Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts
Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts

Friday, February 6, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六  là “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ  có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối 
Lục thư: hội ý
Hình thái: 
Nét bút: 

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

                    

Ban đầu, chỉ riêng chữ  gửi bằng hình chụp thì Chat GPT cho biết như sau:
Đó là chữ  (phồn thể).
Phiên âm Hán Việt: mại
Nghĩa: bán
(Giản thể tương ứng: )

Thế thì 二十六貫 không thể là “nhị thập lục bản” với nghĩa 26 mại (hoặc bán 26...)


Có lẽ do hình chụp chỉ riêng chữ  có vấn đề nên tôi gửi hình chụp nguyên cả cụm từ  二十六貫 (97.5 kg) hỏi Chat GPT, thì được trả lời như sau:

   二十六貫 (97.5 kg) 
     nhị thập lục quán (ở đây quy đổi ra 97,5 kg)

  貫 (quán) → đơn vị đo/đơn vị tiền cổ
  貫 (quán) vốn không phải đơn vị khối lượng cố định như kg, mà là đơn vị “xâu / chuỗi”, sau đó mới được quy ước sang trọng lượng tùy thời kỳ và địa phương.

*
1/ Nghĩa gốc của  (quán) : xâu, chuỗi (xâu tiền, xâu vật)

Ví dụ phổ biến nhất:
 一貫錢 (nhất quán tiền) 1 xâu tiền đồng (thường ~1000 đồng tiền cổ)

2/ Khi  được dùng làm đơn vị cân nặng
Trong thực tế (nhất là Trung Hoa – Việt Nam – Nhật Bản cổ), khi hàng hóa được bó / xâu lại, người ta dùng  như đơn vị quy ước trọng lượng.

3Một số quy đổi phổ biến theo từng bối cảnh

🔹 Trung Quốc (thường gặp)
→ Ví dụ trong hình bạn gửi:
     26  bằng 97,5 kg
       1  ≈ 3,75 kg

Đây là cách tính rất phổ biến, đặc biệt trong:
  - Buôn bán nông sản
  - Hàng hóa buộc bó (thóc, gạo, cá, hàng khô)
 
🔹 Nhật Bản (Kan = )
    1  ≈ 3,75 kg
     → trùng với cách tính trong hình của bạn
 
🔹 Việt Nam (thời phong kiến)  Quán hay (quan)
  貫 thường dùng cho tiền:
    1 quan tiền ≈ 600 1000 đồng tiền kẽm (tùy triều đại)
 
Khi dùng cho hàng hóa:
thường hiểu theo quy ước địa phương, hay gặp khoảng 3–4 kg
 
*
Tôi thử dùng thêm trí tuệ nhân tạo thông minh như AI và gửi chữ (không gửi hình chụp) thì có giải đáp:

  "" (guan4) đọc là "quán" trong Hán Việt.
  "二十六貫" (97.5 kg) đọc là "nhị thập lục quán" trong Hán Việt.

Cụ thể:
  二十 (nhị thập) = 20
  六 (lục) = 6
  貫 (quán) = đơn vị đo trọng lượng (1 quán = 3.75 kg)
Vậy, 二十六貫 26 quán =  97.5 kg

"" (quán) thường dùng để chỉ đơn vị tiền tệ trong thời cổ, tương đương với 1 chuỗi tiền (1000 đồng tiền xu). Trong ngữ cảnh này, "quán" thường được dùng để chỉ lượng tiền lớn.
Ví dụ: 一貫錢 (một quán tiền)
Tuy nhiên, như trong trường hợp trước, "" cũng có thể dùng làm đơn vị đo trọng lượng, tương đương 3.75 kg.
 
*
Vì đây cụm từ viết theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự), người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện nên tôi hỏi Google:

Kan () trong tiếng Nhật là gì?
 
Goole trả lời như sau:

Thông tin tổng quan do AI tạo
 
Kan ( - Quán) trong tiếng Nhật là một đơn vị đo lường cổ truyền thống, tương đương \(1.000\) monme hay \(3,75\) kg, được sử dụng phổ biến để đo trọng lượng ngọc trai nuôi cấy. Trong ngữ cảnh ẩm thực, "kan" (thường viết là ) còn là đơn vị đếm chuyên dụng cho sushi (2 miếng/suất) thể hiện sự sang trọng và truyền thống.
 
