Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Bính. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Bính. Show all posts

Wednesday, August 7, 2019

LẼ VÔ THƯỜNG TRONG THƠ TRANG TỬ, NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU… - La Thụy


  
                 “Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp

              Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi”


LẼ VÔ THƯỜNG TRONG THƠ TRANG TỬ, NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU…

Tình cờ lướt web, đọc bài Đạo Chích (chương 29, Trang Tử Nam Hoa Kinh), tôi cứ tủm tỉm cười. Trang Tử khá “độc” khi đem “vạn thế sư biểu” Khổng Tử của Nho giáo ra đùa cợt. Hình ảnh uy nghi, khẳng khái “uy vũ bất năng khuất” đâu chẳng thấy mà chỉ còn là hình ảnh lão già tầm thường run như cầy sấy trước hành động hung cuồng bạo ngược của Đạo Chích – kẻ bị cho là “đào tường khoét vách, lùa ngựa bò, bắt cóc vợ và con gái người ta, tham lợi tới quên cả thân thích, không đoái hoài tới cha mẹ anh em, không cúng giỗ tổ tiên”. Đạo Chích vừa mới cất vài lời “cường ngôn” phản bác mà “Khổng Tử vái hai vái rồi vội vàng chạy ra cửa, lên xe ba lần mới nắm được dây cương vì hoảng hốt, mắt không thấy rõ, mặt tái như tro tàn, ngồi dựa vào cái đòn ở trước xe, đầu cuối xuống, thở không ra hơi”. Trang Tử khéo giễu quá đi thôi! Đạo giáo cùng Nho giáo Tàu cũng “chỏi” nhau ra trò đó chứ!

Nhắc đến Trang Tử, tôi chợt nhớ hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp
Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi”

Qua hai câu thơ ấy, hình tượng Trang Tử có vẻ tiêu sái thoát tục, tôi tò mò tìm đọc nội dung khúc Cổ Bồn Ca xem thế nào. Hoá ra Trang Tử thiêu cơ nghiệp và gõ bồn hát, cảm khái vì lẽ vô thường “vợ mình thằng khác xài, con mình thằng khác sai”... Sao bi hài thế nhỉ !

CỔ BỒN CA

Kham ta phù thế sự
Hữu như hoa khai tạ
Thê tử ngã tất mai
Ngã tử thê tất giá.

Ngã nhược tiên tử thời
Nhất trường đại tiếu thoại
Điền bị tha nhân canh
Mã bị tha nhân khóa
Thê bị tha nhân luyến
Tử bị tha nhân mạ.

Dĩ tử đổng thường tình
Tương khan lệ bất hạ
Thế nhân tiếu ngã bất bi thương
Ngã tiếu thế nhân không đoạn trường
Thế sự nhược hoàn khốc đắc chuyển
Ngã diệc thương sầu lệ vạn hàng.

                                  TRANG TỬ

BÀI HÁT CỔ BỒN

Ôi cuộc đời nổi trôi
Khác nào hoa nở, rụng
Vợ chết trước ta lo mai táng
Ta chết vợ sang ngang.

Ví bằng ta chết trước
Thật một trường đại hài hước
Ruộng ta người sẽ cày
Ngựa ta người sẽ cỡi
Vợ ta người sẽ thương
Con ta người mắng chửi.

Tình thế là như vậy
Nếu lệ ta chẳng rơi
Thế gian cười tớ vô tình
Tớ cười thiên hạ như bình lệ chan
Khóc mà đổi được tuần hoàn
Thì ta đã khóc muôn ngàn năm nay.

               VÕ TƯ NHƯỢNG dịch

Sự tích Trang Tử đốt nhà và gõ bồn hát, như sau:

