Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hoàng Hương Trang. Show all posts
Showing posts with label Hoàng Hương Trang. Show all posts

Thursday, December 24, 2020

SOI GƯƠNG UỐNG RƯỢU – Thơ Hoàng Hương Trang

 


Hồi tiền chiến lắm văn nghệ sĩ thích khoe say. (Có người không uống được rượu cũng khoe say.) Vũ Hoàng Chương “nhịp gõ hàm ca”, Nguyễn Vỹ say và lẫn lộn người với chó, Lưu Trọng Lư say với ca nhi, Tản Đà say với tri âm v,v... Nhưng hồi ấy tửu đồ toàn thị là nam tử, tôi chưa bắt gặp được người đẹp nào say sưa trong thi ca cổ điển và tiền chiến.

Sau 1954, Hoàng Hương Trang là một người đẹp, và là một người say dữ dội. Nói say dữ không phải nói ngoa, vì quả chưa thấy ai trong đám nam tử kể trên say mà hung tợn như Hoàng nữ sĩ. Nửa đêm trằn trọc, bà đào đất lấy ra hũ rượu nếp than, mang uống một mình, uống ngay trong đêm tối, không đèn không lửa, bà uống rượu say và chửi bới inh ỏi, chửi đời chửi người, rồi say vùi trượt ngã.

Hôm nay còn có ông Phạm Thiên Thư chẳng hạn. Gặp khó khăn trong tình yêu, ông rỉ rả, ông thẩn thờ, ông khe khẽ thốt ra những lời than nhẹ phới. Như thế nam phái vốn dịu dàng an phận hơn nữ phái chăng?! Ôi rắc rối

Hoàng Hương Trang có cả một tập thơ về chuyện say sưa: “Túy ca”. Khi thì “soi gương uống rượu”, khi thì “uống rượu trong mưa”, khi thì nhớ cố nhân mà uống rượu, khi thì mất ngủ mà uống rượu v..., uống đến say khướt.

Những trận say như thế nói chung là vì tình cả. Trước bà, dù tình duyên trắc trở đau khổ đến đầu người ta cũng chỉ than thở, có thể than thở rất mực não nuột như Tượng Phố, như Đông Hồ v.v..., nhưng bất khuất táo tợn thì không.

Tuy vậy muốn đem nguyên cái tâm lý thời đại, đem nét đặc điểm “hôm nay” ra mà cắt nghĩa thái độ của bà, e cũng không ổn đâu. Nhưng lao đầu làm chi vào những cái hóc búa ấy? cố gắng cắt nghĩa làm chi cho khốn khổ? Hãy lặng yên ghi nhận thêm một khía cạnh tâm hồn, lặng yên như người ta vẫn lặng yên trước một cảnh tượng thương tâm.

                                                                  10/1986
                                                                Võ Phiến
(Nguồn: 
Văn Học Miền Nam, Thơ / Nxb Văn Nghệ 1999)

*
Áng thơ kiệt tác “Soi Gương Uống Rượu” của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, trong tập thơ “Túy Ca”. Thi phẩm này hẳn là bài mà cô Trang đắc ý nhất trong tập thơ “Túy Ca”, nên đã chọn ngâm bài thơ này khi lần đầu tham dự hội thơ Quỳnh Dao với sự góp mặt của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Bùi Khánh Đản, Đan Quế, Trùng Quang, v.v. . Vương Thanh cũng có dịch bài thơ này qua tiếng Anh trong tập thơ song ngữ “A Vietnamese Garden of Lyrics & Verse, Volume 1”.
Bài này tuy ngâm hơi nhanh, nhưng có lẽ vì cảm khái, nhưng do chính tác giả ngâm, không còn ai có tư cách ngâm hay hơn nữa.
Và sau đó thì cô Trang trong bữa tiệc này được những nhà thơ mời ngâm giùm tới tấp!
 
(Tưởng nhớ tiếng hát, giọng ngâm, và thơ của nữ sĩ Hoàng Hương Trang)
                                                          Vương Thanh

READ MORE - SOI GƯƠNG UỐNG RƯỢU – Thơ Hoàng Hương Trang

Monday, December 7, 2020

LẠI THÊM MỘT GIẢ THUYẾT MỚI TÌM MỘ QUANG TRUNG – Hoàng Hương Trang

 

Tượng vua Quang Trung
 
Từ giữa thế kỷ XX đến giờ đã có nhiều giả thuyết về mộ vua Quang Trung, do những nhà nghiên cứu sử, do những nhà nghiên cứu Huế, do câu hỏi: Mộ vua Quang Trung ở đâu? Tất cả cuộc tìm kiếm hơn nửa thế kỷ qua đều hướng về địa thế Thừa Thiên Huế và cũng chỉ hạn hẹp có chừng ấy thôi. Thật may mắn cho tôi, tuy không phải nhà nghiên cứu sử, cũng không phải nhà Huế học, nhưng tôi tự nhận mình là một người ngưỡng mộ vị Anh hùng dân tộc áo vải cờ đào.
 
Do đấy nhiều năm nay tôi đã âm thầm tìm kiếm tài liệu từ trong sử sách, từ những giai thoại trong dân gian, trong những dòng họ có liên quan đến vua Quang Trung để mong tìm ra chút ánh sáng. Nay tôi đã có tương đối một số tài liệu đáng tin cậy để hình thành bài viết này, qua những tiêu đề tạm có sau đây:

1/ Về đám tang thật và giả: 
Khi vua Quang Trung đau nặng, biết mình sẽ không qua khỏi, và tự biết Quang Toản không xuất sắc, không có tài thao lược, sợ rằng không giữ vững được nhà Tây Sơn. Tình trạng gia đình lại tranh quyền đoạt vị, mất đoàn kết nội bộ giữa Nguyễn Nhạc (Thái Đức Hoàng Đế) Nguyễn Lữ và Quang Trung. Vua đã thấy rõ đó là điều bất lợi. Trong khi đó Ngọc Hân Công Chúa vừa mang thai, chưa biết sẽ sinh trai hay gái. Bên giường bệnh thập tử nhất sinh, vua đã bí mật di ngôn cho Ngọc Hân và một vài cận thần thân tín nhất rằng sau khi vua băng hà, một mặt tổ chức đám tang giả ở Kinh Thành, một mặt bí mật ướp xác, đưa quan tài xuống thuyền, đi đường thủy, vào Phương Nam chứ không chôn cất ở Huế.

