ Thảo

 

READ MORE - Trang thơ Từ Dạ Thảo: LỜI CHIA TAY MÙA XUÂN | THƠ NGÀY CUỐI ĐÔNG | TẢN MẠN MÙA ĐÔNG

Chùm ảnh TẾT TẠI MỘT CHỢ XÉP Ở CAM LỘ - Phạm Xuân Hùng

 

Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







READ MORE - Chùm ảnh TẾT TẠI MỘT CHỢ XÉP Ở CAM LỘ - Phạm Xuân Hùng

Monday, May 1, 2017

MÀ THƯƠNG MÀ GIÓ - Phạm Xuân Hùng




Mà thương mà gió

 Phạm Xuân Hùng


“...Đố ai ngăn gió, gió đừng rung cây...”
(Ca dao)

Hình ảnh thơ chuyển tải những thông điệp mỹ học quan trọng nhất trong thi ca cổ điển là hệ thống các biểu tượng “phong, hoa, tuyết, nguyệt...”. Cũng lạ là trong hệ thống biểu tượng ấy, đứng đầu và cũng hình như duy nhất nhà thơ không nhìn thấy đó chính là gió. Nghĩa là thi sĩ chỉ “ru với gió” bằng tất cả các giác quan, bằng trái tim, nhưng cầm nắm, nhìn thấy được như hoa cỏ, vầng trăng, con nước thì không. Vậy mà, cũng thật lạ, là gió tác động mãnh liệt vào cảm xúc thi nhân. Bên cạnh ngọn “gió mùa thu mẹ ru con ngủ...” xao xuyến tấc lòng là những ngọn gió xuân tươi sắc, gió hè mát rượi, gió đông rét ngặt rét nghèo... tất cả đều hiện diện trong thi ca. Tôi nghĩ, có lẽ, trong muôn loài và hiện tượng thì gió về bản chất gần với thi sĩ hơn cả, vì sự phóng túng và cả những vô thường của gió.

Quê tôi ở miền Trung, nơi mà người ta thường định danh chẳng cần vùng miền cụ thể, chỉ cần nói đó là nơi “gió Lào cát trắng”. Cát trắng thì hẳn nhiên, trắng từ đời nảo đời nào, từ thuở Nguyễn Hoàng khởi nghiệp xứ Đàng Trong, lúc những bước chân vượt Đèo Ngang của ông bắt gặp chang chang cồn cát kéo dài những Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa... Để tiếp sau đó, chỗ định cư đầu tiên của ông là bãi cát dài xứ Sa Khư thuộc Ái Tử, tỉnh Quảng Trị ngày nay. Cát thì vậy, còn gió thì dường như có từ thời khai thiên lập địa, chỉ có điều gió ở quê tôi là gió Lào, không ở vùng miền nào trên đất nước có được. Gió Lào và cát trắng, nghe cứ như một thành ngữ, đăng đối, biền ngẫu và mật thiết đến mức ngỡ là tự nhiên phải thế, không cần hỏi cũng chẳng cần giải thích thêm.
Sách địa lý phổ thông dạy rằng tên chính danh của gió Lào chính là gió phơn Tây Nam, gốc gác phía bên kia dãy Trường Sơn hướng tây. Gió phơn Tây Nam mang nhiều hơi nước nhưng do phải băng qua ngàn dặm Trường Sơn núi non trùng điệp nên những giọt nước mang theo đã bốc hơi trước khi về đến cuối nguồn. Nghĩa là khi về đến miền Trung eo thắt, những ngọn gió trở nên khô rát và bởi vì từ phía nước bạn Lào thổi sang mà người ta gọi là gió Lào.
Tôi ngày thơ ấu ở ven dòng sông Hiếu, con sông hẹp như một đường chỉ nhỏ nép giữa hai bờ lau sậy, ôm ven dọc theo con đường 9 nổi tiếng từ thời kháng Pháp. Cũng xin nói thêm rằng, người ở xa nói về Quảng Trị thường chỉ biết đến Hiền Lương là giới tuyến chia cắt đất nước mấy chục năm trời hay sông Thạch Hãn gắn với Thành Cổ - con sông từng được ví như Nghĩa trang quốc gia không mộ chí bởi lòng sông đã ôm giấu hàng ngàn liệt sĩ trong những ngày máu lửa ở Cổ Thành Quảng Trị. Còn sông Hiếu ít nổi tiếng hơn nhưng nếu ai chịu khó đọc vài trang sử xưa cũng biết rằng đây là dòng sông có ngọn nguồn từ miền Ai Lao, từng là hành lang giao thông giao thương giữa miền tây với trung du và đồng bằng Quảng Trị xưa. Ấy là nói theo những ghi chép có từ “Ô châu cận lục” của Dương Văn An hay “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn. Còn như thời cận hiện đại ai cũng biết dọc theo con sông này có những địa danh nổi tiếng như Cam Lộ với hai lần được chọn làm kinh đô (một là vua Hàm Nghi chọn Tân Sở làm căn cứ dựng cờ Cần Vương, hai là Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam). Lại nói về sông Hiếu, sông không rộng, chẳng dài nhưng bù lại mang vẻ đẹp hoang dại của hai bờ rừng rú. Và tuổi thơ tôi đã lớn lên cùng sông, cùng những ngọn gió Lào khô khát thổi dọc đôi bờ sông quê.
Vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch là mùa lau nở, báo hiệu xuân sang hè tới. Bấy giờ, những ngọn gió Lào đầu tiên thổi nhẹ qua vườn, nhẹ lắm nhiều khi chẳng nhận ra. Chỉ biết, vào một sớm mai nào đó thức dậy, nghe rười rượi làn gió cùng tiếng chim, tiếng côn trùng rỉ rả ở đụn rơm, mái bếp. Nếu vườn nhà ai có nhiều cây xanh lưu niên như mít, xoài, cà phê... thì ngọn gió càng mát lạnh khiến thân mình trở nên lười biếng, mắt mở rồi lại muốn nhắm tiếp để chìm đắm trong giấc mê man cùng gió.
Kỳ thực ở quê tôi người ta ít gọi tên gió Lào mà thường hay gọi gió Nam, một cách gọi để phân biệt với gió nồm thổi lên từ phía biển. Và bắt đầu mùa gió Lào, khi những ngọn gió vẫn còn mát mẻ, chưa bị rang nóng người ta gọi là nam đọt. Đọt tức là ngọn cây, ngọn cỏ mới nhú, mới tượng hình. Nam đọt vì thế có thể xem như gió Lào mới nhú, báo hiệu bắt đầu một mùa nam nóng khắc nghiệt sẽ đi qua.
Rồi chẳng ai nhớ nữa, những ngọn nam đọt bắt đầu mạnh dần lên, hơi mát chỉ còn đâu đó trên màu lá cây hoặc dọc ven những dòng suối nhỏ khuất lấp bởi cây rừng. Còn ở làng quê, hoặc đôi bờ sông trống trải, gió nam trở nên hanh hao từ lúc nào. Gió như đàn ong bay đi tìm mật, từ xa đã nghe tiếng rào rào, tiếng của những vòm lá xao động, của bờ tre xao xác và những ngọn cỏ đang ngả theo chiều gió. Cũng rất nhanh, chừng khoảng chưa đầy một tháng sau ngọn nam đọt đầu tiên gió Lào thực sự bước vào chính vụ. Lúc này thì gió cũng mới thực sự là gió Lào. Gió thổi từ sáng sớm, vần vụ từ ngày sang đêm, ào ạt, nóng bỏng. Lúc này người ta gọi đó là nam ròng, ròng là lõi của thân cây gỗ lâu năm. Không như nam đọt thổi nhẹ nhàng, mang ít hơi mát đầu mùa, nam ròng thổi liên tu bất tận, thổi không ngừng nghỉ và hơi nóng trong ngày tăng dần lên, ngày sau dường lại nóng hơn cả ngày trước.
Thường thì sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc, mặt đất chưa bị nung lên bởi nắng thì gió Lào bắt đầu thổi. Cây cối quanh vườn nhà sau một đêm tránh nắng còn thở ra chút hơi ẩm hiếm hoi nên người ta chưa có cảm giác nóng. Nhưng rất nhanh sau đó, khi mặt trời hé mọc thì gió như hùa cùng với nắng lấy dần đi chút hơi ẩm đầu ngày. Rồi nhiệt độ tăng dần lên, đến lúc mặt trời mọc khoảng hai ba sào, cao ngang hoặc quá ngọn tre đầu làng thì cái nóng đã hầm hập xông vào từng ngôi nhà, góc vườn. Nóng quá, người đang làm đồng có khi dừng lại ngó mặt trời rồi dừng tay, thu dọn cày cuốc sải bước về nhà. Trẻ em đang chơi ở cuối vườn cũng thu dọn đồ chơi dời đến góc sân có giếng nước. Các bà, các mẹ, các chị cũng dừng tay, không làm việc nặng nhọc cốt không phải ra mồ hôi bằng cách chọn những việc nhẹ nhàng và quan trọng là được nhúng tay vào nước như giặt giũ, phơi phóng, xắt rau, vằm chuối cho heo... Không gian làng quê lúc này im ắng hẳn, chỉ còn tiếng gió ù ù thổi dọc triền sông, trên những mái nhà. Gió tung mình trên ngọn cây cao, vặn vẹo những cành yếu khiến lá rụng từng chặp từng chặp. Bờ tre chắn gió đầu làng nghiêng ngả như có ai cột cả trăm sợi dây vào mà rung. Bụi đất bay lên bám vào lá cây, bám vào tường nhà khiến tất cả nhuộm màu của đất, chìm dần vào đất. Thoảng hoặc rất hiếm hoi khi ngọn gió bất chợt dừng lại hoặc yếu đi vài ba giây mới nghe ở đâu đó rất xa tiếng chim bìm bịp khắc khoải thôi dài. Cả tiếng chim như cũng khàn đi vì gió và nắng.
Mặt trời tiếp tục nhô lên, gió tiếp tục lồng lộn, hung dữ. Và cao điểm của gió, của nóng là giờ ngọ, khoảng từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều. Vào giờ này, mặt trời ngay giữa và trên đỉnh đầu, tất cả các bóng cây đều thu vào gốc để lộ ra những vạt nắng chói chang. Mọi vật bị nung lên vì nhiệt độ trong bóng râm có khi lên đến 38, 39, hoặc 40oC, ngang và cao hơn cả thân nhiệt của người bình thường. Gió mạnh đến mức nếu nhắm mắt hoặc là người ở xa đến có thể lầm tưởng đang đứng trước cơn bão nhẹ. Từ phía rất xa, gió đã rít lên từng hồi, không còn nghe tiếng xay lúa ù ù mà chỉ còn tiếng rít, tiếng gầm rú. Xen lẫn trong tiếng rú rít của gió là những trường đoạn tạp âm cơ hồ bao gồm cả trăm ngàn âm thanh phát ra bởi cây cối, đồ vật va đập vào nhau. Lúc này, những ngọn cây cao nghiêng ngửa, vòm cây xõa xượi như người uống say, say quá không đứng vững được. Cả bờ tre xoắn xít vào nhau, thân tre cọ vào nhau cháy khô từng đốt, lá tre bay rào rào nhìn tối cả mắt. Không chỉ cây to, đến cả cỏ cũng phải rạp mình xuống, cỏ tranh mềm mại cong mình lại từng đợt từng đợt nhìn xa như sóng đã đành, cỏ dại bò lan trên mặt đất nhiều nhánh cũng bị bứt lên, khuơ khuơ từng chùm rễ nhỏ li ti. Mặt đất càng lúc càng ngập ngụa trong nắng, gió càng lúc càng hừng hực như vãi lửa trên những con đường. Bụi tung lên mù mịt, có khi chẳng nhìn thấy người đi ngoài đường...
Mà thực ra, lúc này cũng ít có ai ra đường. Nếu không có việc cần kíp chẳng ai dại ra đường vào giờ này. Nóng như thế, gió như thế không bị cảm nóng thì cũng dễ sứt đầu mẻ trán vì chuyện không đâu. Hãy thử hình dung, trong mớ âm thanh hỗn tạp mà gió như muốn nhét vào tai bạn có tiếng răng rắc của của những cành cây cao sắp gãy, tiếng mái tôn nhà ai đang chực bứt ra khỏi chiếc đinh lung lay, tiếng gàu rơi xuống giếng, tiếng... và tiếng... Thế đó, dường như vào lúc này, ngoài nắng và gió, cả làng quê như ngưng lại, bất động. Người ta tránh gió và cơn nóng hầm hập dưới những vòm cây cao nhất, rộng nhất hoặc tìm ra bờ sông bắt cá, đùa giỡn với sông nước. Trẻ em, người già cởi áo vắt vai hoặc ở trần trải lá chuối tươi nằm đỡ nóng lưng.
Nhưng cái gì đến rồi cũng phải đi. Quá ngọ sang mùi, những trận gió tuy không hẳn giảm bớt cường độ song mặt trời dần xế về tây, bóng cây đổ dài hơn, nắng xế chiều xiên khoai nhức mắt nhưng cơn nóng lại giảm đi đáng kể. Bởi vì mặt đất đã loang dần bóng cây và ánh nắng buổi chiều cũng không còn hầm hập dội thẳng xuống đỉnh đầu. Tầm ba giờ chiều trở đi, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Người lớn có thể đánh trâu ra đồng cày nốt đường cày dở dang buổi sáng, trẻ em mang bài vở ra ê a hoặc chơi trò trốn tìm giữa vườn cây um tùm. Đàn gà mới ban trưa lông tả tơi vì gió giờ cục ta cục tác dắt nhau đi tìm mối quanh đụn rơm vàng... Gió vẫn thổi nhưng đã trở nên nhẹ nhàng hơn, mát hơn. Qua liếp cửa nhà ai có thể nhìn thấy một lão nông tri điền ngủ say giấc nồng trên chiếc chõng tre.
Và rồi mùa hè cũng không thể kéo dài ra mãi. Cuối tháng 6 âm lịch hoặc muộn lắm là tháng 7 “nước nhảy lên bờ” những con gió Lào cuối cùng mà người dân quê tôi gọi là nam côộc (côộc là gốc) cũng đi qua. Hơi nóng muộn màng từ những ngọn nam côộc se thêm chút vàng vọt trên vòm cây, ngọn cỏ. Những đóa lau già đi qua một mùa nam nóng thân ngả sang màu rơm, thả nốt những sợi lau trắng li ti còn lại lên trời. Những sợi lau xoay tròn trên không như những chiếc ô bé xíu trong vũ điệu cuối cùng tiễn biệt một mùa nam nóng hanh hao.
Người xứ khác đôi lần đi ngang qua chỗ eo thắt nhất của miền Trung đều lắc đầu e sợ cái nóng của gió lào, cát trắng. Ấy vậy mà người dân quê tôi hàng bao đời nay vẫn sống, vẫn tồn tại và đi qua những mùa hè như thế. Đến độ quen đi từ lúc nào, ngấm vào máu thịt, không có lại thấy nhớ, thấy thiếu điều gì đó. Cũng như dân miền Tây mùa nước lũ, khổ thì có khổ nhưng vẫn vui bởi đây là mùa cá linh béo đậm đà hương vị phù sa, của bông điên điển thảo thơm hồn quê kiểng. Mùa gió Lào quê tôi cũng vậy. Người ta ra sông, ra suối, ngâm mình dưới nước để tránh nóng nhưng cũng để làm việc khác nữa đó là bắt cá. Mùa này con nước rặc, nhiều chỗ cạn trơ đá ngầm, nhiều con thác mùa mưa chảy xiết giờ chỉ còn riu riu nước. Sông Hiếu mùa gió Lào thời thơ ấu của tôi chỉ lớn hơn con suối, đôi bờ ngút mắt một màu xanh của rì rì, loài cây sống gần nước. Mùa này nước rặc nên tha hồ thả câu, bủa lưới, đặt lờ. Bấy giờ cá nhiều, gặp hên chỉ cần canh giờ là đầy rỗ, cá to để kho, cá vừa vừa để nấu canh và cá nhỏ để dành làm mắm cho mùa mưa sắp tới. Quá trời loại cá ngon, cá chép thịt dày, vảy to bằng đồng xu, cá chình béo tròn, nướng tắt cả bếp, cá kiên không ăn gì ngoài rong rêu nên thịt ngọt mà ruột cá rất sạch làm thành loại mắm ruột độc đáo. Rồi cá thát lát to cỡ bàn tay người lớn, thịt vằm nhuyễn chiên mỡ thì không gì bằng. Cá trơn nhỏ bằng ngón tay, kho nghệ ăn hết nồi cơm lúc nào không hay, cá bống thì có nhiều loại bống thệ, bống cát, bống đá... đem kho tiêu thơm nhức mũi, mùi thơm cuốn theo chiều gió sang tới nhà hàng xóm.
Đó là nói chuyện sông, chuyện suối. Còn như ở nhà, trong vườn cũng lắm chuyện hay. Nóng quá người ta tum năm tụm ba dưới bóng cây lưu niên, thế là hình thành một nét văn hóa ẩm thực đi kèm với... gió. Nóng thì uống bát chè xanh keo đặc gọi là chè xeng đứng đụa (chè xanh cắm đũa vào không đổ), nóng quá thì mua nuốt (giống như sứa) về trộn với vả, chuối xanh, rau thơm ăn vào mát cả bụng. Rồi sẵn cá sông đấy, tha hồ làm gỏi, nấu cháo ăn giải nhiệt. Và hẳn nhiên, quanh bữa ăn dã chiến, để chống lại cái nóng là biết bao câu chuyện trên trời dưới đất, trong đó dĩ nhiên có cả những câu chuyện về gió.
Vậy đó, ai bảo chăn trâu là khổ thì ai bảo gió Lào là đáng ghét. Thử hỏi, trời đất có cho ai cái gì mà không lấy lại cái gì không. Cũng như trong rủi có may, thì trong gió Lào cũng ẩn chứa bao điều thú vị. Cực khổ, chống chọi thì đã đành rồi, tuy vậy cứ sống, cứ tìm cái vui vẻ để sống thì cũng đáng mặt gọi là con người. Lạy trời, ai bảo tôi nói trạng thì thôi xin thể tất cho, vì quá yêu mà nói vậy, không thể tất thì xin cho lời nói gió bay cũng được.
Vâng, tôi giờ là kẻ tha hương nhưng mùa hè nào cũng cạy cục cắt phép vài ngày về thăm quê. Trước nữa là thăm bà con họ hàng nhưng sau nữa là để gặp lại cảm giác của thời thơ ấu, thời chân trần trên đất, ngược gió ra sông vẫy vùng. Không dám nói theo kiểu thi nhân là cầm gió, mang gió hay bắt gió, tôi chỉ mong có những phút giây như thế chỉ để trong lòng sống lại cảm giác của những mùa hè xưa xa, để khi về lại chốn phố phường đông đúc khỏi phải đêm đêm giật mình vì thèm nghe tiếng gió.
Gió Lào ơi, ngươi là ai không cầm nắm được. Mà thương mà... gió suốt cả cuộc đời.
P.X.H