Trang Tử đi chơi về, nằm lăn xuống phản kê giữa nhà, chân chữ ngũ, chàng cười, cười như nắc nẻ, cười mãi. Vợ Trang Tử thấy lạ, lấy ghế ngồi bên cạnh, hỏi chồng: “Mình có việc gì mà cười lắm thế?” Trang Tử ngồi nhỏm dậy, nói: “Thế này nhé...” rồi lại cười. Khi ngớt cơn cười, Trang Tử mới kể:
Trang Tử đi qua một cánh đồng chợt thấy một thiếu phụ xinh đẹp, đội khăn tang che mái tóc mượt mà, đang cố sức quạt lấy quạt để; trước mặt nàng là một nấm mồ mới đắp, cỏ chưa mọc, đất còn ẩm. Trang Tử lấy làm lạ; chàng dừng lại, chăm chú nhìn. Thiếu phụ xinh đẹp quạt rất nhiệt tình, mỏi tay này đổi tay khác. “Hay là nàng thương người dưới mồ nóng bức?”. Nghĩ vậy, chàng đánh liều hỏi: “Thưa quí nhân, nàng quạt mồ là nghĩa làm sao?”. Người đẹp ngước đôi mắt đen long lanh, đáp: “Ðây là mồ chồng thiếp. Trước khi chết, chồng thiếp trối trăn hai, ba lần: Phải đợi đất mồ chàng khô rồi hãy lấy chồng. Thiếp thương chồng, không quên lời căn dặn cuối cùng của chàng, nên thiếp quạt mồ chóng khô.” Trang Tử lại tỏ lòng thương xót người thiếu phụ biết làm theo lời trăn trối của chồng.
Nghe câu chuyện, vợ Trang Tử ngúng nguẩy đứng dậy, nhăn nhó: “Thế mà mình cười được. Ðàn bà đâu trơ trẽn đến thế”. Trang Tử thở dài: “Chỉ mong khi tôi chết, mình quàn tôi một trăm ngày rồi hãy chôn, sau đó hãy tái giá nhé!”. Vợ Trang Tử trách móc chồng vì đã nói gỡ, nàng đoan chắc nếu Trang Tử có mệnh hệ nào, thì nàng nhất quyết cư tang, suốt đời thủ tiết thờ chồng không tái giá. Không bao lâu, Trang Tử bỗng nhiên đột tử. Thi hài Trang Tử liệm trong quan tài, quàn trong nhà. Ðược dăm hôm, một chàng trai trẻ đẹp, hào hoa đến. Chàng thư sinh nhận mình là học trò thầy Trang Tử, đến phúng viếng thầy. Chàng nói: “Nhà tôi ở mãi chân núi, xin cô cho ở lại mấy hôm”. Vợ Trang Tử vừa thấy chàng, đã đem lòng vấn vương; nàng vội nhận lời. Từ đêm ấy, hai bên quấn quít nhau, không rời nhau được. Bỗng một hôm, chàng ôm bụng lăn lộn trên giường, mồ hôi nhễ nhại. Chàng trai kêu đau, rên la thảm thiết. Chàng ú ớ nói chàng khó qua khỏi. Người thiếu phụ hoảng hốt. Chàng bảo vốn chàng bị bệnh đau bụng kinh niên, chỉ một thứ thuốc duy nhất cứu được chàng: lấy sọ người mới chết, mài ra, uống ngụm nước nóng, thế là khỏi. Vợ Trang Tử, ngay đêm ấy, lấy cái vồ đập săng đựng xác chồng, định lấy cái sọ chồng chữa bệnh cho người tình. “Thịch, thịch, thịch” vồ nện mấy nhát, nắp săng bật tung. Trang Tử nhổm dậy hỏi “nàng làm gì vậy ?” Sau cơn hoảng sợ, vợ Trang Tử trấn tĩnh lại, nàng đáp: “thiếp nghe trong quan tài có tiếng động, nên nghĩ rằng chàng tỉnh lại nên cậy quan tài ra”.
Trang Tử bước ra khỏi quan tài, cùng vợ trở về phòng. Vợ Trang Tử bước đi mà lòng lo lắng… Về đến phòng, không thấy thư sinh đâu cả. Đang bần thần thì Trang Tử bảo: “Ta gọi người tình của nàng đến nhé”. Ngọn đèn trong phòng chao chao và mờ dần, Trang Tử đột nhiên biến mất và chàng thư sinh trẻ đẹp hiện ra…Vợ Trang Tử biết chồng dùng phép thuật để thử lòng vợ. Nàng xấu hổ quá, nàng ốm, vài hôm sau nàng chết. Nàng chết, Trang Tử nực cười cho đời người. Chàng lấy cái chậu, vừa gõ vừa ca bài Cổ bồn, bài ca vừa như cười, cái cười hềnh hệch, vừa như khóc, cái khóc xót xa cho thân phận con người: “Ôi thói đời! Nghĩ mà đau lòng...! Nhìn nhau lệ chẳng rơi lã chã...! Ta cười cuộc đời lắm nỗi đau thương...”.
(Phỏng theo Kim cổ kỳ quan của Ủng Bảo lão nhân)

Từ câu chuyện trên, dân gian Việt Nam có câu: Quạt mồ còn hơn bổ quan tài.