Do đấy, dân chúng, triều đình và cả quân Nguyễn Ánh đều lầm tưởng vua Quang Trung an táng ở đất Thừa Thiên Huế đâu đó, để sau này có những cuộc trả thù dã man, như đào mộ, lấy hài cốt nhốt vào cũi (bài Kiến Quang Trung linh quỹ: nhìn thấy cũi nhốt hài cốt vua Quang Trung của cụ Lê Ôn Phủ. Bài đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 10/2013 và đã đăng báo Xưa và Nay năm 2005).
Dù có thêm bài đính chính cho rõ nghĩa bài thơ, của tác giả Đinh Văn Tuấn, thì “Linh quỹ” ấy vẫn chỉ là “Linh quỹ giả” mà vua Gia Long đã nhầm lẫn. Linh cữu thật đã bí mật ướp xác (dòng họ anh em vua Quang Trung ở vùng Tây Sơn, Bình Định biết ướp xác, vợ Nguyễn Nhạc cũng đã từng được ướp xác, một phương pháp ướp xác, giữ thi thể lâu phân hủy, học được của những sắc dân thiểu số vùng rừng núi Tây Sơn cộng với cách ướp xác của người Chiêm Thành Cổ) xuống thuyền ra biển đi về phương Nam, vào sông Cửu Long, ngược sông Tiền Giang, đến tận cùng, nơi chỉ có một cụm núi to lớn hùng vĩ nhô lên giữa đất bằng hoang vu, chưa có dân chúng ở, lại gần sát biên giới Cao Miên, nếu có biến động gì xảy ra có thể dời sang đất Cao Miên cho an toàn. Đoàn thuyền dừng chân, cắm sào, quan tài được chuyển lên an táng trên đỉnh một ngọn núi to nhất, cao nhất, hoang vu nhất chưa có dấu chân người tới đó. Đấy chính là núi Cấm thuộc tỉnh An Giang ngày nay.

Như đã nói ở trên, trước khi vua băng hà, vua đã bí mật di ngôn 2 điều: Một là làm đám ma giả ở Kinh Thành thật long trọng, đúng nghi lễ, còn quan tài thật thì lặng lẽ xuống thuyền vào phương Nam. Hai là nếu công chúa Ngọc Hân sinh con trai (khi đó bà đã có thai chừng vài ba tháng) phải đổi lại họ Hồ là họ gốc (Hồ Thơm, Nguyễn Huệ, Quang Trung) vì vậy khi an táng mộ vua trên núi Cấm xong, mấy tháng sau bà Ngọc Hân sinh con trai, đặt tên là Hồ Quang Thụy, những tùy tùng trung nghĩa theo vua đều đổi họ Hồ, là cụm cư dân đầu tiên ở vùng núi Cấm, An Giang, họ đều ở xúm xít thành một xóm họ Hồ, cho đến ngày nay vẫn còn dòng tộc họ Hồ ấy ở An Giang.

Kể từ Hồ Quang Thụy, con trai của vua Quang Trung và Ngọc Hân công chúa đến nay (2013) đã truyền được 7, 8 đời, sống rải rác ở Việt Nam và nhiều nước như Pháp, Thụy Sĩ, Mỹ… (Theo phả hệ đồ của dòng Hồ Tộc Kế Thế) vua Quang Trung dặn khi đổi họ Hồ phải thêm chữ “Kế Thế”. Vì vậy từ đó ở vùng núi Cấm, An Giang có dòng họ “Hồ Tộc Kế Thế”.

Cũng theo phả hệ đồ của dòng họ Hồ thì vua Quang Trung băng hà vào giờ Tý, ngày 30 tháng 7 năm Quý Sửu (17/9/1792) Hồ Quang Thụy sinh vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4 năm 1793, ngày vua băng hà thì bà Ngọc Hân mới có thai khoảng vài ba tháng, tính theo âm lịch thì khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 năm Giáp Dần 1793. Nếu đúng theo gia phả của Hồ Tộc Kế Thế ở An Giang thì mộ vua Quang Trung được chôn trên ngọn núi Cấm ở An Giang, lúc đó chưa có dấu chân người lui tới, con cháu và cận thần thân tín ở chung quanh đó giữ mộ, không muốn cho người ta biết sợ vua quan triều Nguyễn đánh hơi truy tìm ra, nên họ tìm cách phao tin trên núi có nhiều thú dữ, để không ai lên đó, nên dần dần hình thành tên núi Cấm.

Đặc biệt vua Quang Trung căn dặn khi chôn chỉ khỏa mộ bằng phẳng, không đắp nấm mồ cao lên như bình thường vẫn làm. Mộ vua khỏa bằng phẳng như mặt đất, điều đó sau này con trai của vua Quang Trung là Hồ Quang Thụy chết cũng chôn khỏa bằng mặt đất như vậy.

2/ Về vua Quang Toản: 
Vua Quang Trung băng hà, Quang Toản lên nối ngôi, lấy vợ là công chúa Lê Ngọc Bình con vua Lê Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với công chúa Ngọc Hân. Như vậy công chúa Lê Ngọc Bình vừa là em vợ vừa là con dâu của vua Quang Trung. Nguyễn Ánh đánh thắng Quang Toản lên ngôi vua Gia Long, đã lấy vợ Quang Toản đem vào cung làm phi, phong là Đức Phi, có với Gia Long 4 người con, 2 hoàng tử, 2 công chúa. 

Ngọc Bình sinh ngày 12 tháng 12 năm Giáp Thìn (22/1/1785). Năm Nhâm Tuất 1802 bà vào hầu Gia Long chẳng bao lâu được phong Tả Cung Tần, bà mất ngày 12 tháng 9 năm Canh Ngọ (10/10/1810) được vua Gia Long tặng là Đức Phi, Thụy là Cung Thận, an táng ở làng Trúc Lâm (Thừa Thiên Huế), nhà thờ ở làng Kim Long sau dời qua làng Phú Xuân. Hiện nay bà được thờ tại nhà thờ phòng Thường Tín. Bà cùng vua Gia Long sinh được 4 người con, 2 hoàng tử, 2 công chúa, trưởng nam là Quảng Uy Công Nguyễn Phúc Quân, thứ nam là Thường Tín Công Nguyễn Phúc Cự, trưởng nữ là An Nghĩa công chúa Ngọc Ngôn, thứ nữ là Mỹ Khê công chúa Ngọc Khuê (theo tài liệu Nguyễn Phúc tộc thế phả, chương đời thứ mười một, Nguyễn Phúc Anh (Ánh) Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế, trang 222, bộ thế phả này do Tôn Nhơn Phủ in ấn, sắp xếp từ đời Nguyễn Bặc đến đời Bảo Đại).