READ MORE - MÀ THƯƠNG MÀ GIÓ - Phạm Xuân Hùng

Monday, April 24, 2017

TÍNH CÁCH CỦA ... ỚT - Phạm Xuân Hùng



Hình từ Internet


Tính cách của ... ớt!

 Phạm Xuân Hùng

Folklore hiện đại kể rằng ở một đô thị lớn nhất nhì trong nước xảy ra vụ tai nạn giao thông khủng khiếp. Người bị tai nạn không có giấy tờ tùy thân nên không xác định được danh tính. Do vậy trước khi khâm liệm, chôn cất người ta mời pháp y giám định để hòng tìm ra mạnh mối. Bác sĩ pháp y sau khi mổ và xem xét nội tạng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng người bị nạn quê ở Quảng Trị bởi biên bản ghi rõ: Ruột của nạn nhân chỉ toàn là ớt.

Chuyện khác nữa kể rằng: Một chị quê ở Quảng Trị đưa con nhỏ ra theo học một ngành gì đó ở thủ đô. Trường mẫu giáo đạt chuẩn quốc gia nhưng các cô giáo chẳng làm sao dỗ được đứa bé ăn uống mặc dù cháu đang ở độ tuổi ăn dặm, bú dặm. Đến khi hỏi phụ huynh thì chị quê Quảng Trị điềm nhiên bảo: Nhờ các cô khi pha sữa hoặc khuấy bột cho nhiều nhiều ớt vào cháu mới ăn.

Đó là hai trong số rất nhiều câu chuyện dân gian hài hước mà nội dung đều nói rằng người Quảng Trị ăn cay, cay đến mức… khủng khiếp. Tại sao lại ăn cay, ăn cay có nghĩa là ăn nhiều ớt, vậy thì liệu có hình thành một tính cách ớt của người Quảng Trị không? Tôi nghĩ đây cũng là một vấn đề thú vị.

Nhân loại từ khi có lửa, đã biết tìm cách chế biến, nấu nướng thức ăn. Ăn không chỉ để no mà còn để đưa dưỡng chất cần thiết vào cơ thể nên cùng với nguyên vật liệu chính người ta phải nêm nếm vào đó nhiều thứ. Hẳn nhiên, đầu tiên là muối. Cơ thể mà thiếu muối thì bải hoải, da dẻ bủng beo rồi phù thủng mà chết. Sau đó, người ta nhận ra rằng ăn không chỉ để no mà còn phải ăn ngon. Thế là sau muối người  ta phải thêm vào thức ăn nhiều thứ tạo vị thơm, ngọt, chua, cay như đường, dấm, ớt, hồ tiêu…

Nghĩa là khi con người biết ăn ngon thì gia vị bắt đầu lên ngôi. Nhưng ớt có từ bao giờ và nguồn gốc từ đâu? Theo tài liệu mới nhất của một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, trong đó có nhà khảo cổ học Scott Raymond của Canada sau khi phân tích hóa thạch tinh bột trên những mảnh đá dùng để đâm hạt ớt cổ nhất từ trước đến nay đã đi đến kết luận rằng các hạt ớt cổ nhất có niên đại đến….6.000 năm.

