Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Ngô Hương Thủy. Show all posts
Showing posts with label Ngô Hương Thủy. Show all posts

Tuesday, December 2, 2025

SÁCH QUÝ NHẬN ĐƯỢC TRONG THÁNG 11.2025 – Ngô Hương Thủy

Nhà văn Ngô Hương Thủy viết về tập sách CHỮ NGHĨA VĂN CHƯƠNG của La Thụy.


* Đất khổ thường nẩy sinh người tài. Tiếp nối những Nguyễn Hữu Liêm, Lê Trạch Cam, Nguyễn Đức Tùng… Hôm nay chúng ta có thêm La Thụy, bút danh của Đoàn Minh Phú.
 
Từ quê nghèo Quảng Trị, sau Mùa hè đỏ lửa, cậu bé đi theo đoàn lưu dân vào Nam tìm đất sống. Ở vùng kinh tế mới La gi - Bình Thuận, vượt qua bao gian khổ, La Thụy đã vươn lên, trưởng thành với nghiệp nhà giáo - nhà văn - nhà nghiên cứu.
 
Chữ nghĩa văn chương được xem là một tạp luận với những đề tài phong phú, hơi khó gặm với người không chuyên. Từ các từ Hán Việt như: “nhũ danh, Sắt cầm hảo hợp, dạng thơ bình thanh” cho đến Mùa thu trong thơ Apollinaire, các đoản văn tựu trường của Anatole France, cách gọi đấng tối cao toàn năng của Hồi giáo…và những cảm xúc, cảm luận, về thơ văn của bạn bè, những địa danh trên quê hương mới …cho thấy cái nhìn đa diện, đa chiều của anh.

Cuốn tạp luận giúp người đọc mở mang thêm kiến thức và khâm phục một cây bút người Quảng Trị. Chúc anh tiếp tục có những tác phẩm mới tạo dấu ấn cho riêng mình.
                                                                               Ngô Hương Thủy

READ MORE - SÁCH QUÝ NHẬN ĐƯỢC TRONG THÁNG 11.2025 – Ngô Hương Thủy

Monday, March 13, 2017

SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA BA - Hồi ký


                            Tác giả Ngô Hương Thủy



                    SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA BA 
                                                       Ngô Hương Thủy 