Cũng vì việc vua Gia Long lấy vợ vua Quang Toản nên trong dân gian có câu hát” “Sự đâu có sự lạ lùng Con vua lại lấy 2 chồng làm vua” (bà là con gái vua Lê Hiển Tông, lấy chồng trước là vua Quang Toản, chồng sau là vua Gia Long). Ngay cả việc này cũng có nhiều người đời sau sai lầm, tưởng bà Ngọc Hân công chúa bị vua Gia Long ép vào làm vợ, thật sự bà Ngọc Hân đã chết trước năm 1802 là năm Nguyễn Ánh lên ngôi vua Gia Long. Bà chết ở An Giang.
Gia Long trả thù Tây Sơn cũng đã thỏa lòng thù hận với bao nhiêu cách dã man, nào lăng trì, nào tứ mã phanh thây, nào voi dày (với nữ tướng Bùi Thị Xuân) nào đào mộ lấy xương cốt đóng vào cũi đem về Kinh Thành, cho vào cối giã nát, trộn thuốc súng cho vào nòng đại bác bắn ra biển v.v… Cuối đời vua Gia Long tự thấy đã trừ khử hết Tây Sơn, cũng đã thỏa mãn, mới thôi không trả thù nữa, tiếp theo là đời vua Minh Mạng thôi không tiếp tục truy tìm và trả thù Tây Sơn nữa.

Thật ra khi quân lính đào mả Quang Trung giả, lấy xương cốt đóng cũi đem về Kinh, cũng đã có dư luận râm ran là “giả”, nhưng Gia Long không thể tìm đâu ra nữa, vua đành chấp nhận, cứ hạ nhục, trả thù để răn đe dân chúng không còn ai dám vọng Tây Sơn, nhớ Tây Sơn nữa.

3/ Mộ bà Ngọc Hân công chúa: 
Mộ bà Ngọc Hân công chúa được an táng ở xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà được dân chúng ngưỡng mộ trọng vọng vì bà là mẹ của Phật Thầy Tây An. Mộ bà được dân chúng gọi là Đền Phật Mẫu (xem ảnh ở cuối bài). Trước đây có dư luận cho là người nhà của bà đã bí mật cải táng đem về chôn bên cạnh mộ bà mẹ ở quê hương Bắc Ninh. Nhưng xét theo sự trả thù khủng khiếp và triệt để của vua Gia Long làm sao còn sót mộ Ngọc Hân để cải táng đem về Bắc Ninh, qua mặt vua quan triều đình Nguyễn dễ dàng thế được. 

4/ Về người con của vua Quang Trung: 
Vua Quang Trung mất, bí mật đưa linh cữu về núi Cấm ở An Giang, sau đó bà Ngọc Hân sinh con trai đặt tên Hồ Quang Thụy. Lớn lên Thụy lấy vợ là Nguyễn Thị Thuyên, sinh con là Hồ Quang Điểu, nối dòng kế thế đến nay là 7, 8 đời con cháu.

Sau đó ông đi tu lấy tên là Phật Thầy Tây An, Tây An được đảo chữ An Tây để tránh sự truy lùng của triều Nguyễn. Khi Gia Long đánh thắng Tây Sơn liền cho xóa tên Tây Sơn để người dân khỏi nhớ đến Tây Sơn, ông đổi tên Tây Sơn thành An Tây, có nghĩa đã an định được nhà Tây Sơn. Do đó Phật Thầy lấy tên là Tây An. Đạo của Phật Thầy Tây An truyền khắp vùng Tây Nam Bộ. Ông đi truyền đạo, giả khùng, chèo thuyền chở khoai, nên dân chúng gọi là Ông Đạo Khùng, Ông Đạo Khoai. Giáo lý của ông cốt yếu thờ Tứ Ân (Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân tam bảo, Ân đồng bào nhân loại) ông cũng làm thuốc chữa bệnh cho dân nghèo, ông còn tránh né họ gốc là họ Hồ, đặt thêm tên giả là Đoàn Minh Huyên – Ông lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có ẩn ý: Bửu Sơn là Núi Quý nghĩa là Tây Sơn. Kỳ Hương là Hương Lạ nghĩa là Hồ Thơm. Như vậy Bửu Sơn Kỳ Hương là ẩn ngữ của 4 chữ “Tây Sơn Hồ Thơm”. 

Về sau đạo này kết hợp với đạo Hòa Hảo truyền dạy đạo lý khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ – Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không thờ Phật, Thánh, không thờ hình tượng gì cả, chỉ thờ duy nhất một tấm vải đỏ đó chính là cờ đào của vua Quang Trung. Người dân theo đạo chỉ mặc áo vải thô sơ lam lũ, chứng tỏ thầy làm cho gợi nhớ “Áo vải cờ đào”, chính là đời sống của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Thầy chú tâm dạy dân khai hoang làm ruộng, đã lập ra nhiều khu dinh điền ở vùng Đồng Tháp Mười, vùng An Giang, Châu Đốc, Long Xuyên. Khi chết ông dặn con cháu chôn trên núi Cấm và cũng không cho đắp nấm mồ, chỉ khỏa đất bằng. 

Trên núi Cấm có chùa của Phật Thầy Tây An, có giả thuyết cho rằng chính mộ vua Quang Trung chôn ở dưới nền chính điện, xây chùa lên trên để đánh lạc hướng truy tìm của triều Nguyễn. Trên hành trình đi ra truyền đạo trong dân chúng, ông đã bị chính quyền nghi ngờ “Gian đạo sĩ” làm “chính sự” bị bắt nhốt, sau xét không có chứng cớ phải thả ông ra. Đạo của ông không cần ăn chay, không cạo râu cắt tóc, không gõ mõ tụng kinh, mặc dầu ông cũng thờ Tam Bảo, không thờ tượng, chỉ thờ một tấm vải trần điều màu đỏ, không cúng bái tốn kém, chỉ cúng nước lã và vài bông hoa đơn giản. Do đấy đạo Bửu Sơn Kỳ Hương thích hợp với đời sống dân nghèo, tên tuổi Phật Thầy Tây An rất được dân chúng miền Tây Nam Bộ tôn sùng. Ông viên tịch ngày 10 tháng 9 năm 1856, thọ 63 tuổi. Ông cũng di ngôn cho con cháu chôn sau chùa Tây An gần mộ vua cha, cũng không đắp nấm mồ cao, chỉ khỏa bằng mặt đất.

Ông để lại nhiều quyển Kinh Kệ và để lại nhiều đệ tử giỏi nối đạo cho tới bây giờ. 