Và căn cứ vào địa điểm thu mẫu vật hóa thạch cùng những nghiên cứu liên quan, các nhà khoa học cho rằng, khác với điều người ta nhầm tưởng xưa nay là tổ tiên của các nền văn minh lớn ở vùng cao như người Inca, người Aztec là những người đầu tiên trồng ớt, bằng chứng cho thấy ngược lại, cây ớt trồng có nguồn gốc từ miền nhiệt đới và vùng thấp thuộc châu Mỹ La tinh.

Tôi cũng thành thật nói rằng không phải vì tôi là người Quảng Trị mà cho rằng tính cách ớt thuộc về người Quảng Trị. Mà thôi, chuyện cũng dông dài, xin được trải lòng với bạn đọc sau. Nhưng trước hết, xin được thưa rằng, cả nước ăn ớt, cả miền Trung ăn ớt chứ không riêng người Quảng Trị. Nhưng rõ ràng, người miền Trung ăn cay nhiều nhất và nổi tiếng ăn cay hơn cả. Người miền Trung cũng là cách nói chung chung chứ tình thực, theo tôi, hay ăn ớt nhất cũng chỉ có người Quảng Trị, người Huế và người Quảng Nam, nhưng cách ăn thì mỗi nơi mỗi khác.

Người xứ Quảng hay dùng loại ớt xanh, thơm nhưng ít cay. Người Quảng cũng không ăn ớt tràn lan, chỉ một vài món đặc sản như mỳ Quảng kèm theo trái ớt xanh, ớt xanh vài miếng thả vào nước chấm dùng cho món bánh tráng cuốn thịt heo… Người Huế thì ăn ớt không chỉ là gia vị mà còn là chất liệu để trang trí mang tính mỹ cảm. Vì là chất liệu trang trí nên cái sự ăn nặng về thị giác.

Tô bún bò Huế bên cạnh màu trắng nà nõn của sợi bún, lớp màu mỡ màng của nước dùng, những cọng hành, rau thơm xanh non còn phải có nhứng lát ớt màu đỏ điểm xuyết. Hay như bánh bột lọc sau khi luộc xong người ta phi hành xóc đều cho lá hành thấm dầu bám vào từng chiếc bánh. Khi bày bánh ra dĩa, màu bánh trắng trong nhìn rõ nhân tôm màu đỏ, lá hành dính xung quanh thì nhất thiết phải có ớt xanh xắt lát rải lên làm mặt.

Nhìn cứ như tranh. Đại loại kiểu ăn của người Huế với nền văn hóa ẩm thực cao là thế. Còn người Quảng Trị ăn ớt thì khác với người xứ Quảng và đất thần kinh. Người Quảng Trị cũng dùng ớt làm chất liệu bày biện món ăn nhưng không nặng về trình bày, ăn ớt thì nhất quyết phải lấy sự cay làm trọng!

Vâng, đã quan trọng cái sự cay thì ớt phải… cay. Muốn có ớt cay thì phải tìm giống ớt cay để trồng. Người nhà quê không như thành thị, đất đai trồng hái thì khỏi phải lo, về quan hệ thì xóm trên có một người đỏ mắt cả xóm trên dưới đều hay. Nên chi nhà nào có giống ớt ngon, thơm, cay bao giờ cũng chọn vài trái để già héo trên cây, đặng làm giống, đặng đem cho hàng xóm. Cây ớt và giống ớt cay vì thế mà được nhân bản khắp nơi, từ làng này sang làng khác.

Về khoa học, tôi nhớ đọc đâu đó tài liệu cho rằng người ta đã lập bảng chia độ cay của từng loại ớt, độ cay cũng tính như độ cồn trong bia rượu, độ đạm trong nước mắm. Nghĩa là độ càng cao thì ớt càng cay. Tôi cũng không rõ các giống ớt cay của Quảng Trị thì bao nhiêu độ nhưng quả thật là có nhiều loại ớt đạt đến độ cay… khủng khiếp.

Xét độ cay từ thấp lên cao thì nhóm cuối bảng có ớt sừng (giống ớt xanh), ớt sáp, ớt chìa vôi, ớt kiểng… Loại này thường chỉ dùng để bày biện hoặc gia giảm vào các món ăn cho trẻ để tập chúng ăn cay. Cay hơn một chút là giống ớt đỏ, ớt chỉ thiên. Nhóm này thường trực trong các món ăn và được trồng phổ biến ở vùng quê.

Thuộc hàng “top” thì phải kể đến hai loại đó là ớt mọi và ớt de. Ớt mọi là ớt được đồng bào dân tộc vùng cao trồng sau đó di thực về vùng xuôi, loại ớt này cay đáo để, trái nhỏ bằng đầu đũa nhưng chỉ nửa trái cũng đủ làm bát nước mắm cay xè. Ớt de còn độc đáo hơn, trái chỉ lớn hơn hạt lúa một chút, nhưng cay thì tàn khốc.

Người không quen ăn cay thấy trái nhỏ tưởng bở ăn liền một miếng thì sau đó nhịn đói luôn vì mồm miệng bỏng rát. Giống ớt trồng qua mấy vụ thì thường thoái hóa, ít cay hơn. Để kiếm hạt giống người ta phải nhờ vào chim, nhất là loại vẹt. Những loại chim ăn ớt thường rất khôn, chỉ chọn loại ớt cay và những trái ớt chín đạt đến độ cay nhất. Nhờ vậy, người ta tìm phân của những con chim ăn ớt sau đó về rửa, đãi sạch lấy hạt giống về trồng. Cũng nói thêm, loại ớt này ngày xưa được bộ đội Trường Sơn gọi là ớt đại đội vì cho rằng chỉ cần một trái là đủ cho một đại đội dùng bữa (nghĩa là người ta không cần cắn, mỗi người chỉ quẹt trái ớt ngang lưỡi thì đủ cay cho cả bữa ăn!).

Người Quảng Trị ăn ớt cay nhưng không chỉ ăn ớt sống theo kiểu nhai ngang mà còn chế biến nhiều loại thức ăn. Cay thường đi với mặn. Món kết hợp cay mặn đó là muốn trắng giã với ớt, nước mắm xắt ớt thật nhiều và ruốc hấp trộn với ớt giả nhỏ. Cả ba loại trên vừa dễ chế biến, vừa hợp với gia cảnh thanh bần, ăn uống không cầu kỳ chỉ cần đưa cơm là được. Sang hơn một chút, trong các bữa ăn chính qui là cá kho ớt, thịt xào ớt. Cá kho ớt thì lượng ớt bỏ vào có khi bằng lượng cá.

Những loại cá kho ngon như cá biển (thu, ngừ, nục…) khi nấu người ta để nguyên hoặc bẻ đôi từng trái ớt thả vào. Kho càng lâu, vị thơm cay thấm vào cá, nước cá kho sánh lại quyện từng hạt ớt, nước này dùng để ăn cơm nóng hoặc bún thì quên cả trời đất. Đặc biệt trong các bữa ăn người ta rất quan tâm đến bát nước chấm.

Nước chấm dùng cho rau luộc, thịt luộc đều phải giã ớt tỏi thật nhiều, khi chấm da ớt và hạt ớt dính theo gắp rau, lát thịt mới gọi là đáo khẩu. Nhưng có lẽ trong các món ăn thì món mắm ớt mới thực sự độc nhất vô nhị. Ớt tươi sau thu hoạch đem rửa sạch phơi heo héo rồi xếp thành lớp trong vại giống như muối cà, giữa hai lớp là một lớp muối mỏng.

Đậy kín lại cất vào xó bếp vài tháng sau đem ra là đã có món mắm ớt. Lúc này vị muối hút nước trong quả ớt tạo thành thứ tương ớt cay xè và mặn mòi. Còn quả ớt sau khi rút nước teo lại đưa lên răng cắn nghe giòn tan, rất đã.

Nói chung, mùa nào thức nấy, nhưng với người Quảng Trị các bữa ăn quanh năm đều phải có ớt. Mùa thu hoạch ớt đại trà hoặc nhà nào có trồng vài cây ớt chỉ thiên ra quả quanh năm thì đến bữa trên mâm chí ít cũng phải có nắm ớt không dưới mươi quả. Mùa đông trời lạnh, cây cối nghỉ ngơi đã có hũ mắm ớt để dành. Không có ớt tươi hay mắm ớt người ta dùng ớt khô nguyên trái hoặc ớt bột cho vào thức ăn. Người lớn ăn cay, trẻ em cũng ăn cay, đứa nào chưa ăn được thì cũng phải ăn cho quen dần không thôi nhịn đói.

Ăn ớt nhiều nên người Quảng Trị chỉ nhìn trái ớt dù là ớt xanh cũng biết là ớt non hay ớt già, cay hay không cay. Ớt xanh non có màu xanh trong, ớt xanh già có màu xanh thẩm hơn, cuống ớt rụng bao xòe ra. Ớt non ngửi bên noài có mùi hăng của quả non, ớt già thì vị cay như chui ra khỏi vỏ xộc vào mũi.

Nói chuyện ớt đã nhiều bây giờ thì xin nói về tính cách ớt của người Quảng Trị. Tôi xin thử nêu mấy điểm trong tính cách của người Quảng Trị lên quan đến ớt.

Thứ nhất là đức tính chịu khó. Theo tôi, tập ăn cay buổi đầu phải chịu khó, trẻ em muốn ăn cùng thức ăn người lớn chẳng dễ dàng, cũng phải năm lần bảy lượt toát mồ hôi, long óc mới nuốt được miếng ớt. Lâu dần tính chịu khó ngấm vô người trở thành phản ứng tự nhiên lúc nào không hay. Dĩ nhiên đã chịu khó thì sẽ tình cách vượt khó, vượt khổ. Người Quảng Trị theo tôi có tính cách này.

Thứ hai là sống đơn gian, đạm bạc. Khi xưa nhà tôi nghèo, cả làng cũng vậy, nghèo lắm. Bữa ăn chẳng có gì ngoài mớ cá nhỏ bắt ở khe, trái khế trong vườn, đọt môn sau giếng. Nhưng bữa ăn nào cũng thấy ngon nhờ có ớt. Ớt như thứ doping kích thích người ta ăn xong bữa. Lâu dần thành nếp sống đơn giản, đạm bạc.
Thứ ba là giỏi nín nhịn và hay nổi nóng. Nghe có vẻ đối lập nhưng biện chứng. Ăn cay phải chịu khó, trên chịu khó là nín nhịn nhưng nhiều khi cay quá phải hít hà, phải nổi nóng. Từ nhỏ đã vậy lớn lên khắc thành tính cách.