Các khía cạnh chính về Kan ():
 
Đơn vị đo khối lượng (Trọng lượng): \(1\) Kan = \(3,75\) kg (hoặc \(1000\) monme). Đơn vị này được Luật Cân đo Nhật Bản năm 1891 chính thức công nhận và vẫn phổ biến trong ngành công nghiệp ngọc trai.
Đơn vị đếm Sushi: Được dùng để đếm sushi, đặc biệt tại các nhà hàng cao cấp, tượng trưng cho một suất (thường là 2 miếng nhỏ hoặc một cặp).
 
Ý nghĩa khác (Hán tự ): Ngoài ra,  có thể chỉ sự "xuyên qua", "nối liền", hoặc trong ngữ cảnh cổ (quê quán, xâu tiền).
 
Khớp nối gỗ (Nuki): Trong kiến trúc,  còn được gọi là nuki, một loại mộng gỗ ngang nối cột và dầm trong xây dựng truyền thống Nhật Bản.
 
Kan () không nên nhầm lẫn với Kan (), là từ dùng để chỉ các loại lon, hộp kim loại hình trụ.

*
KAN () và CÂN () có tương quan với nhau không”
 
Tôi tra chữ cân  (đơn vị khối lượng) và các dị thể của nó, không hề thấy có nét tương đồng với Kan  (đọc theo âm Nhật) cả.

 CÂN / jīn/
Âm Hán Việt: cân
Tổng nét: 9
Bộ: giác 
Hình thái: 
Nét bút: 
 
Dị thể: 4
斤 筋 𧢼 𧣊
 
Âm đọc khác
 
Âm Quan thoại: jīn 
Âm Nôm: cân
Âm Nhật (onyomi): 
Âm Nhật (kunyomi): 
Âm Hàn: 
Âm Quảng Đông: gan1

*
Tôi hỏi Google thì được biết:

 CÂN  Hệ đo lường cổ, 1 cân cổ bằng 16 lạng, tương đương khoảng 0,604 kg. Đây cũng là nguồn gốc của câu thành ngữ "kẻ tám lạng, người nửa cân" (8 lạng = 0,5 cân)

Hiện nay, khi nhắc đến "cân Tàu", giá trị quy đổi chuẩn xác nhất sang hệ mét (kilôgam) là:
1 cân Tàu (1 jin) = 0,5968 kg (khoảng 596,8 gam).
Tuy nhiên, trong thực tế giao dịch và tùy theo ngữ cảnh, con số này có thể thay đổi nhẹ:
Giao dịch thương mại/Order hàng:
Các đơn vị vận chuyển thường làm tròn 1 cân Tàu = 0,5 kg hoặc 0,6 kg để thuận tiện cho việc tính phí cước.
 
Ở Việt Nam, cách gọi phổ thông hiện nay 1 cân là 1 kg.
Ở Trung Quốc 1 “công cân” 公斤 (1 kg) bằng “thiên công khắc” 千公克 (1000 g).
Như vậy,  CÂN với Kan  (đọc theo âm Nhật) không hề thấy có nét tương đồng nào cả.    

*
Tra chữ  (Quán) thấy có cụm từ “ác quán mãn doanh” 惡貫滿盈 lại nhớ đến nhân vật Đoàn Diên Khánh đứng đầu “tứ đại ác nhân” trong truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, thú vị thật !

 là quan tiền thời xưa ở Việt Nam

Nhớ lời thơ của Nguyễn Bính:

“Một quan là sáu trăm đồng,
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.
 
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy,
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng.
Tôi ra đón tận gốc bàng,
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem.”
 
Cảm ơn các hệ thống trí tuệ nhân tạo thông minh như Chat GPT và AI nhiều. Tôi post lên cùng chia sẻ cùng quý bạn!
                                                                            
                                                                               La Thụy sưu tầm

Ghi chú:

Trang face có clip với dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg) :
 
https://www.facebook.com/groups/1126577924381780/posts/2615586832147541/
 
Nội dung miêu tả trong clip:
 
“Cô gái nâng tảng đá nặng 97.5kg này là tân Bộ trưởng Onoda Miki, lúc đó là thượng nghị sĩ.
Cô này có lần còn thi đấu môn sumo nữ, cô cũng có đai đen Judo và cựu lực sĩ, nên có khác.”
READ MORE - NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch

Saturday, October 21, 2023

THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT GHI BẰNG CHỮ CÁI LA TINH VÀ TRONG ÂM HÁN VIỆT – La Thụy



Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết.