5/ Dòng Hồ Tộc Kế Thế ở An Giang: 
Bốn chữ Hồ Tộc Kế Thế là do di ngôn của vua Quang Trung dặn trước khi băng hà. Đời thứ nhất đổi ra họ Hồ là Hồ Quang Thụy tức Phật Thầy Tây An. Quang Thụy sinh ra Hồ Quang Điểu là đời thứ 2. Hồ Quang Điểu sinh ra 5 trai 1 gái là Hồ Văn Đức, Hồ Văn Ngưu, Hồ Văn Nhu, Hồ Văn Sây, Hồ Văn Chánh và Hồ Thị Suốt đó là đời thứ 3. Đời thứ 3 này tuy con cháu đông nhưng chủ yếu chỉ làm ruộng, chài lưới, chỉ duy nhất phát triển về học hành nhờ nhánh Hồ Văn Sây. Đời thứ 4 từ Hồ Văn Sây sinh ra con đàn cháu đống khá đông đúc trong đó có 2 chi nổi trội hơn cả đó là chi của Học giả, nhà văn Hồ Hữu Tường và chi của kiến trúc sư, kỹ sư, thể tháo gia Hồ Văn Hoài.

Ông Hồ Hữu Tường ở miền Nam trước 1975 rất nổi tiếng, ông tốt nghiệp cử nhân ở Pháp, về Sài Gòn vừa dạy học vừa viết báo, viết sách. Ông đã trước tác một bộ sách gồm 3 cuốn dưới dạng văn trào phúng pha lịch sử đó là: Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc náo Huê Kỳ, Phi Lạc bỡn Nga. Cuốn Phi Lạc sang Tàu đã xuất bản trước 1975 ở Sài Gòn rất nổi tiếng, gây chú ý cho độc giả, 2 cuốn còn lại chưa in, không biết hiện nay con cháu ông còn lưu giữ không? Trước 1975 ông có ứng cử dân biểu hạ viện, vì vậy sau 30 tháng 4 năm 1975 ông đi cải tạo học tập chính trị một thời gian, vì tuổi cao sức yếu, nhà nước cho về nhà, nhưng ông đã chết trên đường về (trên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, nay là xa lộ Hà Nội). Ông có 2 vợ, một ở Sài Gòn, một ở Pháp, cả 2 bà đã sinh ra thêm 3 đời con cháu và chắt.

Ông Hồ Văn Hoài là em ông Hồ Hữu Tường, lúc nhỏ cha chết sớm, ông sống cùng mẹ làm ruộng ở An Giang, sau đó học ở Collège Cần Thơ, rồi lên học ở Sài Gòn, học kiến trúc với một kiến trúc sư người Pháp, ngoài nghề kiến trúc, ông có năng khiếu nghiên cứu nhiều đề tài ngành nghề công nghệ thuở ấy còn ít người biết, ông lại có năng khiếu thể thao, nổi tiếng bộ môn bơi lội, đã đạt nhiều huy chương, đã thi đấu cùng các vận động viên Đông Dương và người Pháp. Ông Hoài ở cùng cha mẹ tại quê nhà, còn ông Tường ở Sài Gòn xa cha mẹ, vì vậy trước khi cha chết đã kể lại cho ông về dòng họ Hồ Tộc Kế Thế, và sau này ông là người viết lại cuốn hồi ký “Thăng trầm giữa dòng đời” đây là một cuốn hồi ký viết về cuộc đời ông và gốc gác dòng họ Hồ ở An Giang, trong đó có nhiều tài liệu về vua Quang Trung, Ngọc Hân công chúa, về núi Cấm ở An Giang, về đám ma giả của vua ở Huế, và ngôi mộ thật trên núi Cấm ở An Giang, về ngôi mộ Ngọc Hân công chúa, về cuộc đời Phật Thầy Tây An Hồ Quang Thụy và về đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Kể từ đứa con của vua Quang Trung và Ngọc Hân công chúa sinh tại An Giang đến nay đã nối dõi 7, 8 đời.

Như vậy, nếu đây là một giả thuyết đáng tin cậy, sau này các nhà nghiên cứu Sử sẽ tìm ra mộ vua Quang Trung, thì thật đáng vui mừng, có thể ở đâu đó, dưới nền chùa, xung quanh đỉnh núi… người anh hùng của dân tộc vẫn còn con cháu nối dõi tới bây giờ, chứ không phải đã bị tuyệt diệt dưới sự trả thù tàn bạo của vua Gia Long. Ước mong điều này sẽ thành hiện thực.

Xin được gom góp tài liệu viết thành bài công bố trên báo chí để rộng đường dư luận, nhất là đáp ứng được phần nào những trăn trở lâu nay của những người ngưỡng mộ vị anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung Nguyễn Huệ, đã lừng lẫy chiến công tốc chiến tốc thắng đánh tan 30 vạn quân Thanh ở Hà Nội và đánh tan quân Xiêm La cùng quân Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà ở Rạch Gầm Xoài Mút, người đã xóa được biên giới sông Gianh phân chia Trịnh Nguyễn, cho Đàng Ngoài và Đàng Trong nối liền một dải. Người xưa đã nói: “Anh Hùng Đoản Mệnh” đó là điều đáng tiếc, như “một vì sao sáng không ở lâu trên bầu trời”. (Hiện nay vùng núi Cấm ở An Giang đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng, ngoài núi non hùng vĩ có các loại cây gỗ quý, các loại cây thuốc quý, có đất Cao Lanh, đá xây dựng, nhất là gần đây có tượng Phật Di Lặc của điêu khắc gia Thụy Lam được sách kỷ lục VN công nhận cao 33,6m bằng chiều cao của tòa nhà 12 tầng ngự trên đỉnh núi, lại có tượng Phật Bà Quan Âm cao 26,5m cùng nhiều chùa chiền thanh tịnh, đã thu hút khách thập phương đến chiêm bái. Núi Cấm có chiều cao 50 trượng (705m) chu vi hơn 20 dặm (khoảng 28.600m) (Theo Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam nhất thống chí biên soạn vào thế kỷ XIX).

Riêng đời cháu thứ 3 là Hồ Hữu Tường, với giọng văn trào phúng đặc biệt của ông làm ta liên tưởng đến năng khiếu trào lộng của Nguyễn Huệ từ lúc nhỏ đã rất thích đóng vai hề trên sân khấu hát bội Bình Định. Đến lúc đã lên ngôi Hoàng Đế Quang Trung cũng vẫn còn cái năng khiếu bẩm sinh ấy, ông đã diễu cợt tặng cho vua nhà Thanh một con voi cắt cụt vòi khi vua nhà Thanh khâm phục đội chiến tượng của vua Quang Trung và xin ông một con voi. Ông cũng đã cho một Quang Trung giả đi sứ sang nhà Thanh, vậy mà nhà Thanh sợ ông sẽ tiến đánh đòi đất Lưỡng Quảng bèn hứa gả công chúa cho vua Quang Trung để cầu lấy hòa bình. Công chúa nhà Thanh đã dâng tín vật là một con gà mái ấp bằng vàng ròng chạm trổ tinh vi.