Khi tôi viết những dòng chữ này thì ba tôi đã an nghỉ trong lòng đất. Ba tôi thọ 84 tuổi. Những người đến chia buồn đều cho ông cụ đã thuộc vào hạng “xưa nay hiếm”. Nhưng trong tôi, đó là một nỗi mất mát lớn lao không gì thay thế được. 
Ba tôi là một nhà giáo nghiêm túc, hiền lành từ thời Pháp thuộc. Ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã ý thức được mình có một gia đình hạnh phúc. Chưa bao giờ tôi thấy ba mẹ cãi nhau. Hai người xưng hô bằng từ “mình ơi” nghe rất dịu. Ba đi làm, mẹ nội trợ, sáu anh chị em cắp sách đến trường. Một khuôn mẫu của gia đình cách đây năm mươi năm trước. 
Năm tôi lên tám tuổi thì mẹ mắc bệnh. Một căn bệnh nan y mà đến giờ y học vẫn bó tay: ung thư. Mẹ tôi nằm sáu tháng tại nhà thương Huế. Dù bác sỹ giám đốc Lê Khắc Quyến đã lắc đầu nhưng ba tôi vẫn không chịu bó tay. Người xin nghỉ việc đưa mẹ vào Sài Gòn với suy nghĩ “còn nước còn tát”. Sáu anh chị em bắt đầu thấm thía nỗi côi cút trong căn nhà vắng. 
Rồi từ Sài Gòn mẹ trở về với làn da xanh mét, thân hình gầy guộc. Mắt ba sâu hơn, nụ cười thường nhật biến mất. Tất cả chỉ còn đợi thời gian…Ba đặt một chiếc giường song song cạnh giường mẹ. Trong giấc ngủ trẻ con, nửa đêm tỉnh giấc tôi vẫn thấy ba ngồi nghiêng mình bên mẹ chăm sóc, vỗ về. 
Mẹ tôi có một cái hộp bánh LU của Pháp. Trong đó người cất vòng xuyến, chuỗi ngọc hồi môn, những cái kiềng vàng của các con, tiền dành dụm của gia đình. Nhưng cái hộp càng lúc càng cạn dần. Tiền của lần lượt đội nón ra đi. Rồi vay mượn…Khi mẹ tôi mất thì gia đình hoàn toàn khánh kiệt. Suốt đời tôi chẳng thể nào quên cảnh ba ngồi khất nợ với một người bà con. 
Mội người đàn ông góa vợ lúc 48 tuổi và sáu đứa con dại! Bây giờ tôi mới thấm thía với nỗi vất vả của ba. Chúng tôi không còn người giúp việc. Ba lập một cái sổ thu chi hằng tháng. Chị Hảo chị Hà đi chợ hàng ngày.Tôi nhỏ nhất cũng có bổn phận dọn bàn, lau chén. Chẳng thể còn những món ăn ngon thời mẹ còn sống. Cái bàn tay vốn quen cầm bút của chị tôi chiên trứng thì trứng cháy, nấu canh bữa mặn bữa nhạt, vậy mà ba tôi không hề trách móc, than thở. Có hôm người xuống bếp thay mẹ bảo ban chị. Việc trường, việc nhà chất nặng trên đôi vai ba. 
Mất mẹ tôi ngủ với ba. Thói quen sờ vú của một đứa con gái út không dễ bỏ đi một sớm một chiều. Ba đã ôm ấp tôi, gối đầu tay cho tôi ngủ, cho tôi mân mê vú ba thay vú mẹ trong tiếng thở dài thầm kín. 
Và cứ thế, cuộc đời gà trống nuôi con của ba lặng lẽ qua đi. Ba trả nợ, ba thu xếp cho các con ăn học nên người với số lương còm cỏi của một giáo viên. Mỗi lần anh chị tôi đi thi, không bao giờ ba quên thắp nhang trên bàn thờ mẹ thầm vái van một sự độ trì. 
Năm tôi học đệ tứ- tương đương lớp 9 thời nay- qua sự thu xếp của ông chú, ba tôi có ý định tục huyền với một người quen cũ, nghe đâu cũng là một cô giáo. Các anh đã lớn không có ý kiến gì. Chị Hà vào bàn thờ mẹ khóc. Tôi quay mặt vào tường, đêm ấy không nói với ba một lời. Quá nửa khuya, tôi vẫn nghe tiếng ba trở mình. Và đó cũng là lần cuối cùng. Không bao giờ chúng tôi còn nghe ba có ý định lấy ai. 