Âm tiếng Hán hiện đại (tiếng Hán phổ thông, dựa trên phương ngữ Bắc Kinh) chỉ có 4 thanh bậc: phù bình (tên thông dụng hiện nay là âm bình), trầm bình (tên thông dụng hiện nay là dương bình), thượng thanh và khứ thanh (không chia bậc).
Nhưng âm Hán-Việt lại quy về bốn thanh điệu và thêm hai bậc của tiếng Hán vì dựa vào phiên thiết của âm tiếng Hán.
Trong âm HánViệt trước đây có bốn thanh: bình , thượng , khứ , nhập ; mỗi thanh có hai bậc là phù  và trầm  (hoặc thanh /trộc ; thượng /hạ )
Như vậy, tổng cộng có 8 thanh bậc: phù bình (浮平), trầm bình (沈平), phù thượng (浮上), trầm thượng (沈上), phù khứ (浮去), trầm khứ (沈去), phù nhập (浮入), trầm nhập (沈入).
*
Từ khi dùng chữ Quốc ngữ làm chữ viết, người Việt có thể diễn tả thanh điệu một tiếng bằng một ký tự nhất định. Tuy vậy, cũng chỉ được 6 thay vì 8, nghĩa là mất 2. Hai thanh phù-khứ, phù-trầm nhập lại thành một, hai thanh trầm-khứ, trầm-nhập cũng nhập lại thành một. Như vậy chỉ còn 2 thay vì 4.
Trong chữ Quốc ngữ, sáu thanh điệu được biểu thị bằng các dấu: sắc (´), hỏi (?), huyền (‘), ngã (~), nặng (.) và không dấu dành cho thanh ngang (phù-bình).
 
THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT SỬ DỤNG THEO BẢNG CHỮ CÁI LA TINH:

Tiếng Việt sử dụng bảng chữ cái Latin và có sáu thanh điệu được ghi bằng các dấu thanh đặt trên hoặc dưới nguyên âm chính: huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng và không dấu (tức không có dấu nào cả). Ta có thể nói tiếng Việt thông thường có 6 thanh điệu và được ghi bằng 5 dấu thanh.
Sáu thanh điệu tiếng Việt được xếp vào 2 nhóm: thanh bằng và thanh trắc
 
THANH BẰNG
 
Thanh bằng là thanh điệu bằng phẳng, không có sự cao giọng hay thấp giọng khi đọc. Và là những thanh điệu mà khi thể hiện, đường nét âm điệu diễn biến bằng phẳng, đồng đều từ đầu đến cuối, không có sự lên xuống bất thường nào.
Thanh bằng gồm những tiếng hay chữ không có dấu (gọi là thanh ngang) và những tiếng hay chữ có dấu huyền.
 
- Thanh ngang: thanh ngang hay còn gọi là thanh không dấu hoặc gọi là thanh không được thể hiện dấu trên chữ. Thanh này xuất hiện trong tất cả các âm tiết, trừ âm tiết khép.
Ví dụ: cam, xuân, đông, công ty, mưa xuân,….
Nhưng thanh bằng không được thể hiện trên các âm tiết như: lach, bach, bat, lac, nhac, hat, het, bêt,….
 
- Dấu huyền: dấu huyền là một dấu thanh nằm trên các nguyên âm trong tiếng Việt. khi thể hiện trên các nguyên âm thì phát ra âm với giọng đi xuống. Dấu huyền được viết bằng một gạch ngang chéo từ trái sang phải.
Dấu huyền thấp hơn thanh ngang một bậc, dấu này có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép và đọc với giọng nặng hơn thanh ngang.
Ví dụ về dấu huyền: cà, sàn, đầm, bằng, bà, bàn, ….
 