Theo tài liệu cuốn “Thăng trầm giữa dòng đời” của Hồ Văn Hoài, tín vật ấy vua Quang Trung giao cho Ngọc Hân giữ, Ngọc Hân lúc cuối đời đã trao lại cho con trai là Hồ Quang Thụy, sau này Quang Thụy trao lại cho con cháu để đi tu, đến đời Hồ Quang Điểu còn thấy tín vật ấy xuất hiện trong gia đình ông, sau đó đến đời con cháu sau đã không còn, không biết đến nay con cháu nào của Hồ Tộc Kế Thế đã giữ tín vật của công chúa nhà Thanh, hay đã lưu lạc phương nào, sau quãng thời gian dài 3 thế kỷ với bao nhiêu biến động và chiến tranh xảy ra trên đất nước ta. Mong một ngày nào đó sẽ được làm sáng tỏ.
 
                                           Hoàng Hương Trang
                                      Sài Gòn tháng 10 năm 2013

Tài liệu tham khảo:

1/ Mạng Bách khoa toàn thư
2/ Phả hệ đồ dòng họ Hồ ở An Giang
3/ Lịch sử và địa lý tỉnh An Giang
4/ Sách “Thăng trầm giữa dòng đời” hồi ký của Hồ Văn Hoài
5/ Cùng những giai thoại dân gian từ Thừa Thiên Huế và An Giang 

READ MORE - LẠI THÊM MỘT GIẢ THUYẾT MỚI TÌM MỘ QUANG TRUNG – Hoàng Hương Trang

Wednesday, November 25, 2020

BÁNH VẼ, CHỖ ANH NGỒI, BÀI TÍNH SAI, GIAM THUYỀN, BIỂN VÀ CÁT – Thơ Hoàng Hương Trang


         Nhà thơ Hoàng Hương Trang


BÁNH VẼ
 
Mèo mẹ dắt mèo con dạo phố
Ngắm ngựa xe, lố nhố cửa nhà
Phố phường rộn rịp người ta
Bán buôn tấp nập thật là đông vui.
Mèo con bỗng đánh hơi thơm phức
Tự cửa hàng bánh mứt bay ra
Vội vàng vòi mẹ mua quà
Mẹ mèo dừng bước ngó qua tủ bày
Bánh giò, bánh nướng, bánh dầy
Bánh gai, bánh dẻo… xếp đầy bên trong
Con chọn mãi vẫn không vừa ý
Mẹ xoa đầu – con quý con yêu
Bánh nào con thích mẹ chiều
Hàng này quả thực có nhiều bánh ngon.
Mẹ ơi, bánh cỏn con nho nhỏ
Ăn nó vào chã bỏ bèn chi
Mẹ nhìn lên vách đằng kia
Bánh to hơn cả cái nia cái bồ
Mua bánh ấy khỏi lo mẹ ạ
Một chiếc thôi no đến cả đời
Mẹ cười – Con mẹ lầm rồi
Đó là bánh vẽ dối người đấy thôi
Hãy suy cho kỹ con ơi
Trót nhầm một phút, đi đời nhà ma!
 
 
CHỖ ANH NGỒI
 (Tặng điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu)
 
Đi qua chốn cũ anh ngồi
Còn đâu thấy nữa dáng người năm xưa
Chiến tranh, dâu bể, nắng mưa,
Bụi thời gian đã phủ mờ rêu xanh
 
Chừng trông vẫn tựa bóng anh
Trong tim ai đó còn dành Tiếc Thương.
 
                          Biên Hòa, 19/6/1990
 
 
BÀI TÍNH SAI
 
Tính cộng lại hóa ra trừ
Tính nhân ai ngỡ bây giờ thành chia
Một bài tính nhỏ xưa kia 
Tính đi tính lại, ô kìa vẫn sai!
 
 
GIAM THUYỀN
 
Xưa là rạch lớn, ngòi con
Mà nay nhà mọc như non như rừng
Thương cho một vũng nước bùn
Chiếc thuyền nằm mục nghiêng lưng gốc dừa.
 
 
BIỂN VÀ CÁT
 
Biển cuồng nộ ngày đêm gào thét
Cát lặng im khép nép cúi đầu
Biển vung tay đánh cát thật đau
Sóng biển tan, cát bên nhau lặng lẽ
 
Biển khoe biển rất hùng, rất khỏe
Có binh tôm tướng cá muôn nghìn
Cát mỉm cười và vẫn lặng im
Tôm cá chết lại về cùng cát bụi!
 
Biển tàn bạo, sóng trào lên dữ dội
Hòng xóa tan dấu vết những bãi bờ
Biển lầm to vì chưa học chữ ngờ
Bờ cát vẫn ỡm ờ soi ngấn nước.
 
Biển có thể cạn dần và lùi bước
Cát vẫn còn nguyên vẹn trước như sau
Sóng dù to như con sóng bạc đầu
Sóng tan tác sóng, cát hầu chẳng tan.
Biển hung bạo, biển chỉ là sóng nước
Không có cát vàng, lòng biển ở đâu?
Biển hãy nhớ: Lòng cát sâu, sâu thẳm
Khi núi lửa chồm lên, biển sẽ cúi đầu!
 
                         Hoàng Hương Trang
                                    1982

READ MORE - BÁNH VẼ, CHỖ ANH NGỒI, BÀI TÍNH SAI, GIAM THUYỀN, BIỂN VÀ CÁT – Thơ Hoàng Hương Trang

Friday, November 20, 2020

“ẤY VÀ MÌNH”, CÁCH GỌI NHAU CỦA PHỤ NỮ HUẾ - Hoàng Hương Trang

 


Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng. Đường phố Gia Hội, nơi tôi ở, trở thành sông, đò chèo từ Bãi Dâu lên tới đường Trung Bộ (nay là Tô Hiến Thành). Nghe tới bão năm Thìn là ai cũng kinh hãi. Mùa lụt, người lớn lo đến sốt vó, không buôn bán làm ăn gì được, nhưng tụi con nít thì rất khoái lụt, rủ nhau đi lội chơi suốt buổi (vì lụt to được nghỉ học) lội lụt cho đã, đói bụng, về ăn cơm mắm cà, ăn vét đến thủng nồi.