Thứ nữa, nhiều lắm, cả xấu lẫn tốt, chẳng hạn: Thủy chung với bạn bè nhưng lại hay cà khịa, miệng nói tay làm nhưng hay nói trạng, chịu khó học hành, học giỏi nhưng cũng hay khoe chữ, cao ngạo… Tất cả nếu phân tích thấu đáo hẳn ít nhiều cũng liên quan đến ớt.

Viết đến đây nghĩ cũng hòm hòm về chuyện người Quảng Trị với ớt. Định nói thêm một câu kết luận rằng người Quảng Trị có tính cách… ớt, nhưng thôi. Nói dài, nói dai là nói dại. Với lại, kết luận như thế chắc có người xứ khác không đồng tình, bảo rằng tôi nói lấy được, nói trạng.

Biết làm sao được, cái nói lấy được, nói trạng của tôi cũng bởi tôi là người Quảng Trị. Một người Quảng Trị ăn ớt.

P.X.H


READ MORE - TÍNH CÁCH CỦA ... ỚT - Phạm Xuân Hùng

Monday, January 13, 2014

MÀ THƯƠNG MÀ… GIÓ - Phạm Xuân Hùng

                            “…Đố ai ngăn gió, gió đừng rung cây…” -Ca dao

                               
                                                                     

Hình ảnh thơ chuyển tải những thông điệp mỹ học quan trọng nhất trong thi ca cổ điển là hệ thống các biểu tượng “phong, hoa, tuyết, nguyệt…”. Cũng lạ là trong hệ thống biểu tượng ấy, đứng đầu và cũng hình như duy nhất nhà thơ không nhìn thấy đó chính là gió. Nghĩa là thi sĩ chỉ “ru với gió” bằng tất cả các giác quan, bằng trái tim, nhưng cầm nắm, nhìn thấy được như hoa cỏ, vầng trăng, con nước thì không. Vậy mà, cũng thật lạ, là gió tác động mãnh liệt vào cảm xúc thi nhân. Bên cạnh ngọn “gió mùa thu mẹ ru con ngủ…” xao xuyến tấc lòng là những ngọn gió xuân tươi sắc, gió hè mát rượi, gió đông rét ngặt rét nghèo…tất cả đều hiện diện trong thi ca. Tôi nghĩ, có lẽ, trong muôn loài và hiện tượng thì gió về bản chất gần với thi sĩ hơn cả, vì sự phóng túng và cả những vô thường của gió.

Quê tôi ở miền Trung, nơi mà người ta thường định danh chẳng cần vùng miền cụ thể, chỉ cần nói đó là nơi “gió lào cát trắng”. Cát trắng thì hẳn nhiên, trắng từ đời nảo đời nào, từ thuở Nguyễn Hoàng khởi nghiệp xứ Đàng Trong, lúc những bước chân vượt Đèo Ngang của ông bắt gặp chang chang cồn cát kéo dài những Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa… Để tiếp sau đó, chỗ định cư đầu tiên của ông là bãi cát dài xứ Sa Khư thuộc Ái Tử, tỉnh Quảng Trị ngày nay. Cát thì vậy, còn gió thì dường như có từ thời khai thiên lập địa, chỉ có điều gió ở quê tôi là gió Lào, không ở vùng miền nào trên đất nước có được. Gió Lào và cát trắng, nghe cứ như một thành ngữ, đăng đối, biền ngẫu và mật thiết đến mức ngỡ là tự nhiên phải thế, không cần hỏi cũng chẳng cần giải thích thêm.

Sách địa lý phổ thông dạy rằng tên chính danh của gió Lào chính là gió phơn Tây Nam, gốc gác phía bên kia dãy Trường Sơn hướng tây. Gió phơn Tây Nam mang nhiều hơi nước nhưng do phải băng qua ngàn dặm Trường Sơn núi non trùng điệp nên những giọt nước mang theo đã bốc hơi trước khi về đến cuối nguồn. Nghĩa là khi về đến miền Trung eo thắt, những ngọn gió trở nên khô rát và bởi vì từ phía nước bạn Lào thổi sang mà người ta gọi là gió Lào. 

Tôi ngày thơ ấu ở ven dòng sông Hiếu, con sông hẹp như một đường chỉ nhỏ nép giữa hai bờ lau sậy, ôm ven dọc theo con đường 9 nổi tiếng từ thời kháng Pháp. Cũng xin nói thêm rằng, người ở xa nói về Quảng Trị thường chỉ biết đến Hiền Lương là giới tuyến chia cắt đất nước mấy chục năm trời hay sông Thạch Hãn gắn với Thành cổ-con sông từng được ví như Nghĩa trang quốc gia không mộ chí bởi lòng sông đã ôm giấu hàng ngàn liệt sĩ trong những ngày máu lửa ở Cổ thành Quảng Trị. Còn sông Hiếu ít nổi tiếng hơn nhưng nếu ai chịu khó đọc vài trang sử xưa cũng biết rằng đây là dòng sông có ngọn nguồn từ miền Ai Lao,  từng là hành lang giao thông giao thương giữa miền tây với trung du và đồng bằng Quảng Trị xưa. Ấy là nói theo những ghi chép có từ “Ô châu cận lục” của Dương Văn An hay “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn. Còn như thời cận hiện đại ai cũng biết dọc theo con sông này có những địa danh nổi tiếng như Cam Lộ với hai lần được chọn làm kinh đô (một là vua Hàm Nghi chọn Tân Sở làm căn cứ dựng cờ Cần Vương, hai là Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam). Lại nói về sông Hiếu, sông không rộng, chẳng dài nhưng bù lại mang vẻ đẹp hoang dại của hai bờ rừng rú. Và tuổi thơ tôi đã lớn lên cùng sông, cùng những ngọn gió Lào khô khát thổi dọc đôi bờ sông quê.

Vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch là mùa lau nở, báo hiệu xuân sang hè tới. Bấy giờ, những ngọn gió Lào đầu tiên thổi nhẹ qua vườn, nhẹ lắm nhiều khi chẳng nhận ra. Chỉ biết, vào một sớm mai nào đó thức dậy, nghe rười rượi làn gió cùng tiếng chim, tiếng côn trùng rỉ rả ở đụn rơm, mái bếp. Nếu vườn nhà ai có nhiều cây xanh lưu niên như mít, xoài, cà phê… thì ngọn gió càng mát lạnh khiến thân mình trở nên lười biếng, mắt mở rồi lại muốn nhắm tiếp để chìm đắm trông giấc mê man cùng gió.

Kỳ thực ở quê tôi người ta ít gọi tên gió Lào mà thường hay gọi gió Nam, một cách gọi có lẽ để phân biệt với gió nồm thổi lên từ phía biển. Và bắt đầu mùa gió Lào, khi những ngọn gió vẫn còn mát mẻ, chưa bị rang nóng người ta gọi là nam đọt. Đọt tức là ngọn cây, ngọn cỏ mới nhú, mới tượng hình. Nam đọt vì thế có thể xem như gió Lào mới nhú, báo hiệu bắt đầu một mùa nam nóng khắc nghiệt sẽ đi qua.

Rồi chẳng ai nhớ nữa, những ngọn nam đọt bắt đầu mạnh dần lên, hơi mát chỉ còn đâu đó trên màu lá cây hoặc dọc ven những dòng suối nhỏ khuất lấp bởi cây rừng. Còn ở làng quê, hoặc đôi bờ sông trống trải, gió nam trở nên hanh hao từ lúc nào. Gió như đàn ong bay đi tìm mật, từ xa đã nghe tiếng rào rào, tiếng của những vòm lá xao động, của bờ tre xao xác và những ngọn cỏ đang ngả theo chiều gió.

Cũng rất nhanh, chừng khoảng chưa đầy một tháng sau ngọn nam đọt đầu tiên gió Lào thực sự bước vào chính vụ. Lúc này thì gió cũng mới thực sự là gió Lào. Gió thổi từ sáng sớm, vần vụ từ ngày sang đêm, ào ạt, nóng bỏng. Lúc này người ta gọi đó là nam ròng, ròng là lõi của thân cây gỗ lâu năm. Không như nam đọt thổi nhẹ nhàng, mang ít hơi mát đầu mùa, nam ròng thổi liên tu bất tận, thổi không ngừng nghỉ và hơi nóng trong ngày tăng dần lên, ngày sau dường lại nóng hơn cả ngày trước.

Thường thì sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc, mặt đất chưa bị nung lên bởi nắng thì gió Lào bắt đầu thổi. Cây cối quanh vườn nhà sau một đêm tránh nắng còn thở ra chút hơi ẩm hiếm hoi nên người ta chưa có cảm giác nóng. Nhưng rất nhanh sau đó, khi mặt trời hé mọc thì gió như hùa cùng với nắng lấy dần đi chút hơi ẩm đầu ngày. Rồi nhiệt độ tăng dần lên, đến lúc mặt trời mọc khoảng hai ba sào, cao ngang hoặc quá ngọn tre đầu làng thì cái nóng đã hầm hập xông vào từng ngôi nhà, góc vườn. Nóng quá, người đang làm đồng có khi dừng lại ngó mặt trời rồi dừng tay, thu dọn cày cuốc sải bước về nhà. Trẻ em đang chơi ở cuối vườn cũng thu dọn đồ chơi dời đến góc sân có giếng nước. Các bà, các mẹ, các chị cũng dừng tay, không làm việc nặng nhọc cốt không phải ra mồ hôi bằng cách chọn những việc nhẹ nhàng và quan trọng là được nhúng tay vào nước như giặt giũ, phơi phóng, xắt rau, vằm chuối cho heo… Không gian làng quê lúc này im ắng hẳn, chỉ còn tiếng gió ù ù thổi dọc triền sông, trên những mái nhà. Gió tung mình trên ngọn cây cao, vặn vẹo những cành yếu khiến lá rụng từng chặp từng chặp. Bờ tre chắn gió đầu làng nghiêng ngả như có ai cột cả trăm sợi dây vào mà rung. Bụi đất bay lên bám vào lá cây, bám vào tường nhà khiến tất cả nhuộm màu của đất, chìm dần vào đất. Thoảng hoặc rất hiếm hoi khi ngọn gió bất chợt dừng lại hoặc yếu đi vài ba giây mới nghe ở đâu đó rất xa tiếng chim bìm bịp khắc khoải thôi dài. Cả tiếng chim như cũng khàn đi vì gió và nắng.