Ôi, cái lòng ích kỉ tệ hại của tôi! Giá như ngày ấy chị em tôi biết nghĩ suy hơn một tí. Giá như tôi ý thức được rằng rồi mình cũng sẽ bỏ ba đi tìm một thứ gọi là hạnh phúc, thì hẳn rằng chúng tôi sẽ không ngăn cản ba có môt niềm an ủi khi chúng tôi lần lượt chắp cánh bay xa. 
Ngày ba về hưu thì tôi đang ở năm ba Đại học sư phạm, nối tiếp cái nghề truyền thống của gia đình. Các anh chị đã trưởng thành, mỗi người đều có một sự nghiệp tương đối trong xã hội.Tưởng đâu ba đã thong thả tuổi già, an nhàn trong sự bảo bọc của các con, mãn nguyện với hương hồn mẹ. 
Miền Nam giải phóng. Đất nước chấm dứt cuộc nội chiến nhưng gia đình tôi lại có nỗi đau riêng. Anh ruột và hai anh rể đi học tập. Ba tôi lại tất bật từ Đà Nẵng vào Quy Nhơn, từ Quy Nhơn lên Đà Lạt giữ cháu cho các chị tôi lăn lộn chợ trời, làm lụng kiếm sống. Còn một chút của cải phòng thân, người cũng ngắt ra giúp cho các chị thêm chút vốn liếng nuôi con. 
Sự hy sinh của ba to lớn quá mà chúng tôi nào có cơ hội đáp đền! Sau này khi cuộc sống dần khá lên, các anh chị có điều kiện xuất cảnh gửi tiền về chu cấp thì ba vẫn cứ một đời sống khiêm cung giản dị. Ba đến thăm nhà đứa con nào thì nhà ấy phong quang, sạch sẽ, hoa cỏ tốt tươi. Tám mươi tuổi ba vẫn hái cà phê. Ngăn không cho ba làm thì ba bảo có lao động mới khỏe. Ba già mà tính không chướng. Ba vui vẻ thăm hỏi mọi người từ trong làng ra ngoài xóm. Ai cũng khen ba phúc hậu, quắc thước , phong thái ung dung. Có lần đưa ba về Sài gòn dự buổi họp mặt của cựu học sinh Trường trung học Nguyễn Hoàng-Quảng Trị, ba tươi tắn biết bao nhiêu khi đón bó hoa tươi thắm mừng thọ của học trò, của các cô thầy đồng nghiệp. 
Vậy mà tự dưng ba bỗng yếu đi bất ngờ. Ba có nhiều câu lẩn thẩn. Ba bắt đầu nói về cái chết. Ba kể những câu chuyện 40, 50 năm về trước. Ba sống trong hồi ức xa xăm. Tôi đã có cái hạnh phúc được chăm ba những ngày cuối đời. Tôi bón cho ba thìa cháo, muỗng sữa. Tôi tắm cho ba, xoa nắn làn da mồi và những khớp xương gầy…Nhưng tôi vẫn chưa làm được những gì so với công ơn trời biển của ba. Trong những phút tỉnh táo ba vẫn băn khoăn, đau xót cho sự gãy đổ hạnh phúc của đời tôi. Anh chị đến đón, ba không về . Ba muốn sống và chết ở nhà đứa con út thiệt thòi nhiều thứ. 
Và đúng là “phụ tử tình thâm”. Cái sáng thứ hai ấy, đang dạy ở trường lòng tôi bỗng như lửa đốt. Tôi bỏ dở tiết dạy ra về và kịp chứng kiến sự ra đi của người cha yêu dấu. Tám mươi tư tuổi. Ba mươi sáu năm ở vậy nuôi con. Trải qua những biến cố thăng trầm, đời ba khổ nhiều hơn sướng. 
Đám tang của ba tôi có rất nhiều thầy cô giáo và học sinh. Học sinh cũ của ba và của tôi hiện tại. Một số ở xa cũng đánh điện chia buồn. Âu cũng là một niềm an ủi cho nghề giáo đạm bạc mà thanh cao. 
Ba ơi ! Nếu quả thật có một thế giới bên kia cực lạc thì con chắc chắn rằng ba đang ở đó. Và xin hương hồn ba ghi nhận tấm lòng tri ân của các con trước sự hi sinh thầm lặng suốt cuộc đời ba. 