Về giọng nói cũng rứa, có lẽ bản đồ nước ta chia ba khúc có âm vực rõ ràng, âm hưởng khác nhau hẳn. Từ Thanh Hóa trở ra nói theo giọng Bắc; từ Nghệ An trở vào đến Thừa Thiên nói theo giọng Trung; chỉ qua đèo Hải Vân là giọng nói đã mang âm hưởng gần gần giọng Nam. Bởi vậy, người Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nha Trang… vào sống ở Sài Gòn chỉ vài ba năm là họ có thể nói rặt giọng Nam Bộ; còn người Huế, Quảng Bình, Quảng Trị… có nhiều người ở miền Nam hoặc miền Bắc vài chục năm vẫn không đổi giọng được, phải đợi con cháu, các thế hệ sau mới thực sự đổi giọng Nam hoặc Bắc.

Về ẩm thực, người miền Bắc chỉ ăn mắm tôm, không bao giờ ăn mắm ruốc. Nhưng người Huế thì dù đi đến đâu cũng phải tìm mua cho được mắm ruốc Huế chứ không hề ăn mắm tôm. Người miền Nam không thích ăn cả hai thứ mắm tôm và mắm ruốc, thức ăn miền Nam thường chỉ nêm nếm nước mắm, muối, bột ngọt, đường…
Dân Huế đi đâu cũng nổi tiếng ăn ớt rất cay ít ai theo kịp. Bởi rứa, hồi thời Ngô Đình Diệm bắt người Hoa phải vào quốc tịch Việt Nam mới cho làm nhiều ngành nghề như người Việt. Nếu cứ giữ quốc tịch Hoa thì bị cấm 17 ngành nghề. Từ đó có “Người Việt gốc Hoa”, nhiều người hài hước thêm vào “Người Việt gốc rau muống” (để chỉ người Bắc) “Người Việt gốc giá sống” (là người Nam) còn người Huế là “Người Việt gốc ớt”.

Về các món chè thì người Huế rất phong phú, bất cứ thứ gì cũng nấu thành chè, từ hột kê, gạo nếp, đậu cho đến củ khoai tía (trong Nam gọi là khoai mỡ chỉ nấu canh) củ khoai từ, khoai mài, khoai lang, bột sắn… Những hàng chè ở Huế có khoảng 20 thứ chè, ngoài hột sen, đậu ngự, bột lọc bọc thịt quay là những món chè cao cấp, còn có đủ loại chè khác. Trong Nam hay ngoài Bắc chỉ có độ 5, 7 món chè: Đậu đỏ, bánh lọt, chè xôi nước, đậu xanh, sâm bổ lượng – là chè của người Tàu – Miền Bắc nổi tiếng nhất có chè đường xôi vò, chè kho, chè thạch…

Đi ăn cỗ ở Huế theo truyền thống phải đúng là “Mâm cao cỗ đầy”. Mâm là mâm đồng chạm có 3 chân cao (ở thôn quê, mâm gỗ cũng có 3 chân). Thức ăn phải hàng trăm dĩa nhỏ xếp chồng chất lên 3 lớp đầy vun, thật đúng nghĩa mâm cao cỗ đầy. Thời nay, vì đa số dùng bàn ăn chứ ít dùng sập gụ, phản gỗ, nên mâm cao cỗ đầy cũng không còn nhiều nữa, họa hoằng mới còn một đôi nhà theo kiểu xưa.

Phụ nữ Huế nổi tiếng về làm mứt bánh. Ngày Tết nhà nào cũng có vài chục thứ mứt bánh. Nhà đông con gái thì càng “làm khéo” để khoe tài Công Dung Ngôn Hạnh. Học trò trường Đồng Khánh xưa, chỉ thuần nữ sinh, nên ngoài những môn học bình thường còn được học may vá thêu thùa, học nấu ăn và cả môn dưỡng nhi. Ai đã học qua chừng 4 năm ở trường Đồng Khánh là có thể tự đan áo len, tự cắt may quần áo và thêu thùa, biết nấu ăn rất nhiều món, kể cả các món bánh kẹo, bánh ta và bánh Tây.

Về ngôn ngữ người Huế có nhiều cách nói thật lạ, nếu không là dân Huế lâu năm, không sống cả nơi thôn quê và thành thị thì không thể hiểu được. Ví dụ: “Ăn một chắc, làm một mình”, “chắc” ở đây là chỉ Một người. Nhưng “Hai cấy dôn đập chắc” (nghĩa là hai vợ chồng đánh nhau) “chắc” ở đây lại là Hai người. Hoặc “Ăn xong nhớ để đèng cho tui với hí” thì “để đèng” không phải là thắp cây đèn để đó, mà “để đèng là để dành, để phần”. Về chuyện này đã có một kinh nghiệm đắt giá của một anh chàng “tứ xứ” về cưới một cô gái nông thôn Huế. Cô vợ bận ra đồng, bảo chồng: “Anh ăn xong nhớ để đèng cho em hí” ở nhà anh chồng ăn cơm xong, liền thắp một ngọn đèn để ở bếp, chẳng may con mèo đuổi chuột làm đổ đèn cháy rụi cả gian bếp, từ đó anh chồng mới hiểu “ngôn ngữ” của vợ. Nhiều chữ nếu không hiểu cứ ngớ ra tưởng người nước ngoài nói như “Đi lên côi tê, đi xuống dưới nớ”.

Độc đáo nhất là hai chữ “Ấy và Mình” nó độc đáo vì không nơi nào nói như rứa, mà ở Huế cũng không phải ai cũng nói như rứa. “Ấy và Mình” chỉ dành riêng cho một lớp người Huế mà thôi. Lớp già cả, lớp quý tộc không ai nói “Ấy và Mình”. Đàn ông con trai cũng không ai nói “Ấy và Mình”. Thời tiểu học, bạn bè gọi nhau là “Mi Tau” kể cả trai và gái. Miền Bắc học trò thường gọi nhau là “Tớ, cậu, đằng ý”, ở miền Nam, học trò gọi nhau là “Mày, Tao”, gần đây, học trò thường gọi nhau là Bạn hoặc gọi tên. Thời tiểu học ở Huế thường gọi “Mi Tau”, lên trung học, đại học, chỉ riêng các nữ sinh mới gọi nhau “Ấy và Mình”, nam sinh vẫn gọi nhau là “Mi Tau” có khi là “ông và tui”. Một số bạn gái gọi nhau bằng tên, nhưng đa số và rất độc đáo vẫn gọi “Ấy và Mình” cho tới lớn khôn, đi làm rồi, có gia đình rồi, gặp lại nhau vẫn gọi “Ấy và Mình”, nghe rất lạ. “Ấy và Mình” vừa thân mật, vừa lịch sự, không suồng sã, vừa êm tai, nghe thật ngọt ngào, dễ thương chi lạ!