THANH TRẮC
 
Thanh trắc là thanh điệu không bằng phẳng. Thanh này có âm diệu diễn biến phức tạp trong thanh điệu. thanh này khi lên khi xuống, thể hiện ra bằng một đường nét không bằng phẳng và không đồng đều.
Thanh trắc được thể hiện bằng các tiếng hay chữ có các dấu gồm: dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, gấu nặng.
- Dấu hỏi: dấu này có thanh điệu thuộc âm vực thấp. Khi phát âm, dấu hỏi có điểm bắt đầu và kết thúc thanh điệu đều ở âm vực thấp.
Dấu hỏi thường xuất hiện trong tất cả các âm tiết không phải là âm tiết khép.
Ví dụ: vả lại, hỏi han, cảm cúm, cảng biển, cảnh đẹp, hổn hểnh, cảm ơn, thể hiện,….
- Dấu ngã: dấu ngã là dấu có thanh điệu thuộc âm vực cao. Dấu này bắt đầu thấp hơn và kết thúc cao hơn, có thêm động tác nghẽn thanh hầu khi phát âm.
Dấu này có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép và đọc với giọng nặng hơn thanh ngang.
Ví dụ: ngã, vẽ, xã, mãn nhãn, sững sờ,….
Dấu ngã không được thể hiện trên các âm tiết như: lach, bach, bat, lac, nhac, hat, het, bêt,….
- Dấu sắc: dấu sắc là dấu có thanh điệu thuộc âm vực cao. Khi phát âm, dấu này có điểm xuất phát thấp hơn thanh ngang một chút và điểm kết thúc ở âm vực cao. Đồng thời khi kết thúc còn phải có thêm động tác nghẽn thanh hầu khi đọc.
Dấu sắc có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết.
Ví dụ: khá lớn, bí quyết, chính thức, sáng sớm,….
- Dấu nặng: dấu nặng là dấu có thanh điệu thuộc âm vực thấp. Khi phát âm, dấu này có điểm xuất phát gần với độ cao xuất phát của thanh huyền nhưng kết thúc đột ngột ở độ cao thấp hơn.
Dấu nặng xuất hiện ở tất cả các kiểu âm tiết.
Ví dụ: lạ đời, chợ xuân, lợi ích, lạm dụng, trục trặc, bẹp ruột
 
* THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT TRONG ÂM HÁN VIỆT
 
Tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ thanh điệu (tone-language). Nguyên thủy có 8 thanh điệu bao gồm 2 yếu tố: âm vực và âm điệu. Âm vực có 2 mức độ: phù (cao) và trầm (thấp). Âm điệu được chia thành bằng và trắc. Bằng là bình. Trắc gồm thượng, khứ, nhập. Nhân 2 âm vực với 4 âm điệu, ta được 8 trường hợp. Xin mượn một ví dụ của Cao Xuân Hạo (1998:82) "an", "ản", "án", "àn", "ãn", "ạn", "át", "ạt"
 
Trong tiếng HánViệt trước đây có bốn thanh: Bình , Thượng , Khứ , Nhập ; mỗi thanh có hai bậc là phù  và trầm  (hoặc thanh /trộc ; thượng /hạ 下)

Như vậy, tổng cộng có 8 thanh bậc: phù bình (浮平), trầm bình (沈平), phù thượng (浮上), trầm thượng (沈上), phù khứ (浮去), trầm khứ (沈去), phù nhập (浮入), trầm nhập (沈入).
 
1. Thanh bình: Có hai bậc, phù và trầm.
Thanh bình bậc phù (phù bình hay âm bình) là những tiếng không dấu, tức thanh ngang. Ví dụ:  (a),  (hương).
Thanh bình bậc trầm (trầm bình hay dương bình) là những tiếng có dấu huyền. Ví dụ:  (đà),  (điền),  (thần).
Điều cần chú ý là các chữ thanh ngang bắt đầu bằng l, m, n, ng, nh, d, v đều thuộc "trầm bình" ("hạ bình") trong cách áp dụng phiên thiết (Lê Ngọc Trụ) như minh , nhân , vân , nếu không sẽ sai về bậc thanh. Điều này rất ít tác giả nhấn mạnh.

2. Thanh thượng: Có hai bậc, phù và trầm.
Thanh thượng bậc phù (phù thượng) là những tiếng có dấu hỏi. Ví dụ:  (bả),  (hải),  (trảm).
Thanh thượng bậc trầm (trầm thượng) là những tiếng có dấu ngã. Ví dụ:  (mẫu),  (nữ),  (ngữ).