                                                                            Ngô Hương Thủy


READ MORE - SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA BA - Hồi ký

Friday, November 4, 2016

NƯỚC TRÔI QUA CẦU - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy



                            Tác giả Ngô Hương Thủy



               NƯỚC TRÔI QUA CẦU 
                                                         Ngô Hương Thủy 

“Những lời yêu ấy nay đà quá xa… “
(Cho người tình lỡ -Nhạc Hoàng Nguyên)
 
Hai đứa ở cùng xóm, chung một ngõ, biết nhau từ thuở còn thơ. Thời Ni học lớp Một, mỗi chiều tan trường, chính Cu Tí - tên móc nôi của Hoàng - phải cầm que xua hai con ngỗng chặn đường trước vẻ mặt xanh xám của Ni.
Nhà Ni ở cuối ngõ. Căn nhà lợp ngói âm dương cổ kính với hàng chè tàu bao bọc chung quanh. Mùi hoa dạ lý thơm nức trong vườn. Ba Ni dạy trường Trung học Hàm Nghi, ngày hai buổi đi chiếc Honda Dame màu xanh qua Thành Nội. Nhà Hoàng ở đầu ngõ. Cha mất sớm, mạ tần tảo gánh bún bò nuôi ba anh em. Biết thân phận nghèo khổ của gia đình, Hoàng chăm chú học hành và nổi tiếng học giỏi toàn xóm. Cuối bậc Tiểu học, Hoàng ngồi trên chiếc xích lô của chú Tư với chồng phần thưởng Danh dự toàn trường ngập mặt trong tiếng xuýt xoa của ba Ni “Thằng này sau chắc khá!”
Ni thi vào đệ thất. Ba qua nhà xin với mạ Hoàng “cho Cu Tí qua kèm cặp em Ni”. Năm đó, Hoàng mới học đệ ngũ trường Quốc Học. Cứ ba giờ chiều, Hoàng ôm cuốn “300 bài Toán khó “của Trần Tiếu đi vào nhà dạy Ni. Mỗi lần giảng lâu mà Ni cứ giương mắt không hiểu, Hoàng lại lấy cái thước kẻ khẻ vào tay mặc kệ nước mắt Ni rươm rướm. Có lẽ nhờ sự nghiêm khắc của Hoàng, Ni thi đậu vào trường Đồng Khánh với thứ hạng khá cao. Phần thưởng ba Ni dành cho Hoàng là chiếc xe đạp Peugeot với điều kiện “ngày hai buổi chở em Ni đến trường, coi sóc nó cho Bác”. Mạ Hoàng cảm động, không nói thành lời.
Từ đó trên yên sau chiếc xe đạp của Hoàng là Ni. Ni mặc áo đầm trắng, thắt nơ đỏ xinh xắn. Hoàng bắt Ni gọi mình là “anh Hoàng”, không được nhắc tên Cu Tí trước mặt bè bạn. Ni ngoan ngoãn vâng theo. Đoạn đường từ Nguyệt Biều thẳng xuống Lê Lợi không xa lắm. Hai anh em chuyện trò ríu ran suốt cả con đường Huyền Trân Công chúa. Hai trường cách nhau một con đường nhỏ. Đồng Khánh tan trước Quốc Học 15 phút. Ni ôm cặp đợi Hoàng ở nhà mụ Cai. Đám bạn Hoàng cứ khen “Mi có một đứa em thiệt là ngoan”.
Một lần, xe bị xẹp lốp ở ngay Cầu Lòn, hai đứa phải dắt đi bộ. Có một thằng nhóc mất dạy cứ chạy theo tốc áo đầm của Ni lên. Ni xấu hổ đến phát khóc. Nạt ba lần không được, Hoàng chống xe xuống đập nhau với thằng nhóc. Hậu quả là chiếc áo trắng đã cũ của Hoàng rách một vệt dài ở nách. Hai đứa bàn nhau giấu ba mạ. Buổi trưa Ni trốn ngủ ra sau vườn may lại áo . Những mũi kim vụng dại nhăn nhúm.
Mi lớn dần lên và bắt đầu biết “dị”. Năm lên lớp đệ ngũ, Ni đã mặc áo dài và đỏ mặt xấu hổ trước sự cắp đôi của mấy đứa trong xóm. Nhất là những lời trêu chọc độc ác của Luyến, đứa con gái không đẹp lắm ở gần nhà Hoàng. Luyến học đến lớp 5 thì nghỉ ở nhà theo mẹ bán buôn. Mỗi lần thấy Hoàng chở Ni đi ngang, cái miệng của Luyến lại rống lên “Con gái chơi với con trai. Về sau cái vú bằng hai quả dừa”. Mặt Ni tía tai . Hoàng càu nhàu “Kệ nó. Đồ con gái vô duyên thúi.”
Lên đệ tứ thì Ni nhất quyết không ngồi sau yên xe Hoàng nữa. Bây giờ tụi trong lớp cũng biết Ni với Hoàng không phải là anh em. Mặc kệ lời phân trần của Ni, tụi nó trêu “Chắc hai đứa bây đã có chi với nhau”. Chiều Ni, ba mua cho con gái một chiếc mini màu trắng xinh xắn. Bây chừ thì hai chiếc xe đạp đi song song hàng ngày trên con đường Công chúa Huyền Trân.
Ni dự định chọn ban C khi lên đệ nhị cấp. Ni nói với Hoàng “Em sợ Toán lắm. Mai sau em sẽ thi vào Đại học Sư Phạm và làm cô giáo dạy Văn”. Hoàng nói “Còn anh sẽ thi vào trường Phú Thọ. Anh muốn làm kỹ sư. Mà kỹ sư thì phải giỏi Toán”.
Một bữa Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ cầu cho anh thi đậu Tú tài I. Lo cho Hoàng, Ni đồng ý, lại còn đem theo một thẻ nhang. Hai đứa leo lên những bậc tầng cấp rồi nhìn ra dòng sông Hương lộng gió. Nước sông xanh ngắt. Hoàng đọc cho Ni nghe bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử rồi nói “Ông Hàn Mặc Tử là Thi Thánh. Ni có thấy đúng là “ dòng nước buồn thiu “ không?”.Ni ngạc nhiên dân ban B như anh Hoàng mà tâm hồn cũng lãng mạn rứa a?