Chỉ có con gái Huế mới xưng hô với nhau “Ấy và Mình”, cả nước không nơi nào xưng hô như vậy. Rất riêng của Huế. Lúc còn ở Huế, cứ coi mọi chuyện là thường, không quan tâm gì mấy. Xa Huế rồi mới thấy nhớ da diết, nhớ tất cả những gì có liên quan tới Huế, nhớ nắng, nhớ mưa, nhớ giọng nói, nhớ món ăn, nhớ bạn bè và nhớ nhất bạn bè vẫn gọi nhau “Ấy và Mình” một cách xưng hô thật dễ thương.
 
                                               Hoàng Hương Trang 

READ MORE - “ẤY VÀ MÌNH”, CÁCH GỌI NHAU CỦA PHỤ NỮ HUẾ - Hoàng Hương Trang

Sunday, November 8, 2020

BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 1”; THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG – Châu Thạch

 

  Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

I - Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương:

Vũ Hoàng Chương (1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên. 

Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất-bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944). 

Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)... Ông từng được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam.

Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn. 


II – Sự Kiện của thơ:

Nhà thơ La Thuỵ, quản nhiệm trang web blog BÂNG KHUÂNG (phudoanlagi.blogspot.com) và trang web blog NỖI NIỀM (lathuybinhthuan.blogspot.com) đăng trên 2 trang web blog của mình như sau:

“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề ‘Đọc lại người xưa’, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: ‘Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa’ để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch ‘Đọc lại người xưa’.

Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.

Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là ‘di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời’. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.”


    


III- Nghiên cứu bài thơ “Đọc Lại Người Xưa, Bài 1”


 1.  Bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (1)

“Minh nhật dục từ nam phố đạo

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh”

                                     Cao Bá Quát

*

Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von

Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây

Cánh chim lượn gió đong đầy

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành 

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương

Ba hồi trống giục pháp trường

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa

Cơn buồn lọt gió mành thưa

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba

Nào ai đáng mặt danh ca

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.

                                      Vũ Hoàng Chương


BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 1”; THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

                                                       Châu Thạch


Bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương viết về Cao Bá Quát:

Cao Bá Quát (1809 – 1855), biểu tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, lại có hiệu Cúc Đường, là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương chống lại triều Nguyễn, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.

Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuối đời Cao Bá Quát làm thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn chống triều Nguyễn. Khởi nghĩa thất bại, cái chết của ông có nhiều giả thuyết, giả thuyết Cao Bá Quát bị chém được kể lại thành giai thoại văn chương.

Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (1), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để dẫn nhập cho bài thơ của mình. Nguồn gốc của hai câu thơ nầy được nhà thơ La Thụy giải thích như sau:


“Minh nhật dục từ nam phố đạo,

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.

                                   (Cao Bá Quát)


Hai câu thơ đó có nghĩa là:


“Ngày mai muốn từ biệt đường Nam phố,

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.”


“Bài thơ này nằm trong quyển ‘Cao Chu Thần thi tập’ của Trung Tâm Học Liệu xuất bản năm 1971


ĐỀ ĐÀO NƯƠNG XÁ


Cổ nhân bất thức kim nhân hận,

Tài đáo thương ly thuyết tận tình.

Minh nhật dục từ nam phố đạo,

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.

Hàn y cô quán băng xương thiểu,

Vụ hiệp thâm thôn trúc thụ bình.

Túy sát Tầm Dương tiếu Tư Mã,

Thanh sam hà sự lệ tung hoành

                             Cao Bá Quát


Dịch nghĩa:


Người xưa không biết thấu nỗi lòng hận của người đời nay,

Mới gặp sự đau lòng biệt ly (hơi hơi), cũng đã nói hết sầu tình.

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.

Sương giá không bao, quán trọ vẫn quạnh hiu lạnh lẽo,

Cây cối đều bằng phẳng, vì mù trùm làng mạc thâm u.

Nực cười cho bến Tầm Dương, chàng Tư Mã kia say,

Việc gì mà đến nỗi lai láng dòng lệ, thấm tràn áo xanh.


Dịch thơ:


ĐỀ THƠ QUÁN ĐÀO NƯƠNG

Người xưa không biết người nay hận,

Vừa mới xa nhau đã hết tình.

Mai sẽ từ biệt đường Nam phố,

Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?

Lạnh lùng quán quạnh dầu sương ít,

Bằng phẳng cây nhiều với vụ sanh.

Cười ngất rượu say Tư Mã khách,

Can gì lệ đẫm khắp bào xanh!

                 Sa Minh Tạ Thúc Khải


Đọc hai câu dẫn nhập vào bài thơ “Đọc Lại Người Xưa (1)” của Vũ Hoàng Chương, ta cũng có thể hiểu nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để nói lên tâm sự u uẩn của người xưa mà cũng gởi vào đó tâm sự u uẩn của chính mình ngày nay.

Hai câu thơ dẫn nhập cho “Đọc Lại Người Xưa 1” là “Minh nhật dục từ nam phố đạo/Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh” dịch là “Mai sẽ từ biệt đường Nam phố/Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?” cho ta đoán định được tâm sự lưu luyến khi phải từ bỏ một quá khứ, một quê hương để bước vào một cuộc sống mới, xa lìa nguồn vui thanh nhã đàn ca hát xướng, cũng như nỗi buồn khi phút cuối còn nghe giọng ca quen thuộc như một lời tiển đưa ai oán. 

Thế rồi Vũ Hoàng Chương vào đề bài thơ bằng câu thơ: “Đường Thanh Nghệ Tĩnh cho von”. Đọc câu thơ nầy ta nhớ đến bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan cũng đi trên con đường Thanh Nghệ Tĩnh để vào kinh đô Huế, đên đèo Ngang, bà cảm tác bài “Qua Đèo Ngang” bày tỏ tấm lòng thương nhớ triều Lê. 

Ở bài thơ nầy, Vũ Hoàng Chương cũng nhắc đến “Đường Thanh Nghệ Tĩnh cho von”, nhưng trong một câu thơ sau nhà thơ lại nhắc đến cái chết bị chém đầu trên pháp trường cúa Cao Bá Quát: “Ba hồi trống giục pháp trường/Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa”. Điều đó chứng tỏ câu thơ “Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von” Vũ Hoàng Chương muốn nói đên việc Cao Bá Quát qua Thanh Nghệ Tĩnh hay qua đèo Ngang, trên con đường bị đưa vào kinh đô Huế để chém đầu. 