Mặt trời tiếp tục nhô lên, gió tiếp tục lồng lộn, hung dữ. Và cao điểm của gió, của nóng là giờ ngọ, khoảng từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều. Vào giờ này, mặt trời ngay giữa và trên đỉnh đầu, tất cả các bóng cây đều thu vào gốc để lộ ra những vạt nắng chói chang. Mọi vật bị nung lên vì nhiệt độ trong bóng râm có khi lên đến 38, 39, hoặc 40 độ C, ngang và cao hơn cả thân nhiệt của người bình thường. Gió mạnh đến mức nếu nhắm mắt hoặc là người ở xa đến có thể lầm tưởng đang đứng trước cơn bão nhẹ. Từ phía rất xa, gió đã rít lên từng hồi, không còn nghe tiếng xay lúa ù ù mà chỉ còn tiếng rít, tiếng gầm rú. Xen lẫn trong tiếng rú rít của gió là những trường đoạn tạp âm cơ hồ bao gồm cả trăm ngàn âm thanh phát ra bởi cây cối, đồ vật va đập vào nhau. Lúc này, những ngọn cây cao nghiêng ngửa, vòm cây xõa xượi như người uống say, say quá không đứng vững được. Cả bờ tre xoắn xít vào nhau, thân tre cọ vào nhau cháy khô từng đốt, lá tre bay rào rào nhìn tối cả mắt. Không chỉ cây to, đến cả cỏ cũng phải rạp mình xuống, cỏ tranh mềm mại cong mình lại từng đợt từng đợt nhìn xa như sóng đã đành, cỏ dại bò lan trên mặt đất nhiều nhánh cũng bị bứt lên, khuơ khuơ từng chùm rễ nhỏ li ti. Mặt đất càng lúc càng ngập ngụa trong nắng, gió càng lúc càng hừng hực như vãi lửa trên những con đường. Bụi tung lên mù mịt, có khi chẳng nhìn thấy người đi ngoài đường…

Mà thực ra, lúc này cũng ít có ai ra đường. Nếu không có việc cần kíp chẳng ai dại ra đường vào giờ này. Nóng như thế, gió như thế không bị cảm nóng thì cũng dễ sứt đầu mẻ trán vì chuyện không đâu. Hãy thử hình dung, trong mớ âm thanh hỗn tạp mà gió như muốn nhét vào tai bạn có tiếng răng rắc của của những cành cây cao sắp gãy, tiếng mái tôn nhà ai đang chực bứt ra khỏi chiếc đinh lung lay, tiếng gàu rơi xuống giếng, tiếng… và tiếng… Thế đó, dường như vào lúc này, ngoài nắng và gió, cả làng quê như ngưng lại, bất động. Người ta tránh gió và cơn nóng hầm hập dưới những vòm cây cao nhất, rộng nhất hoặc tìm ra bờ sông bắt cá, đùa giỡn với sông nước. Trẻ em, người già cởi áo vắt vai hoặc ở trần trải lá chuối tươi nằm đỡ nóng lưng.

Nhưng cái gì đến rồi cũng phải đi. Quá ngọ sang mùi, những trận gió tuy không hẳn giảm bớt cường độ song mặt trời dần xế về tây, bóng cây đổ dài hơn, nắng xế chiều xiên khoai nhức mắt nhưng cơn nóng lại giảm đi đáng kể. Bởi vì mặt đất đã loang dần bóng cây và ánh nắng buổi chiều cũng không còn hầm hập dội thẳng xuống đỉnh đầu. Tầm 3 giờ chiều trở đi, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Người lớn có thể đánh trâu ra đồng cày nốt đường cày dở dang buổi sáng, trẻ em mang bài vở ra ê a hoặc chơi trò trốn tìm giữa vườn cây um tùm. Đàn gà mới ban trưa lông tả tơi vì gió giờ cục ta cục tác dắt nhau đi tìm mối quanh đụn rơm vàng… Gió vẫn thổi nhưng đã trở nên nhẹ nhàng hơn, mát hơn. Qua liếp cửa nhà ai có thể nhìn thấy một lão nông tri điền ngủ say giấc nồng trên chiếc chõng tre.

Và rồi mùa hè cũng không thể kéo dài ra mãi. Cuối tháng 6 âm lịch hoặc muộn lắm là tháng 7 “nước nhảy lên bờ” những con gió Lào cuối cùng mà người dân quê tôi gọi là nam côộc (côộc là gốc) cũng đi qua. Hơi nóng muộn màng từ những ngọn nam côộc se thêm chút vàng vọt trên vòm cây, ngọn cỏ. Những đóa lau già đi qua một mùa nam nóng thân ngả sang màu rơm, thả nốt những sợi lau trắng li ti còn lại lên trời. Những sợi lau xoay tròn trên không như những chiếc ô bé xíu trong vũ điệu cuối cùng tiễn biệt một mùa nam nóng hanh hao. 

Người xứ khác đôi lần đi ngang qua chỗ eo thắt nhất của miền Trung đều lắc đầu e sợ cái nóng của gió lào, cát trắng. Ấy vậy mà người dân quê tôi hàng bao đời nay vẫn sống, vẫn tồn tại và đi qua những mùa hè như thế. Đến độ quen đi từ lúc nào, ngấm vào máu thịt, không có lại thấy nhớ, thấy thiếu điều gì đó. Cũng như dân miền Tây mùa nước lũ, khổ thì có khổ nhưng vẫn vui bởi đây là mùa cá linh béo đậm đà hương vị phù sa, của bông điên điển thảo thơm hồn quê kiểng. Mùa gió Lào quê tôi cũng vậy. Người ta ra sông, ra suối, ngâm mình dưới nước để tránh nóng nhưng cũng để làm việc khác nữa đó là bắt cá. Mùa này con nước rặc, nhiều chỗ cạn trơ đá ngầm, nhiều con thác mùa mưa chảy xiết giờ chỉ còn riu riu nước. Sông Hiếu mùa gió Lào thời thơ ấu của tôi chỉ lớn hơn con suối, đôi bờ ngút mắt một màu xanh của rì rì, loài cây sống gần nước. Mùa này nước rặc nên tha hồ thả câu, bủa lưới, đặt lờ. Bấy giờ cá nhiều, gặp hên chỉ cần canh giờ là đầy rỗ, cá to để kho, cá vừa vừa để nấu canh và cá nhỏ để dành làm mắm cho mùa mưa sắp tới. Quá trời loại cá ngon, cá chép thịt dày, vảy to bằng đồng xu, cá chình béo tròn, nướng tắt cả bếp, cá kiên không ăn gì ngoài rong rêu nên thịt ngọt mà ruột cá rất sạch làm thành loại mắm ruột độc đáo. Rồi cá thát lát to cỡ bàn tay người lớn, thịt vằm nhuyễn chiên mỡ thì không gì bằng. Cá trơn nhỏ bằng ngón tay, kho nghệ ăn hết nồi cơm lúc nào không hay, cá bống thì có nhiều loại bống thệ, bống cát, bống đá… đem kho tiêu thơm nhức mũi, mùi thơm cuốn theo chiều gió sang tới nhà hàng xóm.

Đó là nói chuyện sông, chuyện suối. Còn như ở nhà, trong vườn cũng lắm chuyện hay. Nóng quá người ta tum năm tụm ba dưới bóng cây lưu niên, thế là hình thành một nét văn hóa ẩm thực đi kèm với… gió. Nóng thì uống bát chè xanh keo đặc gọi là chè xeng đứng đụa (chè xanh cắm đũa vào không đổ), nóng quá thì mua nuốt (giống như sứa) về trộn với vả, chuối xanh, rau thơm ăn vào mát cả bụng. Rồi sẵn cá sông đấy, tha hồ làm gỏi, nấu cháo ăn giải nhiệt. Và hẳn nhiên, quanh bữa ăn dã chiến, để chống lại cái nóng là biết bao câu chuyện trên trời dưới đất, trong đó dĩ nhiên có cả những câu chuyện về gió.

Vậy đó, ai bảo chăn trâu là khổ thì ai bảo gió Lào là đáng ghét. Thử hỏi, trời đất có cho ai cái gì mà không lấy lại cái gì không. Cũng như trong rủi có may, thì trong gió Lào cũng ẩn chứa bao điều thú vị. Cực khổ, chống chọi thì đã đành rồi, tuy vậy cứ sống, cứ tìm cái vui vẻ để sống thì cũng đáng mặt gọi là con người. Lạy trời, ai bảo tôi nói trạng thì thôi xin thể tất cho, vì quá yêu mà nói vậy, không thể tất thì xin cho lời nói gió bay cũng được.

Vâng, tôi giờ là kẻ tha hương nhưng mùa hè nào cũng cạy cục cắt phép vài ngày về thăm quê. Trước nữa là thăm bà con họ hàng nhưng sau nữa là để gặp lại cảm giác của thời thơ ấu, thời chân trần trên đất, ngược gió ra sông vẫy vùng. Không dám nói theo kiểu thi nhân là cầm gió, mang gió hay bắt gió, tôi chỉ mong có những phút giây như thế chỉ để trong lòng sống lại cảm giác của những mùa hè xưa xa, để khi về lại chốn phố phường đông đúc khỏi phải đêm đêm giật mình vì thèm nghe tiếng gió.

Gió Lào ơi, ngươi là ai không cầm nắm được. Mà thương mà…gió suốt cả cuộc đời. 
READ MORE - MÀ THƯƠNG MÀ… GIÓ - Phạm Xuân Hùng

Friday, August 30, 2013

NGƯỜI QUẢNG TRỊ ĂN… ỚT - tạp bút Phạm Xuân Hùng




                                                                                            

Folklore hiện đại kể rằng ở một đô thị lớn nhất nhì trong nước xảy ra vụ tai nạn giao thông khủng kiếp. Người bị tai nạn không có giấy tờ tùy thân nên không xác định được danh tính. Do vậy trước khi khâm liệm, chôn cất người ta mời pháp y giám định để hòng tìm ra manh mối. Bác sĩ pháp y sau khi mổ và xem xét nội tạng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng người bị nạn quê ở Quảng Trị bởi biên bản ghi rõ: ruột của nạn nhân chỉ toàn là ớt. Chuyện khác nữa kể rằng: một chị quê ở Quảng Trị đưa con nhỏ ra theo học một ngành gì đó ở thủ đô. Trường mẫu giáo đạt chuẩn quốc gia nhưng các cô giáo chẳng làm sao dỗ được đứa bé ăn uống mặc dù cháu đang ở độ tuổi ăn dặm, bú dặm. Đến khi hỏi phụ huynh thì chị quê Quảng Trị điềm nhiên bảo: nhờ các cô khi pha sữa hoặc khuấy bột cho nhiều nhiều ớt vào cháu mới ăn…

Đó là hai trong số rất nhiều những câu chuyện dân gian hài hước mà nội dung đều nói rằng người Quảng Trị ăn cay, cay đến mức… khủng khiếp. Tại sao lại ăn cay, ăn cay có nghĩa là ăn nhiều ớt, vậy thì liệu có hình thành một tính cách ớt của người Quảng Trị không? Tôi nghĩ đây cũng là một vấn đề thú vị.