 3. Thanh khứ:
Thanh khứ bậc phù (phù khứ) là những tiếng có dấu sắc. Ví dụ:  (đấu),  (phóng),  (tiến).
Thanh khứ bậc trầm (trầm khứ) là những tiếng có dấu nặng. Ví dụ:  (đại),  (tại),  (vọng).

4. Thanh nhập:
Thanh nhập bậc phù (phù nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu sắc. Ví dụ:  (đáp),  (thiết),  (trách),  (tróc).
Thanh nhập bậc trầm (trầm nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu nặng. Ví dụ:  (đạp),  (diệt),  (thạch),  (trạc).

*
Cứ liệu thống kê về nguồn gốc của 8 thanh trong cách đọc Hán-Việt, chúng ta có bảng sau:

BÌNH: Ngang, Huyền,            
THƯỢNG: Hỏi, Ngã            
KHỨ: Sắc khứ, Nặng khứ     
NHẬP: Sắc nhập (Cao), Nặng nhập (Thấp)

Có thể liệt kê 8 thanh điệu đọc âm Hán Việt như sau:
Ngang, Huyền, Hỏi, Ngã, Sắc khứ, Nặng khứ, Sắc nhập, Nặng nhập.   
                                                                                           
                                                              La Thụy

*
THAM KHẢO:
 
- Huình Tịnh Của (1895) Đại Nam quấc âm tự vị. Rey, Curiol & Cie: Saigon
- Nghiên cứu về chữ Nôm của Lê Văn Quán (Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1981)
- Đào Duy Anh: Hán Việt Từ điển.
- Lê Ngọc Trụ: Lối đọc chữ Hán Tập san Đại học Văn Khoa (Sài Gòn) 1968
- Nguyễn Tài Cẩn: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1979
- Lê Văn Quán: Nghiên cứu về chữ Nôm, Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1981.
- Trẩn văn Chánh: Từ điển Hán Việt, Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh 1999
READ MORE - THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT GHI BẰNG CHỮ CÁI LA TINH VÀ TRONG ÂM HÁN VIỆT – La Thụy

Tuesday, March 21, 2023

PHIẾM LUẬN VỀ “NHŨ DANH” - La Thụy




Đọc sách báo tôi thấy có hai quan niệm về NHŨ DANH khác nhau
 
Quan niệm 1:

Ngày nay, trong các bản tin cáo phó cho một người đàn bà, người ta thường viết “nhũ danh” hoặc ghi tiếng Anh là “Maiden name” (Tên thời thiếu nữ)
 
Ví dụ:

Nam Phương Hoàng Hậu nhũ danh là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan (4.12.1914 – 16.9.1963)

Bà Sarah DeRemer Knauss, nhũ danh Clark (24.9.1880 – 30.12.1999)
 
Hoặc trên thiệp cưới ghi:

Bà quả phụ..................
Nhũ danh  ..................

Từ “nhũ danh” ở đây được hiểu là tên của người đàn bà khi chưa lấy chồng.
 
Có người nói “nhũ danh” chỉ dùng riêng cho phụ nữ mà thôi.
Có lẽ do họ quan niệm: “Nam tu 男須 (trai râu), nữ nhũ 女乳 (gái vú)”
 
Và:
Đàn ông không râu bất nghì,
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con!”
 
Đôi dòng phiếm luận:
 
Với quan niệm như trên thì vú là bộ phận tượng trưng cho phái nữ, râu cằm là bộ phận tượng trưng cho phái nam.
 
Đàn ông có khuôn mặt chữ điền râu quai nón hay “râu hùm hàm én mày ngài” thì oai phong lẫm liệt rất xứng đáng là “bậc tu mi nam tử”. Người đàn ông râu rậm, râu tốt, râu dài được khen là “mỹ nhiệm công” như Quan Vân Trường chẳng hạn
 
Phụ nữ đẹp với tiêu chuẩn “đào kiểm”, “tế yêu”, “trường túc”, “ngọa tầm mi” (má đào, eo thon, chân dài, mày tằm) vẫn chưa đủ mà còn thêm tiêu chuẩn bộ ngực tròn trịa, đôi mông đầy đặn mới đạt tiêu chuẩn về số đo 3 vòng, cùng với chiều cao, cân nặng phù hợp.
 