Đến dưới chân tháp Phước Duyên, Hoàng thắp nhang rồi lầm thầm khấn. Ni hỏi “Anh khấn thi đỗ hạng ưu à?” Hoàng cười “Bí mật”. Hai đứa ăn bánh bèo Kim Long rồi đi về.
Một bữa Ni chạy qua nhà Hoàng nhờ bày cho cách làm một bài Essay. Muốn vô ban C Anh văn phải thiệt giỏi. Hoàng đang ngủ. Chắc đêm qua anh thức khuya quá. Ni lục bàn học của Hoàng tìm cuốn tự điển. Thấy một quyển sổ đèm đẹp, Ni cầm và lật ra xem.Trên nền giấy trắng, có hàng chục dòng chữ cả Anh lẫn Pháp: I love you , Je t’aime…Chu cha. Anh Hoàng có bồ. Ni nghe tưng tức trong bụng. Cô mô đây?. Ni lật qua trang thứ hai. Hàng trăm chữ Hoàng Ni nối tiếp nhau. Trống ngực Ni đánh thình thịch. Ni chạy về nhà, vào phòng nằm trên giường tim vẫn còn run.
Sáng hôm sau, bé Na kêu “ Chị Ni nhanh lên, anh Hoàng chờ hơn mười phút rồi”. Ni dắt xe đạp ra. Trên quảng đường dài, hai đứa không nói với nhau câu nào.
Hôm nay được nghỉ hai tiết cuối , Ni định về trước nhưng không hiểu sao lại đứng chờ Hoàng ở bức bình phong long mã trước trường Quốc Học. Sông Hương mùa này nước đục, báo động mùa lũ sắp đến. Ni nhớ ngày còn nhỏ, hai đứa đi lội nước lụt, xem người ta rớ cá thật vui. Ni lại nhớ những dòng chữ trên cuốn tập ngày qua, lòng xôn xao…Hoàng đứng sau lưng Ni từ lúc nào. Anh trao cho Ni cuốn sách bọc giấy màu xanh da trời. “Anh tặng Ni nè”. Đó là cuốn “Lá tương tư ” của nhà văn Mường Mán, cuốn truyện đang làm xôn xao nữ sinh Đồng Khánh. Trên trang cuối cùng, Hoàng đề ba chữ nhỏ xíu bằng bút chì “Anh thương Ni”.
Chuyện của hai đứa bắt đầu như rứa đó. Ba mạ không cấm, chỉ khuyên hai đứa cứ như anh em xưa nay, khi nào lớn hẵng hay. Mạ Hoàng xuýt xoa “Thằng Hoàng thiệt có phước. Được gia đình ông Giáo thương”. Bác Tám sửa xe dưới gốc đa đầu xóm kêu “Hai đứa bây như Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga”. Rồi bác ngâm nga “ Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn. Nguyệt Nga ngó thấy càng thìn nết na” .
Hoàng thi tú tài I đậu hạng Bình. Ba thưởng tờ hai trăm kêu đi ăn bù lại thời kì sôi kinh nấu sử. Hai đứa chẳng biết ăn chi ngoài bánh bột lọc học trò của mụ Đỏ bên Chi Lăng. Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ tạ ơn. Ni hỏi có phải anh tạ ơn thi đậu? Hoàng cười “Không, hôm nớ anh cầu cho Ni thương anh”. Ni lo lắng “Người ta nói thương nhau mà lên chùa Thiên Mụ là xui lắm”.Hoàng cả quyết “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Hoàng lên đệ nhất, Ni đệ tam. Hai đứa quyết tâm học thật giỏi. Hoàng sẽ là kỹ sư, Ni sẽ là cô giáo. Bao nhiêu là ước mơ…
Vậy mà đùng một cái. Biến cố 75. Cái xóm nhỏ của hai đứa thay đổi như bom B52 nổ. Ba của Luyến không chết mà ông ta tập kết ra Bắc bây chừ trở về trên chiếc xe Com măng ca màu xanh bộ đội, nghe nói làm chức gì to lắm. Căn nhà ba tầng của Thiếu tá Huyền Trung đoàn 54 bị trưng thu thành Cửa hàng Thương nghiệp. Cô Luyến đứng vênh váo sau quầy trong chiếc áo mậu dịch viên, quyền hành to như giám đốc.
Bất ngờ hơn, ba Ni bị Công an khu vực đưa giấy gọi đi “cải tạo” vì có hai năm là Trung úy biệt phái. Mặc dù ba cố giải thích đây là chức vụ quân sự dự bị của ngành giáo dục, thực sự ba chưa cầm súng ngày nào. Nhưng ông Công an lạnh lùng nói “Nguyên tắc thiếu úy là đã phải đi học tập. Huống gì ông lại là Trung úy. Trung úy biệt phái có nghĩa là ông được phái qua giáo dục làm nhiêm vụ gì đó rất đặc biệt”. Mạ nước mắt lưng tròng chuẩn bị áo quần cho ba lên trại Cải tạo Bình Điền. Chị em Ni khóc rấm rứt. Xóm nhỏ ngậm ngùi thương cho ông giáo hiền lành chuyên làm việc phúc đức.
Hoàng chở Ni đi thăm ba. Con đường ngót hơn 20 cây số về phía Tây thành phố. Qua lăng Minh Mạng, qua buôn Tà Rầu lại thêm một con dốc cao vút mà người thăm nuôi phải lè lưỡi kêu “Mạ ơi!”. Lâu dần thành cái tên “Dốc Mạ ơi!”. Lên đỉnh dốc, hai đứa ngồi nghỉ ở một bụi tre.Thấy Ni buồn Hoàng nói “Bữa ni nhà có việc chi nặng cứ kêu anh”. Ba cũng dặn dò “Nhà còn có ba mẹ con. Đêm hôm có chuyện chi cứ nhờ anh Hoàng”. 