Nhân loại từ khi có lửa, đã biết tìm cách chế biến, nấu nướng thức ăn. Ăn không chỉ để no mà còn để đưa dưỡng chất cần thiết vào cơ thể nên cùng với nguyên vật liệu chính người ta phải nêm nếm vào đó nhiều thứ. Hẳn nhiên, đầu tiên là muối. Cơ thể mà thiếu muối thì bải hoải, da dẻ bủng beo rồi phù thũng mà chết. Sau đó, người ta nhận ra rằng ăn không chỉ để no mà còn phải ăn ngon. Thế là sau muối người ta phải thêm vào thức ăn nhiều thứ tạo vị thơm, ngọt, chua, cay như đường, dấm, ớt, hồ tiêu… Nghĩa là khi con người biết ăn ngon thì gia vị bắt đầu lên ngôi. Nhưng ớt có từ bao giờ và nguồn gốc từ đâu? Theo tài liệu mới nhất của một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế trong đó có nhà khảo cổ học Scott Raymond của Canada sau khi phân tích hóa thạch tinh bột trên những mảnh đá dùng để đâm hạt ớt cổ nhất từ trước đến nay đã đi đến kết luận rằng các hạt ớt cổ nhất có niên đại đến…6.000 năm. Và căn cứ vào địa điểm thu mẫu vật hóa thạch cùng những nghiên cứu liên quan các nhà khoa học cho rằng, khác với điều người ta nhầm tưởng xưa nay là tổ tiển của các nền văn minh lớn ở vùng cao như người Inca, ngườ Aztec là những nguời đầu tiên trồng ớt, bằng chứng cho thấy ngược lại, cây ớt trồng có nguồn gốc từ miền nhiệt đới và vùng thấp thuộc Châu Mỹ la tinh.

Tôi cũng thành thật nói rằng không phải vì tôi là người Quảng Trị mà cho rằng tính cách ớt thuộc về người Quảng Trị. Mà thôi, chuyện cũng dông dài, xin được trải lòng với bạn đọc sau. Nhưng trước hết, xin được thưa rằng, cả nước ăn ớt, cả miền Trung ăn ớt chứ không riêng người Quảng Trị. Nhưng rõ ràng, người miền Trung ăn cay nhiều nhất và nổi tiếng ăn cay hơn cả. Người miền Trung cũng là cách nói chung chung chứ tình thực, theo tôi, hay ăn ớt nhất cũng chỉ có người Quảng Trị, người Huế và người Quảng Nam. Nhưng cách ăn thì mỗi vùng mỗi khác. Người xứ Quảng hay dùng loại ớt xanh, thơm nhưng ít cay. Người Quảng cũng không ăn ớt tràn lan, chỉ một vài món đặc sản như mỳ Quảng kèm theo trái ớt xanh, ớt xanh vài miếng thả vào nước chấm dùng cho món bánh tráng cuốn thịt heo... Thế thôi. Người Huế thì ăn ớt kỳ khu hơn, ớt không chỉ là gia vị mà còn là chất liệu để trang trí mang tính mỹ cảm. Vì là chất liệu trang trí nên cái sự ăn nặng về thị giác. Tô bún bò Huế bên cạnh màu trắng nà nõn của sợi bún, lớp màu mỡ màng của nước dùng, những cọng hành, rau thơm xanh non còn phải có những lát ớt màu đỏ điểm xuyết. Hay như bánh bột lọc sau khi luộc xong người ta phi hành xóc đều cho lá hành thấm dầu bám vào từng chiếc bánh. Khi bày bánh ra dĩa, màu bánh trắng trong nhìn rõ nhân tôm màu đỏ, lá hành dính xung quanh thì nhất thiết phải có ớt xanh xắt lát rải lên làm mặt. Nhìn cứ như tranh. Đại loại kiểu ăn của người Huế với nền văn hóa ẩm thực bậc cao là thế. Còn người Quảng Trị ăn ớt thì khác với người xứ Quảng và đất thần kinh. Người Quảng Trị cũng dùng ớt làm chất liệu bày biện món ăn nhưng không nặng về trình bày, ăn ớt thì nhất quyết phải lấy sự cay làm trọng!

Vâng, đã quan trọng cái sự cay thì ớt phải…cay. Muốn có ớt cay thì phải tìm giống ớt cay để trồng. Người nhà quê không như thành thị, đất đai trồng hái thì khỏi phải lo, về quan hệ thì xóm trên có một người đỏ mắt cả xóm dưới đều hay. Nên chi nhà nào có giống ớt ngon, thơm, cay bao giờ cũng chọn vài trái để già héo trên cây, đặng làm giống, đặng đem cho hàng xóm. Cây ớt và giống ớt cay vì thế mà được nhân bản khắp nơi, từ làng này sang làng khác.

Về khoa học, tôi nhớ đọc đâu đó tài liệu cho rằng người ta đã lập bảng chia độ cay của từng loại ớt, độ cay cũng tính như độ cồn trong bia rượu, độ đạm trong nước mắm. Nghĩa là độ càng cao thì ớt càng cay. Tôi cũng không rõ các giống ớt cay của Quảng Trị thì bao nhiêu độ nhưng quả thật là có nhiều loại ớt đạt đến độ cay…khủng khiếp.

Xét độ cay từ thấp lên cao thì nhóm cuối bảng có ớt sừng (giống ớt xanh), ớt sáp, ớt chìa vôi, ớt kiểng… Loại này thường chỉ dùng để bày biện hoặc gia giảm vào các món ăn cho trẻ để tập chúng ăn cay. Cay hơn một chút là giống ớt đỏ, ớt chỉ thiên.  Nhóm này thường trực trong các món ăn và được trồng phổ biến ở vùng quê. Thuộc hàng “top” thì phải kể đến hai loại đó là ớt mọi và ớt de. Ớt mọi là ớt được đồng bào dân tộc vùng cao trồng sau đó di thực về vùng xuôi, loại ớt này cay đáo để, trái nhỏ bằng đầu đũa nhưng chỉ nửa trái cũng đủ làm bát nước mắm cay xè. Ớt de còn độc đáo hơn (không hiểu vì sao gọi là ớt de và chữ de này có liên quan gì đến lúa de An Cựu nổi tiếng trong câu ca dao: “Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi. Gạo de An Cựu về nuôi mẹ già” không, vụ này chắc phải nhờ các nhà ngôn ngữ, dân tộc học… giải thích dùm), trái chỉ lớn hơn hạt lúa một chút, nhưng cay thì tàn khốc. Người không quen ăn cay thấy trái nhỏ tưởng bở ăn liền một miếng thì sau đó nhịn đói luôn vì mồm miệng bỏng rát. Giống ớt trồng qua mấy vụ thì thường thoái hóa, ít cay hơn. Để kiếm hạt giống người ta phải nhờ vào chim, nhất là loài vẹt. Những loài chim ăn ớt thường rất khôn, chỉ chọn loại ớt cay và những trái ớt chín đạt đến độ cay nhất. Nhờ vậy, người ta tìm phân của những con chim ăn ớt sau đó về rửa, đãi sạch lấy hạt giống về trồng. Cũng nói thêm, loại ớt này ngày xưa được bộ đội Trường Sơn gọi là ớt Đại đội vì cho rằng chỉ cần một trái là đủ cho một đại đội dùng bữa (nghĩa là người ta không cần cắn, mỗi người chỉ quẹt trái ớt ngang lưỡi thì đủ cay cho cả bữa ăn!).

Người Quảng Trị ăn ớt cay nhưng không chỉ ăn ớt sống theo kiểu nhai ngang mà còn chế biến nhiều loại thức ăn. Cay thường đi với mặn. Món kết hợp cay mặn đó là muối trắng giã với ớt, nước mắm xắt ớt thật nhiều và ruốc hấp trộn với ớt giã nhỏ. Cả ba loại trên vừa dễ chế biến, vừa hợp với gia cảnh thanh bần, ăn uống không cầu kỳ chỉ cần đưa cơm là được. Sang hơn một chút, trong các bữa ăn chính quy là cá kho ớt, thịt xào ớt. Cá kho ớt thì lượng ớt bỏ vào có khi bằng lượng cá. Những loại cá kho ngon như cá biển (thu, ngừ, nục…) khi nấu người ta để nguyên hoặc bẻ đôi từng trái ớt thả vào. Kho càng lâu, vị thơm cay thấm vào cá, nước cá kho sánh lại quyện từng hạt ớt, nước này dùng để ăn cơm nóng hoặc bún thì quên cả trời đất. Đặc biệt trong các bữa ăn người ta rất quan tâm đến bát nước chấm. Nước chấm dùng cho rau luộc, thịt luộc đều phải giã ớt tỏi thật nhiều, khi chấm da ớt và hạt ớt dính theo gắp rau, lát thịt mới gọi là đáo khẩu. Nhưng có lẽ trong các món ăn thì món mắm ớt mới thực sự độc nhất vô nhị. Ớt tươi sau thu hoạch đem rửa sạch phơi heo héo rồi xếp thành lớp trong vại giống như muối cà, giữa hai lớp ớt là một lớp muối mỏng. Đậy kín lại cất vào xó bếp vài tháng sau đem ra là đã có món mắm ớt. Lúc này vị muối hút nước trong quả ớt tạo thành thứ tương ớt cay xé và mặn mòi. Còn quả ớt sau khi rút nước teo lại đưa lên răng cắn nghe giòn tan, rất đã.

Nói chung, mùa nào thức nấy, nhưng với người Quảng Trị các bữa ăn quanh năm đều phải có ớt. Mùa thu hoạch ớt đại trà hoặc nhà nào có trồng vài cây ớt chỉ thiên ra quả quanh năm thì đến bữa trên mâm chí ít cũng phải có nắm ớt không dưới mươi quả. Mùa đông trời lạnh, cây cối nghỉ ngơi đã có hũ mắm ớt để dành. Không có ớt tươi hay mắm ớt người ta  dùng ớt khô nguyên trái hoặc ớt bột cho vào thức ăn. Người lớn ăn cay, trẻ em cũng ăn cay, đứa nào chưa ăn được thì cũng phải ăn cho quen dần không thôi nhịn đói.

Ăn ớt nhiều nên người Quảng Trị chỉ nhìn trái ớt dù là ớt xanh cũng biết ớt non hay ớt già, cay hay không cay. Ớt xanh non có màu xanh trong, bao ớt (màng trắng mỏng phía cuống ớt còn gọi là mào, ca dao có nhắc: “Gió đưa trái ớt trớt mào/Ai ve con mụ (mà) mụ cào dái tui..”) chưa rụng, ớt xanh già có màu xanh thẫm hơn, cuống ớt rụng bao xòe ra. Ớt non ngửi bên ngoài có mùi hăng của quả non, ớt già thì vị cay như chui ra khỏi vỏ xộc vào mũi.

Nói chuyện ớt đã nhiều bây giờ thì xin nói về tính cách ớt của người Quảng Trị. Hẳn có người cho rằng tôi nói lãng nhách nhưng không phải vậy. Phàm con người ta ở đâu, ăn gì, uống gì cũng ảnh hưởng qua lại tính cách cả. Luận về điều này thì nói cả ngày cũng không hết, ví như anh ở chùa thì dùng đồ chay để tu dưỡng tánh tình, đặng đi hết đường tu. Nói vậy đủ thấy món ăn là quan trọng trong việc củng cố, hình thành tâm nết, tính cách con người.