Hay là:

Thương thay cho kẻ quạt mồ
Ghét thay cho kẻ cầm vồ bửa săng.

Thiên Chí Lạc, Nam Hoa Kinh viết :

“Vợ Trang Tử mất, Huệ Thi đến điếu, thấy Trang Tử ngồi duỗi xoạc hai chân vừa gõ bồn vừa ca. Huệ Tử hỏi:
- Cùng người ở tới già, có con lớn mà người chết lại không khóc, cũng là đã quá lắm rồi ! Lại còn vỗ bồn mà ca, không quá lắm sao?
Trang Tử đáp:
- Không ! Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng động lòng, nhưng nghĩ lại, hồi trước nàng vốn không sinh, chẳng những không sinh mà đó lại vốn không hình, chẳng những không hình mà đó vốn là không khí. Đó chẳng qua là tạp chất trong hư không biến ra mà có khí, khí biến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại biến ra nữa mà có tử. Khí, hình, sinh, tử, có khác nào xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa vận hành. Vả lại, người ta đã nghỉ yên nơi Cự thất (nhà Lớn), mà tôi còn cứ than khóc, chẳng là tự tôi không thông Mệnh ư, nên tôi không khóc.”

Đọc sự tích “Trang Tử gõ bồn ca”, lòng tôi bâng khuâng cảm khái lẽ vô thường của đời người. Trang Tử là người đạt đạo mới có thái độ khác thường với nỗi bi thương chính mình. Có đâu như nhà thơ Nguyễn Bính hễ tơ lòng chạm phím là ai oán ngân nga. Khi người yêu “sang ngang”, nhà thơ Nguyễn Bính đã tỏ ra rất ngỡ ngàng:

Có người đêm ấy khoe chồng mới:
“Em chửa yêu ai, mới có mình”

Có người trong gió rét chiều đông
Chăm chỉ đan cho trọn áo chồng
Còn bảo: “Đường len đan vụng quá!
Lần đầu đan áo kiểu đàn ông”

Có lẽ khi đang ngây ngất men nồng tình ái, người yêu Nguyễn Bính cũng thầm thỉ bên tai chàng “Em chửa yêu ai, mới có mình”. Nhà thơ cay đắng thốt lên:

Vâng chính là cô chửa yêu ai
Lần đầu đan áo kiểu con trai
Tôi về thu lá ba đông lại
Đốt hết cho cô khỏi thẹn lời

Câu thơ “Tôi về thu lá ba đông lại” có dị bản là “Tôi về thu cả ba đông lại”. Nhưng theo như một số bạn thơ của Nguyễn Bính, “lá” là từ ngữ dùng trong sáng tác ban đầu, nhà thơ Nguyễn Bính chỉnh sửa lại là“cả” trong các lần tái bản sau. “Lá” trong câu thơ trên là lá thư, phong thư. Nguyễn Bính đã nâng niu cất giữ những những lá thư tình trong 3 năm liền, thế mà “người ta” bỗng phút chốc thản nhiên coi như không. Hận tình đời đen bạc, nhà thơ uất nghẹn muốn đem đốt hết cho người yêu cũ thanh thản bên chồng. Nhưng, “người ta” quên chứ Nguyễn Bính có quên đâu. Nguyễn Bính chưa thấu lẽ vô thường trong tình ái nên vẫn u uất:

Tất cả mùa đông đan áo len
Cho người cho tất cả người quen
Còn tôi người lạ, tôi người lạ,
Có cũng nên mà không cũng nên.
            (“Vâng” - Nguyễn Bính)