Nhà văn Mạc Ngôn, (nhà văn đầu tiên mang quốc tịch Trung Quốc, được trao giải Nobel Văn học năm 2012) có tác phẩm  “Phong nhũ phì đồn” xuất bản năm 1995, một thời được dư luận xôn xao bàn tán.

Tác phẩm “Phong nhũ phì đồn” lúc đó khi chuyển ngữ tiếng Việt đã phải đổi tựa thành “Báu vật của đời” để gọi là” cho nhã hơn.
“Phong nhũ phì đồn” 丰乳肥臀  nghĩa là “vú đầy mông nẩy” hay “mông to ngực nở”. Dịch là “vú đầy mông nẩy” vừa sát sao, chẳng có gì là thô tục cả. Không hiểu sao mấy ngài dịch giả Việt Nam phải e ngại đi vòng quanh cho dài dòng...

“Vú đầy mông nẩy” thường được quý ông thích đùa gọi “ngực tấn công, mông phòng thủ” chỉ thân hình khêu gợi hấp dẫn bốc lửa của quý bà... làm mấy quý ông cứ “dùng dằng”
 
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong
       
Ông bà ta đã dặn nên chọn vợ phải là tướng “mông nở, ngực to”. Giải thích theo khoa học thì mông nở tức là xương chậu rộng, khi sanh đẻ sẽ dễ dàng, ít rủi ro cho bé sơ sinh hơn người xương chậu hẹp, ngực to thì tuyến sữa phát triển tốt, có nhiều sữa để nuôi con
 
Sự căng tràn của đôi bồng đảo do sự dồi dào của estrogen, ngoài ra còn cần đóng góp của “hạ tầng cơ sở” (mô, tuyến sữa) được quy định tại gien. Cặp tuyết lê của nữ giới vừa là bộ phận quyến rũ về giới tính và vừa là cơ quan hậu cần cung cấp dinh dưỡng cho thiên thần nhỏ sau này.
 
NHŨ   có nghĩa là vú và có nghĩa khác là sữa

Vú là bộ phận đặc trưng của phái nữ nên một số danh xưng có từ NHŨ thường chỉ phái nữ chẳng hạn:

NHŨ MẪU (chữ Hán: 乳母; tiếng Anh: Wet nurse), tiếng Việt gọi nôm na là Bà vú hay Vú em, là danh từ để chỉ những người phụ nữ có chồng, có con làm công việc chăm sóc và cho ăn những đứa trẻ sơ sinh của những gia đình khác bằng sữa mẹ.
 
Quan niệm NHŨ DANH là tên chỉ dành riêng cho phái nữ xem ra cũng có lý...

 *
Tuy nhiên

Quan niệm 2:
 
Theo Wiktionary tiếng Việt, theo từ điển Hán Nôm và một số từ điển như vtudien... thì:

NHŨ DANH: Tên đặt lúc mới sinh.
 

Tên mà người Việt gọi là tên tục thì người Trung Quốc gọi là tiểu danh, được đặt lúc đứa bé còn nhỏ và cũng gọi là nhũ danh khi tên này được đặt lúc đang bú
 
Đôi dòng phiếm luận:
 
NHŨ   có nghĩa là vú, sữa. Ngoài ra còn có nghĩa là con non, sơ sinh.

Nên:

乳名 nhũ danh:  Tên đặt lúc mới sinh.
Nhũ danh trong Tiếng Anh là Milk Name (tên sữa)
 
Mọi đứa trẻ đều có quyền được đặt nhũ danh không kể là trai hay gái. “Nhũ” ở đây chỉ “cái vú” và “sơ sinh”. NHŨ DANH hàm ý tên của “trẻ sơ sinh đang còn bú mẹ”.
 
Tên cha mẹ đặt gọi là nhũ danh, đó là tên từ khi còn bú vú mẹ - có khi là tên cúng cơmtên tục
 
Quý bạn có ý kiến gì về NHŨ DANH theo hai quan niệm trên nhỉ!
                                                                                           
La Thụy

READ MORE - PHIẾM LUẬN VỀ “NHŨ DANH” - La Thụy