Tôi xin thử nêu mấy điểm trong tính cách của người Quảng Trị liên quan đến ớt.

Thứ nhất là đức tính chịu khó. Theo tôi, tập ăn cay buổi đầu phải chịu khó, trẻ em muốn ăn cùng thức ăn người lớn chẳng dễ dàng, cũng phải năm lần bảy lượt toát mồ hôi, long óc mới nuốt được miếng ớt. Lâu dần tính chịu khó ngấm vô người trở thành phản ứng tự nhiên lúc nào không hay. Dĩ nhiên đã chịu khó thì sẽ tìm cách vượt khó, vượt khổ. Người Quảng Trị theo tôi có tính cách này.

Thứ hai là sống đơn giản, đạm bạc. Khi xưa nhà tôi nghèo, cả làng cũng vậy, nghèo lắm. Bữa ăn chẳng có gì ngoài mớ cá nhỏ bắt ở khe, trái khế trong vườn, đọt môn sau giếng. Nhưng bữa ăn nào cũng thấy ngon nhờ có ớt. Ớt như thứ dopinh kích thích người ta ăn xong bữa. Lâu dần thành nếp sống đơn giản, đạm bạc.

Thứ ba là giỏi nín nhịn và hay nổi nóng. Nghe có vẻ đối lập nhưng biện chứng. Ăn cay phải chịu khó, trên chịu khó là nín nhịn nhưng nhiều khi cay quá phải hít hà, phải chửi đổng mới khoái khẩu. Từ nhỏ đã vậy lớn lên khắc thành tính cách.

Thứ nữa, nhiều lắm, cả xấu lẫn tốt, chẳng hạn: thủy chung với bạn bè nhưng lại hay cà khịa, miệng nói tay làm nhưng hay nói trạng, chịu khó học hành, học giỏi nhưng cũng hay khoe chữ, cao ngạo… Tất cả nếu phân tích thấu đáo hẳn ít nhiều cũng liên quan đến ớt.

Viết đến đây nghĩ cũng hòm hòm về chuyện người Quảng Trị với ớt. Định nói thêm một câu kết luận rằng người Quảng Trị có tính cách…ớt, nhưng thôi. Nói dài, nói dai là nói dại. Với lại, kết luận như thế chắc có người xứ khác không đồng tình, bảo rằng tôi nói lấy được, nói trạng.

Biết làm sao được, cái nói lấy được, nói trạng của tôi cũng bởi tôi là người Quảng Trị. Một người Quảng Trị ăn ớt.

Phạm Xuân Hùng


Phạm Xuân Dũng gởi đăng


READ MORE - NGƯỜI QUẢNG TRỊ ĂN… ỚT - tạp bút Phạm Xuân Hùng

Saturday, December 15, 2012

MÀ THƯƠNG MÀ ... GIÓ - Phạm Xuân Hùng

Tác giả PHẠM XUÂN HÙNG bút hiệu TỪ DẠ THẢO
(Ký họa của Phan Ngọc Minh)


                “… Đố ai ngăn gió, gió đừng rung cây…” - Ca dao
                                                                                                     
Hình ảnh thơ chuyển tải những thông điệp mỹ học quan trọng nhất trong thi ca cổ điển là hệ thống các biểu tượng “phong, hoa, tuyết, nguyệt…”. Cũng lạ là trong hệ thống biểu tượng ấy, đứng đầu và cũng hình như duy nhất nhà thơ không nhìn thấy đó chính là gió. Nghĩa là thi sĩ chỉ “ru với gió” bằng tất cả các giác quan, bằng trái tim, nhưng cầm nắm, nhìn thấy được như hoa cỏ, vầng trăng, con nước thì không. Vậy mà, cũng thật lạ, là gió tác động mãnh liệt vào cảm xúc thi nhân. Bên cạnh ngọn “gió mùa thu mẹ ru con ngủ…” xao xuyến tấc lòng là những ngọn gió xuân tươi sắc, gió hè mát rượi, gió đông rét ngặt rét nghèo…tất cả đều hiện diện trong thi ca. Tôi nghĩ, có lẽ, trong muôn loài và hiện tượng thì gió về bản chất gần với thi sĩ hơn cả, vì sự phóng túng và cả những vô thường của gió.

Quê tôi ở miền Trung, nơi mà người ta thường định danh chẳng cần vùng miền cụ thể, chỉ cần nói đó là nơi “gió lào cát trắng”. Cát trắng thì hẳn nhiên, trắng từ đời nảo đời nào, từ thuở Nguyễn Hoàng khởi nghiệp xứ Đàng Trong, lúc những bước chân vượt Đèo Ngang của ông bắt gặp chang chang cồn cát kéo dài những Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa… Để tiếp sau đó, chỗ định cư đầu tiên của ông là bãi cát dài xứ Sa Khư thuộc Ái Tử, tỉnh Quảng Trị ngày nay. Cát thì vậy, còn gió thì dường như có từ thời khai thiên lập địa, chỉ có điều gió ở quê tôi là gió Lào, không ở vùng miền nào trên đất nước có được. Gió Lào và cát trắng, nghe cứ như một thành ngữ, đăng đối, biền ngẫu và mật thiết đến mức ngỡ là tự nhiên phải thế, không cần hỏi cũng chẳng cần giải thích thêm.

Sách địa lý phổ thông dạy rằng tên chính danh của gió Lào chính là gió phơn Tây Nam, gốc gác phía bên kia dãy Trường Sơn hướng tây. Gió phơn Tây Nam mang nhiều hơi nước nhưng do phải băng qua ngàn dặm Trường Sơn núi non trùng điệp nên những giọt nước mang theo đã bốc hơi trước khi về đến cuối nguồn. Nghĩa là khi về đến miền Trung eo thắt, những ngọn gió trở nên khô rát và bởi vì từ phía nước bạn Lào thổi sang mà người ta gọi là gió Lào.

Tôi ngày thơ ấu ở ven dòng sông Hiếu, con sông hẹp như một đường chỉ nhỏ nép giữa hai bờ lau sậy, ôm ven dọc theo con đường 9 nổi tiếng từ thời kháng Pháp. Cũng xin nói thêm rằng, người ở xa nói về Quảng Trị thường chỉ biết đến Hiền Lương là giới tuyến chia cắt đất nước mấy chục năm trời hay sông Thạch Hãn gắn với Thành cổ-con sông từng được ví như Nghĩa trang quốc gia không mộ chí bởi lòng sông đã ôm giấu hàng ngàn liệt sĩ trong những ngày máu lửa ở Cổ thành Quảng Trị. Còn sông Hiếu ít nổi tiếng hơn nhưng nếu ai chịu khó đọc vài trang sử xưa cũng biết rằng đây là dòng sông có ngọn nguồn từ miền Ai Lao,  từng là hành lang giao thông giao thương giữa miền tây với trung du và đồng bằng Quảng Trị xưa. Ấy là nói theo những ghi chép có từ “Ô châu cận lục” của Dương Văn An hay “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn. Còn như thời cận hiện đại ai cũng biết dọc theo con sông này có những địa danh nổi tiếng như Cam Lộ với hai lần được chọn làm kinh đô (một là vua Hàm Nghi chọn Tân Sở làm căn cứ dựng cờ Cần Vương, hai là Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam). Lại nói về sông Hiếu, sông không rộng, chẳng dài nhưng bù lại mang vẻ đẹp hoang dại của hai bờ rừng rú. Và tuổi thơ tôi đã lớn lên cùng sông, cùng những ngọn gió Lào khô khát thổi dọc đôi bờ sông quê.

Vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch là mùa lau nở, báo hiệu xuân sang hè tới. Bấy giờ, những ngọn gió Lào đầu tiên thổi nhẹ qua vườn, nhẹ lắm nhiều khi chẳng nhận ra. Chỉ biết, vào một sớm mai nào đó thức dậy, nghe rười rượi làn gió cùng tiếng chim, tiếng côn trùng rỉ rả ở đụn rơm, mái bếp. Nếu vườn nhà ai có nhiều cây xanh lưu niên như mít, xoài, cà phê… thì ngọn gió càng mát lạnh khiến thân mình trở nên lười biếng, mắt mở rồi lại muốn nhắm tiếp để chìm đắm trông giấc mê man cùng gió.

Kỳ thực ở quê tôi người ta ít gọi tên gió Lào mà thường hay gọi gió Nam, một cách gọi có lẽ để phân biệt với gió nồm thổi lên từ phía biển. Và bắt đầu mùa gió Lào, khi những ngọn gió vẫn còn mát mẻ, chưa bị rang nóng người ta gọi là nam đọt. Đọt tức là ngọn cây, ngọn cỏ mới nhú, mới tượng hình. Nam đọt vì thế có thể xem như gió Lào mới nhú, báo hiệu bắt đầu một mùa nam nóng khắc nghiệt sẽ đi qua.

Rồi chẳng ai nhớ nữa, những ngọn nam đọt bắt đầu mạnh dần lên, hơi mát chỉ còn đâu đó trên màu lá cây hoặc dọc ven những dòng suối nhỏ khuất lấp bởi cây rừng. Còn ở làng quê, hoặc đôi bờ sông trống trải, gió nam trở nên hanh hao từ lúc nào. Gió như đàn ong bay đi tìm mật, từ xa đã nghe tiếng rào rào, tiếng của những vòm lá xao động, của bờ tre xao xác và những ngọn cỏ đang ngả theo chiều gió.

Cũng rất nhanh, chừng khoảng chưa đầy một tháng sau ngọn nam đọt đầu tiên gió Lào thực sự bước vào chính vụ. Lúc này thì gió cũng mới thực sự là gió Lào. Gió thổi từ sáng sớm, vần vụ từ ngày sang đêm, ào ạt, nóng bỏng. Lúc này người ta gọi đó là nam ròng, ròng là lõi của thân cây gỗ lâu năm. Không như nam đọt thổi nhẹ nhàng, mang ít hơi mát đầu mùa, nam ròng thổi liên tu bất tận, thổi không ngừng nghỉ và hơi nóng trong ngày tăng dần lên, ngày sau dường lại nóng hơn cả ngày trước.