***
Đời sống ngày càng khó khăn. Đói xanh mặt. Đói vàng mắt. Khẩu phần mỗi người một tháng chỉ được mua 3kg gạo, còn toàn là bo bo, sắn lát. Ni đi mua gạo theo phân phối. Luyến cầm sổ gạo vất cái chạch, miệng mỉa mai “Hoàng thị Ni Ni. Cái tên nghe sặc mùi đế quốc”. Gạo vàng khè, ẩm mốc. Mạ phải ngồi sàng từng con mọt. Sang nhà Hoàng, mạ Hoàng khoe “Bác mua được gạo trắng tinh. Con Luyến ngó rứa mà tốt”.
Một đêm mạ buồn buồn bảo Ni “Ba đi học tập không biết khi nào về. Mạ ốm yếu không làm chi được. Thôi con nghỉ học, tìm cái ngành nghề chi giúp mạ, giúp em qua ngày”.
Ni ứa nước mắt. Thôi rồi ước mơ. Đành vậy thôi. Ni bỏ trường, bỏ lớp, xếp mấy cái áo dài trắng vào tủ đi học thêu ren ở Hợp tác xã Vĩnh Ninh. Giá một bức tranh thêu được hai đồng bạc Bắc. Hoàng an ủi “Thôi để anh học gấp đôi, bù cho Ni”.
Lần thăm nuôi thứ hai, Hoàng đưa cho Ni một gói đường cát. Ni hỏi ở đâu ra. Hoàng nói cửa hàng nhờ làm sổ sách, cô Luyến tạ ơn. Ni mừng húm. Gói đường giúp ba có thêm calory sau những buổi lao động mệt nhọc. Lần này Ni đi một mình. Mấy tháng nay Hoàng cũng phải kiếm việc làm thêm. Mạ Hoàng cũng phải giải nghệ gánh bún bò. Thời buổi không ai có tiền để ăn thứ hàng xa xỉ này. Lên con dốc “Mạ ơi!”, Ni ngồi nghỉ đúng chỗ hai đứa ngồi hôm trước. Ba gầy và xanh hơn. Ba an ủi Ni “Chắc Ba học tập cũng nhanh thôi. Ba đâu có làm gì hại dân hại nước”.
***
Bé Na kêu “Ui chị Ni, em thấy anh Hoàng chở bà Luyến”. Ni gạt phắt “Đừng nói tào lao. Công việc đó em”.Thâm tâm Ni cũng nghĩ bé Na nói bậy. Ni tự tin nhớ lời Hoàng “Con gái con lứa ăn nói cục mịch, cười ha hả. Vô duyên”.
Dạo này Ni thêu đẹp, chăm chút từng đường kim mủi chỉ cố tăng thêm thu nhập. Chị tổ trưởng khen “Bé Ni có năng khiếu”. Ni cười buồn “Gặp thời thế thế thời phải thế!”. Ni nhớ tuổi thơ năm nào vụng về may cái áo rách cho Hoàng. Mai sau mình sẽ vá áo cho anh ấy thật đẹp.
Ni lên Cửa hàng Thương nghiệp Thành phố xin duyệt cái giấy giới thiệu mua chỉ màu cho tổ hợp thêu. Lâu rồi Ni không đi đâu, chỉ biết cắm mặt vào cái khung thêu. Con đường Lê Lợi thênh thang với hàng cây long não xanh ngắt trên đầu. Ni nghe lòng chùng lại khi đi qua trường cũ. Ngay cả ngôi trường cũng đã thay tên. Ni tò mò đưa mắt nhìn vào. Môt đám học sinh vừa nam vừa nữ đang quét dọn trong sân. Ngôi trường cũng không còn độc quyền giành cho đàn bướm trắng của Huế. Ni nhớ cái phòng học tôi tối của lớp Tam C ; nhớ giờ Anh văn của thầy Hạnh; nhớ cây thước của cô giám thị Hạnh Phước; nhớ giờ ra chơi chạy xuống mua yaourt với mục đích chỉ để ngắm khuôn mặt duyên dáng của chị Minh Đức rồi bàn tán chị nào đẹp nhất trường mình. Chị Tiểu Kiều hay Mộng Vân,Tường Vy…Tất cả bây chừ như một thế giới mơ hồ xa lắc.
Chực chờ cả hai tiếng đồng hồ, bà chủ nhiệm mới duyệt cho Ni với một chữ ký loằng ngoằng không rõ nét. Ni thở phào nhẹ nhõm bước ra. Chiều đã về trên thành phố. Những đám mây trắng lang thang trên bầu trời. Ni yêu Huế, một xứ Huế cơ cực nhưng duyên dáng, những con người hiền lành với những mối tình dài lâu như ba mạ, như Ni với Hoàng. Ni tự nhắc mình nhớ nhờ Hoàng qua sửa cái công tắc điện nhà bếp tối nay.