Là nhà thơ tiền chiến đồng thời với Nguyễn Bính, nhưng Xuân Diệu tỏ ra khác hẳn và tỉnh táo hơn nhiều, ông đã thẳng thắn viết:

         Ai nói trước lòng anh không phản trắc
         Mà lòng em sao lại chắc trơ trơ
                   (“Giục giã” - Xuân Diệu)

Nhà thơ Xuân Diệu với những bài thơ tình lãng mạn được giới trẻ yêu thích một thời, có câu thơ mang chút ít triết lý:

Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt                            
                 (“Giục giã” - Xuân Diệu)

Mới đọc, ta thấy hơi khó hiểu, nhưng đọc đoạn thơ sau thì nhà thơ đã trình bày rõ ràng:

Hoa nở để mà tàn;
Trăng tròn để mà khuyết;
Bèo hợp để chia tan;
Người gần để ly biệt.
       (“Hoa nở để mà tàn” - Xuân Diệu)

Đúng thế “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”, chỉ vì có họp mặt mới có chia tay, “mầm ly biệt” đã nhú lên ngay từ khi mới quen nhau. Hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết đó là lẽ vô thường nhưng cũng là quy luật của sự vật. Nhưng, dù là quy luật thì khó có ai không bùi ngùi trong cảnh  chia tay:

Hoa thu không nắng cũng phai màu;
Trên mặt người kia in nét đau.
(“Hoa nở để mà tàn” - Xuân Diệu)

“Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”
            (Quốc văn giáo khoa thư)

Gặp gỡ để rồi ngậm ngùi ly biệt. Xa nhau lại hoài niệm, nhớ nhung, nuối tiếc những tháng ngày mặn nồng dịu ấm hương tình:

Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!
Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm.
Với sương lá rụng trên đầu gần gũi,
Thôi đã hết hờn ghen và giận tủi.
(Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu!)
Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh.

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm!
Gió bao lần từng trận gió thương đi,
- Mà kỷ niệm, ôi, còn gọi ta chi...

        (“Tương tư chiều” - Xuân Diệu)

Lẽ vô thường trong thơ Trang Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu gieo nỗi man mác bâng khuâng trong lòng tôi mấy hôm nay. Sáng nay đi lễ, nghe bài giảng của cha xứ, trong đó có câu:

Vanitas vanitatum et omnia vanitas

Hư không của sự hư không - thế sự hư không!
                                          (Truyền đạo 1:2-3)
Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân…
                                                           (Gv 1,2)
Mọi điều đó là sự hư không theo luồng gió thổi…
                                           (Truyền-đạo 2:1-26)

Sách Truyền đạo của Solomon (Kinh Thánh, Cựu Ước) ghi:“Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Các việc lao khổ loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi?”

Thế sự phù vân và cái việc “làm chi cho mệt một đời” mà Kinh Thánh nêu ở trên có nét tương đồng với tư tưởng vô vi của Lão Trang trong thơ của Lý Bạch và Đỗ Phủ, những đại thi hào thời Thịnh Đường:

         Thế sự nhược đại mộng
         Hồ vi lao kỳ sinh

         Ở đời như mộng lớn
         Làm chi cho nhọc mình!
         (“Xuân nhật tuý khởi ngôn chí” – Lý Bạch)

         Thiên thượng phù vân như bạch y
         Tu tư hốt biến vi thương cẩu.

         “Trên trời mây nổi như áo trắng
         Phút chốc biến thành chó xanh”
                    (“Khả Thán” – Đỗ Phủ)

Thay đổi là nguyên lý của Vạn vật và Vũ trụ. Vì thế cách đây trên 2500 năm Đức Phật cũng đã nói đến Vô Thường.

Sự tương đồng giữa Kinh Thánh Thiên Chúa giáo với tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Lão Trang thật thú vị ! Ô hay, tưởng rằng chỉ có Lão Trang mới nói đến phù vân, vô thường, vô vi trong đời sống và nguồn khởi dẫn của Đạo. Phật giáo mới nói đến hư vô, sắc không; giờ lại nghe Thiên Chúa giáo nhắc đến hư không, phù vân. Cuộc đời đúng là “bức tranh vân cẩu”, quả vô thường thật !