Thường thì sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc, mặt đất chưa bị nung lên bởi nắng thì gió Lào bắt đầu thổi. Cây cối quanh vườn nhà sau một đêm tránh nắng còn thở ra chút hơi ẩm hiếm hoi nên người ta chưa có cảm giác nóng. Nhưng rất nhanh sau đó, khi mặt trời hé mọc thì gió như hùa cùng với nắng lấy dần đi chút hơi ẩm đầu ngày. Rồi nhiệt độ tăng dần lên, đến lúc mặt trời mọc khoảng hai ba sào, cao ngang hoặc quá ngọn tre đầu làng thì cái nóng đã hầm hập xông vào từng ngôi nhà, góc vườn. Nóng quá, người đang làm đồng có khi dừng lại ngó mặt trời rồi dừng tay, thu dọn cày cuốc sải bước về nhà. Trẻ em đang chơi ở cuối vườn cũng thu dọn đồ chơi dời đến góc sân có giếng nước. Các bà, các mẹ, các chị cũng dừng tay, không làm việc nặng nhọc cốt không phải ra mồ hôi bằng cách chọn những việc nhẹ nhàng và quan trọng là được nhúng tay vào nước như giặt giũ, phơi phóng, xắt rau, vằm chuối cho heo… Không gian làng quê lúc này im ắng hẳn, chỉ còn tiếng gió ù ù thổi dọc triền sông, trên những mái nhà. Gió tung mình trên ngọn cây cao, vặn vẹo những cành yếu khiến lá rụng từng chặp từng chặp. Bờ tre chắn gió đầu làng nghiêng ngả như có ai cột cả trăm sợi dây vào mà rung. Bụi đất bay lên bám vào lá cây, bám vào tường nhà khiến tất cả nhuộm màu của đất, chìm dần vào đất. Thoảng hoặc rất hiếm hoi khi ngọn gió bất chợt dừng lại hoặc yếu đi vài ba giây mới nghe ở đâu đó rất xa tiếng chim bìm bịp khắc khoải thôi dài. Cả tiếng chim như cũng khàn đi vì gió và nắng.

Mặt trời tiếp tục nhô lên, gió tiếp tục lồng lộn, hung dữ. Và cao điểm của gió, của nóng là giờ ngọ, khoảng từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều. Vào giờ này, mặt trời ngay giữa và trên đỉnh đầu, tất cả các bóng cây đều thu vào gốc để lộ ra những vạt nắng chói chang. Mọi vật bị nung lên vì nhiệt độ trong bóng râm có khi lên đến 38, 39, hoặc 40 độ C, ngang và cao hơn cả thân nhiệt của người bình thường. Gió mạnh đến mức nếu nhắm mắt hoặc là người ở xa đến có thể lầm tưởng đang đứng trước cơn bão nhẹ. Từ phía rất xa, gió đã rít lên từng hồi, không còn nghe tiếng xay lúa ù ù mà chỉ còn tiếng rít, tiếng gầm rú. Xen lẫn trong tiếng rú rít của gió là những trường đoạn tạp âm cơ hồ bao gồm cả trăm ngàn âm thanh phát ra bởi cây cối, đồ vật va đập vào nhau. Lúc này, những ngọn cây cao nghiêng ngửa, vòm cây xõa xượi như người uống say, say quá không đứng vững được. Cả bờ tre xoắn xít vào nhau, thân tre cọ vào nhau cháy khô từng đốt, lá tre bay rào rào nhìn tối cả mắt. Không chỉ cây to, đến cả cỏ cũng phải rạp mình xuống, cỏ tranh mềm mại cong mình lại từng đợt từng đợt nhìn xa như sóng đã đành, cỏ dại bò lan trên mặt đất nhiều nhánh cũng bị bứt lên, khuơ khuơ từng chùm rễ nhỏ li ti. Mặt đất càng lúc càng ngập ngụa trong nắng, gió càng lúc càng hừng hực như vãi lửa trên những con đường. Bụi tung lên mù mịt, có khi chẳng nhìn thấy người đi ngoài đường…

Mà thực ra, lúc này cũng ít có ai ra đường. Nếu không có việc cần kíp chẳng ai dại ra đường vào giờ này. Nóng như thế, gió như thế không bị cảm nóng thì cũng dễ sứt đầu mẻ trán vì chuyện không đâu. Hãy thử hình dung, trong mớ âm thanh hỗn tạp mà gió như muốn nhét vào tai bạn có tiếng răng rắc của của những cành cây cao sắp gãy, tiếng mái tôn nhà ai đang chực bứt ra khỏi chiếc đinh lung lay, tiếng gàu rơi xuống giếng, tiếng… và tiếng… Thế đó, dường như vào lúc này, ngoài nắng và gió, cả làng quê như ngưng lại, bất động. Người ta tránh gió và cơn nóng hầm hập dưới những vòm cây cao nhất, rộng nhất hoặc tìm ra bờ sông bắt cá, đùa giỡn với sông nước. Trẻ em, người già cởi áo vắt vai hoặc ở trần trải lá chuối tươi nằm đỡ nóng lưng.

Nhưng cái gì đến rồi cũng phải đi. Quá ngọ sang mùi, những trận gió tuy không hẳn giảm bớt cường độ song mặt trời dần xế về tây, bóng cây đổ dài hơn, nắng xế chiều xiên khoai nhức mắt nhưng cơn nóng lại giảm đi đáng kể. Bởi vì mặt đất đã loang dần bóng cây và ánh nắng buổi chiều cũng không còn hầm hập dội thẳng xuống đỉnh đầu. Tầm 3 giờ chiều trở đi, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Người lớn có thể đánh trâu ra đồng cày nốt đường cày dở dang buổi sáng, trẻ em mang bài vở ra ê a hoặc chơi trò trốn tìm giữa vườn cây um tùm. Đàn gà mới ban trưa lông tả tơi vì gió giờ cục ta cục tác dắt nhau đi tìm mối quanh đụn rơm vàng… Gió vẫn thổi nhưng đã trở nên nhẹ nhàng hơn, mát hơn. Qua liếp cửa nhà ai có thể nhìn thấy một lão nông tri điền ngủ say giấc nồng trên chiếc chõng tre.

Và rồi mùa hè cũng không thể kéo dài ra mãi. Cuối tháng 6 âm lịch hoặc muộn lắm là tháng 7 “nước nhảy lên bờ” những con gió Lào cuối cùng mà người dân quê tôi gọi là nam côộc (côộc là gốc) cũng đi qua. Hơi nóng muộn màng từ những ngọn nam côộc se thêm chút vàng vọt trên vòm cây, ngọn cỏ. Những đóa lau già đi qua một mùa nam nóng thân ngả sang màu rơm, thả nốt những sợi lau trắng li ti còn lại lên trời. Những sợi lau xoay tròn trên không như những chiếc ô bé xíu trong vũ điệu cuối cùng tiễn biệt một mùa nam nóng hanh hao.

Người xứ khác đôi lần đi ngang qua chỗ eo thắt nhất của miền Trung đều lắc đầu e sợ cái nóng của gió lào, cát trắng. Ấy vậy mà người dân quê tôi hàng bao đời nay vẫn sống, vẫn tồn tại và đi qua những mùa hè như thế. Đến độ quen đi từ lúc nào, ngấm vào máu thịt, không có lại thấy nhớ, thấy thiếu điều gì đó. Cũng như dân miền Tây mùa nước lũ, khổ thì có khổ nhưng vẫn vui bởi đây là mùa cá linh béo đậm đà hương vị phù sa, của bông điên điển thảo thơm hồn quê kiểng. Mùa gió Lào quê tôi cũng vậy. Người ta ra sông, ra suối, ngâm mình dưới nước để tránh nóng nhưng cũng để làm việc khác nữa đó là bắt cá. Mùa này con nước rặc, nhiều chỗ cạn trơ đá ngầm, nhiều con thác mùa mưa chảy xiết giờ chỉ còn riu riu nước. Sông Hiếu mùa gió Lào thời thơ ấu của tôi chỉ lớn hơn con suối, đôi bờ ngút mắt một màu xanh của rì rì, loài cây sống gần nước. Mùa này nước rặc nên tha hồ thả câu, bủa lưới, đặt lờ. Bấy giờ cá nhiều, gặp hên chỉ cần canh giờ là đầy rỗ, cá to để kho, cá vừa vừa để nấu canh và cá nhỏ để dành làm mắm cho mùa mưa sắp tới. Quá trời loại cá ngon, cá chép thịt dày, vảy to bằng đồng xu, cá chình béo tròn, nướng tắt cả bếp, cá kiên không ăn gì ngoài rong rêu nên thịt ngọt mà ruột cá rất sạch làm thành loại mắm ruột độc đáo. Rồi cá thát lát to cỡ bàn tay người lớn, thịt vằm nhuyễn chiên mỡ thì không gì bằng. Cá trơn nhỏ bằng ngón tay, kho nghệ ăn hết nồi cơm lúc nào không hay, cá bống thì có nhiều loại bống thệ, bống cát, bống đá… đem kho tiêu thơm nhức mũi, mùi thơm cuốn theo chiều gió sang tới nhà hàng xóm.

Đó là nói chuyện sông, chuyện suối. Còn như ở nhà, trong vườn cũng lắm chuyện hay. Nóng quá người ta tum năm tụm ba dưới bóng cây lưu niên, thế là hình thành một nét văn hóa ẩm thực đi kèm với… gió. Nóng thì uống bát chè xanh keo đặc gọi là chè xeng đứng đụa (chè xanh cắm đũa vào không đổ), nóng quá thì mua nuốt (giống như sứa) về trộn với vả, chuối xanh, rau thơm ăn vào mát cả bụng. Rồi sẵn cá sông đấy, tha hồ làm gỏi, nấu cháo ăn giải nhiệt. Và hẳn nhiên, quanh bữa ăn dã chiến, để chống lại cái nóng là biết bao câu chuyện trên trời dưới đất, trong đó dĩ nhiên có cả những câu chuyện về gió.

Vậy đó, ai bảo chăn trâu là khổ thì ai bảo gió Lào là đáng ghét. Thử hỏi, trời đất có cho ai cái gì mà không lấy lại cái gì không. Cũng như trong rủi có may, thì trong gió Lào cũng ẩn chứa bao điều thú vị. Cực khổ, chống chọi thì đã đành rồi, tuy vậy cứ sống, cứ tìm cái vui vẻ để sống thì cũng đáng mặt gọi là con người. Lạy trời, ai bảo tôi nói trạng thì thôi xin thể tất cho, vì quá yêu mà nói vậy, không thể tất thì xin cho lời nói gió bay cũng được.

Vâng, tôi giờ là kẻ tha hương nhưng mùa hè nào cũng cạy cục cắt phép vài ngày về thăm quê. Trước nữa là thăm bà con họ hàng nhưng sau nữa là để gặp lại cảm giác của thời thơ ấu, thời chân trần trên đất, ngược gió ra sông vẫy vùng. Không dám nói theo kiểu thi nhân là cầm gió, mang gió hay bắt gió, tôi chỉ mong có những phút giây như thế chỉ để trong lòng sống lại cảm giác của những mùa hè xưa xa, để khi về lại chốn phố phường đông đúc khỏi phải đêm đêm giật mình vì thèm nghe tiếng gió.

          Gió Lào ơi, ngươi là ai không cầm nắm được. Mà thương
       mà…gió suốt cả cuộc đời.




PHẠM XUÂN HÙNG
Đạo diễn phim tài liệu
Đài VTV Đà Nẵng

***
Phạm Xuân Dũng gởi đăng


READ MORE - MÀ THƯƠNG MÀ ... GIÓ - Phạm Xuân Hùng