Ni ngồi ở chỗ sửa xe của bác Tám chờ Hoàng. Mạ Hoàng nói anh đang quyết toán sổ sách cuối quý cho cửa hàng. Ni ngại khi phải chạm mặt Luyến. Bao giờ mặt cô ta cũng đăm đăm khi thấy Ni. Bác Tám hỏi thăm tình hình của ba Ni rồi thở dài.
Chờ lâu lắm rồi Hoàng cũng bước ra, sau lưng là Luyến. Luyến nhảy lên sau yên chiếc xe đạp rồi vòng tay ôm lấy lưng Hoàng. Trên giỏ xe đầy ắp thuốc lá, đường, sữa…Hoàng cong lưng nhấn cái bàn đạp. Anh ngó lơ khi nhìn thấy Ni. Nụ cười của Luyến vang vọng khanh khách. Ni cúi mặt nghe lòng chênh chao. Bác Tám lầm bầm “Đồ ngựa Thượng Tứ !”.
Ni đi thăm ba. Dĩ nhiên là không còn Hoàng. Cái giỏ xách nhẹ mà lòng Ni nặng trĩu. Đẩy chiếc xe đạp lên dốc “Mạ ơi!” tưởng không muốn nổi nhưng Ni không dừng lại nghỉ, không ngó đến nơi hai người đã từng ngồi. Câu nói hôm nào đau thắt trong ngực Ni “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Ba hỏi thăm tình hình mấy mạ con ở nhà và rồi “Thằng Hoàng mô? Răng con đi một mình?” Ni giả đò như không nghe ba hỏi. Ba bóp nhẹ tay Ni không nói gì. Bàn tay quen cầm phấn của ba nay đã chai sần, nổi u nổi cục.
Lượt về, đứng trên dốc nhìn xuống. Nếu không có ba mạ, bé Na, chắc Ni sẽ cho xe lao xuống và buông hai tay…
***
Ni cúi mặt trên khung thêu. Cái tin Hoàng cưới cô Luyến rồi đi học Đại Học Thương nghiệp tận ngoài Hà Nội mấy hôm nay xôn xao xóm nhỏ. Nhà Hoàng được quét vôi sạch sẽ. Ông bố Luyến còn cho người tới tô xi măng cái sân. Mạ Hoàng nói với người trong xóm “Tui tội con Ni nhưng lấy con Luyến thằng Hoàng mới có tương lai”. Chú Tám sửa xe lại nói lối “Xin đừng tham đó bỏ đăng. Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn”. Mỗi lần bắt buộc phải đi ngang nhà, Ni che nón cúi mặt bước nhanh như chạy trốn.
Chị Tổ trưởng xếp lại mấy cái khăn thêu nói bâng quơ “Ở xứ ni con gái bao giờ cũng thiệt thòi vì cái tình nặng quá. Con trai rủ một cái nhẹ tênh”. Cây kim đâm vào ngón tay Ni. Một giọt máu rơi xuống bức tranh thêu. Mắt Ni long lanh. Chỉ tại chiều hôm nay trời nhiều gió…
*
Ni mở cái hộp gỗ cẩn xà cừ mạ cho hôm sinh nhật mười sáu tuổi. Mùi hương trầm thoang thoảng bay lên. Tất cả gồm ba mươi hai tờ giấy perlure màu xanh, màu hồng được buộc lại bằng một sợi ruy băng đỏ. Niềm tin của Ni đó. Tình yêu của Ni đó.
Ni châm ngọn nến trắng. Tay run run cầm những tờ thư. Này là hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài Tương Tư: ”Trăng soi trước mặt ngờ chân bước.Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào”. Này là thơ Xuân Diệu: “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất. Anh trao em cùng với một phong thư ”. Này là đóa tường vi được ép khô hôm hai đứa đi vô Đại Nội. Này là cây viết Pilot màu tím có khắc hai chữ Hoàng Ni…
Một tấm ảnh rơi ra. Ảnh của Hoàng hôm thi đậu Tú tài Bán được thầy Hiệu trưởng Quốc Học Phan Khắc Tuân trao phần thưởng. Nụ cười Hoàng trong sáng rạng rỡ. Ni thẫn thờ đưa bức ảnh vào lửa. Gương mặt Hoàng méo mó, nhăn nhúm, cong queo.
Ni mở to mắt nhìn trừng trừng đống tro tàn. Đầu xóm tiếng pháo đón dâu nổ ran…