Câu thơ thứ hai của “Đọc Lại Người Xưa (1)”, Vũ Hoàng Chương nhắc đến ca trù hay hát nói: “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây”

Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là một trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nửa đầu hay tiền bán thế kỷ 19, hai nhà thơ cùng nổi danh với những bài Hát nói trong giáo phường cũng như trong lòng kẻ thưởng ngoạn, và thường được xếp bên nhau trong chương trình giáo khoa văn học VN là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát. 

Qua những bài hát nói, Cao Bá Quát tỏ ra là một tài tử đa cùng, một nghệ sĩ tài hoa, một khách phong lưu ưa thú cầm kỳ thi tửu và thích hưởng nhàn và hưởng lạc.

“Nhịp ba cung bắc” là gì? Đó là một cách hát trong nghệ thuật hát nói. 

“Hát Cung bắc trước chậm sau mau, có ba chỗ thay đổi điệu. Thoạt đầu ngâm nga rồi vào phách, giọng hát chen cung nam lẫn cung bắc, sau chuyển sang cung pha nên gọi là nhịp ba cung bắc.” 

Câu thơ “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” Vũ Hoàng Chương muốn nói đến Cao Bá Quát, tác giả “Tài tử đa cùng phú” đã bị dưa đi chém đầu rồi thì từ đây, điệu ca hay “nhịp ba cung bắc” không ai còn hát nữa, vì hát cho ai nghe, bởi khách tài hoa phong lưu bậc nhất không còn ở trên đời. 

Tiếp tục bài thơ, câu thứ 3 và câu thứ 4 như sau:


Cánh chim lượn gió đong đầy

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành


“Khói hoàng đô” thì dễ hiểu. Đó là khói ở kinh đô. Còn mây Đế Thành là gì?   Đế Thành là thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793.  Năm 1778, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thành Đồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế.

Hai câu trên nói đến sự suy tàn của triều đại Tây Sơn. “Khói hoàng đô” nói sự thịnh vượng của đế đô hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đế đô đó tên là Thành Hoàng Đế. Sau khi Tây Sơn thua cuộc, Thành Hoàng Đế bị san bằng, phút chốc đã hóa thành thành mây, gọi là “mây Đế Thành”.

Câu thứ 5 và thứ 6 của “Đọc Lại Người Xưa (1)” như sau:


Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành 

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương


“Lưu xú” là lưu tiếng xấu (Lưu danh thiên cổ, lưu xú vạn niên). “Lưu phương” là lưu tiếng thơm cho đời sau. Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu “Làm cho bách tuế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng”.

Hai câu thơ 5 và 6 đề cập đến sĩ phu thời Cao Bá Quát. “Rồng Lê” là những sĩ phu thời vua Lê, “phượng Nguyễn” là sĩ phu thời các vua Nguyễn. Đấy là những người “Phú quý bất năng dâm/ Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất” - hiểu đơn giản là miễn nhiễm trước những nguy cơ tấn công của tiền bạc, của đói nghèo và bạo lực. Thứ duy nhất mà họ theo đuổi, và tôn thờ đến khi nhắm mắt xuôi tay là lý tưởng phụng sự tổ quốc, phụng sự dân tộc mình. Cao Bá Quát là một trong những ngôi sao sáng của tầng lớp nầy nhưng sinh ra dưới ngôi sao xấu nên đường khoa cử, đường hoạn lộ đều gặp trắc trở, để cuối cùng bị họa diệt thân, họa tru di tam tộc. 

Bốn câu thơ 7 và 8, 9 và 10, Vũ Hoàng Chương nhắc đến cái chết bị chém đầu của Cao Bá Quát:


Ba hồi trống giục pháp trường

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa

Cơn buồn lọt gió mành thưa

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba


Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Sử nhà Nguyễn ghi chép về cái chết của Cao Bá Quát, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Mỹ Lương nổ ra bắt đầu ở Quốc Oai (Sơn Tây), rằng ông bị bắn chết ở trận tiền (1855). Truyền thuyết cho rằng Cao Bá Quát bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng:


Một chiếc cùm lim chân có đế,

Ba vòng dây xích bước còn vương.


và:

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,

Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời!

Trong bốn câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã hư cấu cho trời đất cũng hát tiếng hát ca trù thảm thiết bằng nhưng cơn gió lọt vào mành thưa khi nhà thơ Cao Bá Quát bị chém trong một ngày mưa. Để rồi tiếp hai câu thơ chót, Vũ Hoàng Chương đã cho tiếng ca của trời đất đó thê thảm đến nỗi không một danh ca Bắc Hà nào có thể diễn đạt được hết nỗi bi thương kia:


Nào ai đáng mặt danh ca

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.


Quê hương của Cao Bá Quát là tỉnh Bắc Ninh, do đó ông chính là kẻ sĩ miền Bắc. Câu thơ “Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe” như một lời kêu than, một lời phân bua, một lời oán trách đến người kẻ sĩ Bắc Hà, mời họ nghe tiếng khóc của mưa gió cho cái chết của họ Cao còn ai oán, bi thương nhiều hơn tiếng ca trù của một danh ca Bắc Hà than vản. 

Nhà thơ La Thụy cho biết, “ĐọcLại Người Xưa” bài 1 là một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng Chương sáng tác năm 1975-1976, là thời kỳ nhà thơ lâm vòng lao lý, tù tội. Mười hai bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” nầy tác giả phải đưa vợ cất dấu rồi chuyền tay cho nhà thơ Hoàng Hương Trang giữ hộ. Điều này cho ta có thể suy đoán, 12 bài thơ là nỗi lòng mà thi nhân ấp ủ vào đó. Vũ Hoàng Chương đã đọc lại 12 thi nhân xưa để sáng tác về họ, lấy cùng nhan đề “Đọc Lại Người Xưa” để lồng gởi vào đó niềm riêng mà nhà thơ không thể nói công khai ra được.

Châu Thạch tôi vì ái mộ Vũ Hoàng Chương, nên tra cứu để tìm hiểu nhà thơ trên mạng, biết được điều gì xin chép lại điều đó, nghĩ rằng nên truyền thông ra để thân hữu, bạn đọc có thể biết thêm về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của một thi nhân nổi danh một thời. Bài viết có nhiều tư liệu đã thành phổ biến tôi không đưa vào ngoặc kép, còn những tư liệu mới tôi đều đưa vào ngoặc kép hoặc nói xuất xứ rõ ràng. Mong được tha lỗi những sai trật hoặc nhận định khác ý của tôi, vì đây chỉ là bài viết của một người tay ngang múa rìu qua mắt thợ mà thôi.


                                                              Châu Thạch


READ MORE - BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 1”; THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG – Châu Thạch