                                                                       La Thụy
                                                                      7/8/2019

READ MORE - LẼ VÔ THƯỜNG TRONG THƠ TRANG TỬ, NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU… - La Thụy

Sunday, January 22, 2017

NGÀY XUÂN VỚI "MƯA XUÂN" CỦA NGUYỄN BÍNH - Bình thơ của Hoàng Yên Lynh




 MƯA XUÂN               

 Em là con gái trong khung cửi
 Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
 Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
 Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

 Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
 Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
 Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
 Mẹ bảo:“Thôn Đoài hát tối nay”.

 Lòng thấy giăng tơ một mối tình
 Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
 Hình như hai má em bừng đỏ
 Có lẽ là em nghĩ tới anh…

 Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
 Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
 Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
 Thế nào anh ấy chẳng sang xem.

 Em xin phép mẹ,vội vàng đi
 Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
 Mưa bụi nên em không ướt áo,
 Thôn Đoài cách có một thôi đê.

 Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
 Em mải tìm anh chả thiết xem
 Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
 Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em

 Chờ mãi anh sang, anh chả sang,
 Thế mà hôm nọ hát bên làng
 Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn
 Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng

 Mình em lầm lũi trên đường về
 Có ngắn gì đâu một dải đê
 Áo mỏng che đầu,mưa nặng hạt
 Lạnh lùng em tủi với canh khuya.

 Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay
 Hoa xoan đã nát dưới chân giầy
 Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
 Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”.

 Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
 Bao giờ em mới gặp anh đây?
 Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
 Để mẹ em rằng : hát tối nay?

                            Nguyễn Bính

             
NGÀY XUÂN VỚI "MƯA XUÂN" CỦA NGUYỄN BÍNH
                                                                       Hoàng Yên Lynh 

     
              Hoàng Yên Lynh


Nỗi nhớ của con người thường gắn liền với hình ảnh, sự kiện hay cái duyên cớ nào đó... Mỗi khi mùa xuân đến, không chỉ là niềm vui, háo hức đón chờ nắng ấm xuân sang mà với tôi còn là nỗi lòng, là hình ảnh của bao mùa xuân đã đi qua trong đời mình...Và những lúc bồi hồi với xuân xưa, tôi lại nhớ,đọc lại bài thơ Mưa Xuân của Nguyễn Bính.
Nhắc đến cố thi sĩ Nguyễn Bính, chúng ta vẫn nghĩ đến những vần thơ lục bát bình dị, gần gũi và những áng thơ tình rất mực chân quê "Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn..." Với Mưa Xuân lại là một chuyện tình có hồi đoạn, là những trăn trở của cô gái quê khi mùa xuân đã chạm ngõ là nỗi tủi phận tủi duyên, là nỗi sầu nhân thế. Nhà thơ đã khéo léo trình bày hình ảnh của người con gái, cuộc sống với tâm hồn ngây thơ như mảnh lụa trắng.

            Em là con gái trong khung cửi
            Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
            Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
            Mẹ già chưa bán chợ làng xa.           

Chỉ vậy thôi, Nguyễn Bính đã cho ta nhìn được hình ảnh, tính chân thật, mộc mạc của con người, của miền quê còn êm đềm chưa vướng bụi phồn hoa.Với Nguyễn Bính hạt nhân của mỗi bài thơ Nguyễn Bính bao giờ cũng là một câu chuyện,một khúc tâm tình nào đó được diễn ra thành một cái cốt truyện,điều này làm nên chất tự sự thấm đẫm trong thơ ông Và bởi tất cả những điều ấy mà nền âm hưởng của mọi tiếng thơ Nguyễn Bính đều là những vang vọng của một lời kể lể sự tình, là dòng chảy liền mạch giữa tình người với con sông, bến nước với làng quê, với những khúc ca dao thấm đẫm tình người.

Song chất trữ tình của bài thơ không chỉ ở sự sóng đôi mà thôi: sự – tình mà là ở một lí do khác, đó là Mưa xuân. Mưa xuân chứ không thể là một thứ mưa nào khác. Mưa xuân – nó là đầu mùa, là đầu năm, là tơ vương đầu tiên,  mối tình đầu tiên, cuộc hò hẹn đầu tiên… Bởi thế chỉ có thể là mưa xuân. Mưa trong mùa xuân luôn là niềm tin yêu, gợi lên những mơ ước, là một không gian trong lành như Hàn Mạc Tử đã viết "Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Bên giàn thiên lý bóng xuân sang."

Bài thơ gợi lên hai hình ảnh tuy tương phản nhưng cũng tự nhiên của hai không gian: Khung cửi và cuộc đời. Kẻ chia rẽ hai không gian này chính là… mưa xuân. Đây là quãng đời khi mưa xuân chưa đến. Người con gái quê với khung cửi dệt lụa, với những ước mơ thầm kín về một điều thật gần mà cũng thật xa.

Mưa xuân không chỉ giăng tơ cho trời đất. Mưa xuân còn giăng tơ vào cả hồn người với bao nỗi niềm tâm sự.  Mưa xuân đã gieo vào lòng cô gái xuân những luyến ái đầu tiên. Nỗi niềm tâm sự tuy thầm kín nhưng luôn ấp ủ rong tim của người con gái và tràn ngập niềm rung động khi bắt gặp mùa xuân. Từ trong khung cửi, em đã bước ra ngoài trời xuân của cuộc đời theo tiếng gọi của mưa xuân.

            Bữa ấy mưa xuẩn phơi phới bay
            Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Nguyễn Bính với hai câu thơ đã phác họa cả cảnh trời, tình người, mùa xuân nơi thôn dã. Với mưa bụi và lớp lớp hoa xoan đều phơi phới vào xuân, trời đất kia đang mang trong nó niềm xốn xang, háo hức của nàng thiếu nữ. Cái cảm giác rạo rực, cái nồng ấm của đất trời đã được Nguyễn Bính lắng đọng qua những vần thơ tài hoa. Mưa xuất hiện lần này là “mưa bụi.” Mưa xuân dường như cũng đồng tình với cô gái để cùng thao thức, cùng dự hội, để đến nơi hò hẹn. 

                Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm 
                Em mải tìm anh chả thiết xem 
                Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh 
                Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em 

Nhưng lễ hội, với cô gái qua tâm thức của Nguyễn Bính cũng chỉ là cái cớ. Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh. Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em, nên lễ hội với em chỉ là lý do để nói với mẹ về đám hát thâu đêm còn em thì mãi tìm…ai. 

                Chờ  mãi anh sang,anh chả sang, 
                Thế mà hôm nọ hát bên làng, 
                Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn 
                Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng

Một lời tâm sự mộc mạc, chân thành như chính tâm hồn trong trắng của gái quê. Chờ mãi mà người ấy không đến.  Ước mơ - hi vọng và rồi buồn giận. Nhưng nỗi buồn trong lòng cô gái quê vẫn rất nhẹ nhàng... Mình em lầm lũi trên đường về... Thế rồi người con gái ra về, con đường cũ giờ đây dài dằng dặc:

                Mình em lầm lũi trên đường về, 
                Có ngắn gì đâu một dải đê 
                Áo mỏng che đầu,mưa nặng hạt 
                Lạnh lùng em tủi với canh khuya.

Chờ mãi, rồi không gặp. Nỗi lòng đó, tâm trạng đó ai cũng có thể hiểu thấu. Có ngắn gì đâu một dải đê mà để em tủi với canh khuya. Hình tượng cô gái lấy tà áo che đầu cho khỏi ướt có cái gì rất dân dã, mộc mạc. Không gặp được người ấy, thì bây giờ ướt áo có làm sao. Khi Hội chèo làng Đặng ra về qua  ngõ, cho đến khi mẹ bảo "Mùa xuân đã cạn ngày" Hội làng khép lại, mưa xuân đã vơi dần theo nắng xuân và những chùm hoa xoan đã rụng dần thì cũng là lúc câu chuyện, nỗi ước mơ trong lòng khép lại.

                Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay 
                Hoa xoan đã nát dưới chân giầy 
                Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ 
                Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”
              
Có phải mùa xuân dường như vô tình, lạnh lùng với tâm tình của cô gái quê vốn đơn sơ, chân thực. Đời con gái là bao, mà sao mùa xuân đã sớm cạn ngày? Cô gái thầm hỏi và hy vọng:

                Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày 
                Bao giờ em mới gặp anh đây? 
                Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ 
                Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay”

Một bài thơ lồng trong khung cảnh mùa xuân nhưng thực ra là một chuyện tình. Đây cũng là nét đẹp rất duyên của thơ tình Nguyễn Bính. Mưa Xuân là một trong rất nhiều bài thơ tình của Nguyễn Bính, cả một đời thơ mang nặng tình yêu, mang nặng gánh tương tư. Vâng, như Nguyễn Bính đã tự nhận trong thơ "Gió mưa là bệnh của trời / Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng " vì vậy, khi nói đến căn bệnh tương tư trong thơ tình Nguyễn Bính không thể không nói đến khí hậu tình yêu trong thơ ông, cái đã làm nên "mưa gió giông bão" trong cuộc đời của ông như một định mệnh. Tình yêu vốn là một chủ đề không mới lạ trong thi ca nhưng ở thơ Nguyễn Bính tình yêu vẫn mang một nét đẹp riêng, một sắc thái riêng, một sự quyến rũ riêng giản dị, chân thành mà không tầm thường đơn điệu. Nó như cây cỏ, như hương hoa, như dòng suối thanh sạch làm tươi mát tâm hồn ta. Thơ tình yêu của Nguyễn Bính không có những đam mê da diết, không có những sôi nổi ồn ào, điên loạn hay bâng khuâng ray rứt... Thơ tình của Nguyễn Bính trong sạch, kín đáo và cao thượng và dấu vết nỗi bật trong thơ ông là tấm lòng chung tình, chung thủy. Nguyễn Bính sáng tác rất nhiều, mỗi bài thơ như đã nói ở trên là một khúc tình ca nhưng thơ tình của Nguyễn Bính khác hẳn cái nóng nảy của Hồ Dzếnh, cái lãng mạn say đắm như Xuân Diệu... chứa chan và trầm mặc như Huy Cận, đau đớn điên loạn như Hàn Mạc Tử hay ngậm ngùi chua xót tan vỡ như T.T.KH, ngược lại tình yêu trong thơ Nguyễn Bính là tình yêu nhẹ nhàng, câm lặng với những mối tình mộng đẹp.
                                         
Nguyễn Bính không cố đi tìm những từ lạ, lối diễn đạt lạ. Thơ của Nguyễn Bính nhẹ nhàng, êm đềm, mộc mạc như dòng sông,bến nước, con đò, hàng giậu. Thơ của ông từ những bài lục bát thấm đẫm chân quê đến những bài thơ lưu lạc nới đất phương Nam ông chỉ sử dụng ngôn ngữ bình dân nhưng với ngòi bút tài hoa, ông đã để lại cho văn đàn nhiều bài thơ xuất sắc, trong đó “Mưa xuân” – một bài thơ tuyệt đẹp là một điển hình.

Nhà thơ Nguyễn Bính ra đi đã 1/2 thế kỷ nhưng những vần thơ của ông để lại với đời vẫn là những chân tình, là những hình ảnh miền quê Việt Nam mà không thể phai mờ trong tâm trí, trong lòng người đọc. Đọc Mưa Xuân để thấy quá khứ vẫn còn nối kết với hiện tại dẫu lòng người, cuộc sống và mùa xuân có mang bao nhiêu sắc áo mới mùa xuân vẫn là mùa xuân của quê hương, của tâm hồn người Việt.

 Mưa Xuân với tôi còn là nỗi lòng thương nhớ về cố hương, nơi tôi đã sống và đi qua những mùa xuân đầu đời. Nơi có mưa bụi bay, có cái gió se lạnh đầu xuân và áo the guốc mộc... nên dẫu thế nào, đường đời có phong ba bão táp Mưa Xuân vẫn là điệp khúc xuân sưởi ấm tình tôi mỗi khi xuân về nới miền đất cao nguyên ngóng chờ những hạt mưa xuân để hiện tại lại nối về quá khứ.

                                                                        Hoàng Yên Lynh    

READ MORE - NGÀY XUÂN VỚI "MƯA XUÂN" CỦA NGUYỄN BÍNH - Bình thơ của Hoàng Yên Lynh