                                                                     Ngô Hương Thủy

READ MORE - NƯỚC TRÔI QUA CẦU - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy

Tuesday, September 27, 2016

CHỊ HOÀI - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy





                       CHỊ HOÀI
                   Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy

Tháng chín năm 1977, tôi cầm quyết định của Sở Giáo dục Phú Khánh về giảng dạy ở Trường cấp III An Cư huyện Tuy An. Ông Trưởng phòng tổ chức cười cười bảo: “Cô về đấy tha hồ mà ngắm đầm Ô Loan xinh đẹp và ăn đặc sản sò huyết trứ danh”. Đám sinh viên cùng nhận nhiệm sở nhìn tôi như ghen tị.
Chuyến xe đò ọp ẹp, già nua thả tôi xuống bên vệ đường hoang vắng trên quốc lộ I cách thị xã Tuy Hòa khoảng ba mươi lăm cây số. Chú lơ xe như thấu hiểu sự lo lắng của cô gái lần đầu đi xa, nhiệt tình bày vẻ: “Cô vào đầu kia hỏi bà chủ quán. Huyện Tuy An đây rồi”. Nói xong, chú ta đập thùm thùm vào cửa xe, hét bác tài: “Tới luôn”.
Lếch thếch với cái vali gồm chăn mùng, áo quần, sách vở…tôi thở dốc hỏi bà chủ quán về ngôi trường. Miệng đầy trầu, bà lắc đầu lia lịa trước cái giọng Huế chắc mới nghe lần đầu. Tôi thất vọng ngồi thừ người trên cái ghế đẩu. Bất chợt, một gương mặt trẻ thơ thò ra sau cửa liếp: “Trường Đồi đó bà ngoại ơi!”. Gương mặt tôi giãn ra cùng với một câu đăc sệt Phú Yên từ miệng bà chủ quán “Dzẫy na!”.
Thằng bé trai khoảng mười tuổi nhiệt tình dẫn cho tôi vào con đường đất cách quán khoảng 300 mét. Không những thế, nó còn xách giúp tôi cái túi nhỏ. Tôi nhủ thầm “Số mình hãy còn may!”. Đi khoảng mười phút, tôi hỏi nó: “Còn xa không em?”. Nó chỉ tay: “Kia kìa”.
. Nhìn từ xa đã thấy trên ngọn đồi trọc không cây cối, duy nhất một dãy phòng học đứng chơ vơ trong nắng chiều hiu hắt. Ngôi trường cấp ba đây ư? Cảm tưởng đầu tiên của tôi là sự thất vọng đến ngỡ ngàng. Một ngôi trường hoàn toàn khác với hình dung của cô sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học thành phố!
Thằng bé đi nhanh và đứng chờ tôi trên đồi. Con dốc đi lên khấp khểnh đầy đá. Nó đập cửa một căn nhà nhỏ bên tay phải dãy phòng học có treo cái trống ở bên ngoài:
-Bác Thạch ơi! Có ai hỏi nè…
Tiếng lộc cộc trên nền xi măng và cánh cửa mở rộng. Khuôn mặt nhầu nhỉ của một người đàn ông hiện ra. Khi thấy tôi đang thở, những nét nhăn giãn rộng:
-Cô giáo mới về trường a? Cô giáo ngồi nghỉ cho đỡ mệt. Hôm nay chủ nhật, ông Hiệu trưởng về nhà, trường không có ai…
Tôi cám ơn thằng bé bằng một cái vuốt tóc. Người đàn ông rót cho tôi chén nước trà nguội ngắt và giới thiệu:
-Tôi là Thạch, bảo vệ trường kiêm đánh trống. Tôi sẽ đưa cô xuống nhà tập thể của giáo viên bên dưới.
Lại phải kéo lê cái va li xuống chân đồi. Ông Thạch tỏ ý muốn xách giùm nhưng tôi cản lại vì nhận ra bên trái của ông là một cái chân giả. Và âm thanh lộc cộc phát ra từ đây mỗi khi ông di chuyển.
Nhà tập thể nằm dưới đồi phía bên tay trái mà khi đi lên tôi đã sơ ý không nhận ra. Nó gồm ba gian cũ kỹ và tàn tạ như ngôi trường. Ông Thạch đưa tôi vào gian cuối và gọi:- Cô Hoài ơi, cô Hoài…
Ấn tượng đầu tiên của tôi về chị Hoài là một gương mặt tai tái dấu tích của căn bệnh sốt rét kinh niên. Mớ tóc xác xơ như khẳng định thêm điều này, hai cái kẹp ba lá tuột dài trên mái. Không cần ông Thạnh giải thích, chị hiểu ngay và đón tiếp tôi bằng giọng của người miền ngoài:
-Lính mới phải không ? Vào đây, vào đây em…
Một căn phòng nhỏ khoảng hai mươi mét vuông với hai chiếc giường cá nhân song song, ở giữa là cái bàn học sinh chắc giành cho việc soạn bài. Bên trong bức màn con công đã cũ che ngang thấp thoáng mấy cái áo trên móc. Chị đặt cái va li của tôi ở cuối giường:
-Đây là giường cô Nhung dạy Sinh nhưng cô ấy đã chuyển về Nha Trang. Bây giờ nó sẽ là giường của em.
Nhiệt tình của chị làm cho tôi cảm thấy an lòng dù đang ngổn ngang trăm mối. Chị múc nước từ trong chiếc xô sắt cho tôi rửa bụi đường. Sau này tôi mới biết để có một xô nước sạch chúng tôi phải đi xa gần ba trăm mét.
Qua lời chị Hoài, tôi được biết căn phòng đầu tiên là của ông Hiệu trưởng tên Xuân người Phú Yên tập kết ra Bắc từ năm 54, cuối tuần hay về làng ở bên An Ninh; phòng bên cạnh của ông Quyền dạy Toán quê đâu tận trên Tây Bắc. Ông là giáo viên chi viện cho miền Nam. Ông vào đây đem theo một thằng con bảy tuổi, mặt ngơ ngác khờ khạo. Và phòng còn lại là của chúng tôi. Một số giáo viên nam khác đựơc bố trí ở tạm nhà dân, những ngôi nhà tôn hoặc tranh tre nứa lá nép dưới những ngọn đồi trọc xơ xác tiêu điều.
Tối hôm ấy chị Hoài mời tôi ăn cơm với cá nục kho và một đĩa rau lang luộc. Cơm được trộn thêm nắm mì sợi. Chúng tôi ăn tối trong ánh đèn tù mù, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu vang ngoài đồng. Ông Thạch đem xuống cho tôi ba khúc sắn luộc. Nhìn chân ông tập tễnh đi lên ngọn đồi, tôi hỏi nhỏ chị Hoài:
-Ông này là bộ đội phục viên hả chị?
Chị Hoài cười phá lên:- Lính ngụy trăm phần trăm đấy.
Tôi thiếp ngủ trong tiếng hát của chị: “Đi chiến trường gùi trên vai nặng trĩu, đàn Ta Lư em cất tiếng vang lừng mừng thắng trận quê em… Tính tính tính tính tang tang tình…”
***
Đời giáo viên giúp tôi hiểu thêm về ngôi trường và đồng nghiệp. Đây là trường cấp ba đầu tiên của huyện được mở sau 1975. Trước đây, học sinh phải vào tận Tuy Hòa. Trường vẻn vẹn bảy lớp chia làm hai ca. Buổi sáng, một lớp 12 loe ngoe hai mươi mấy em và hai lớp 11; chiều có bốn lớp 10. Huyện Tuy An là một vùng bán sơn địa của tỉnh Phú Yên. Học sinh từ các xã An Hòa, An Dân, An Hiệp trở ra; Ngân Sơn, Chí Thạnh vào; La Hai, An Chấn, An Định xuống… Gần thì đi xe đạp, xa phải ở trọ trong các nhà dân, cuối tuần về nhà cơm đùm gạo bới.
Trường nguyên là ủy ban xã của chế độ cũ. Ngoài bốn phòng học, căn nhà liền kề được ngăn ra làm ba với một phần là kho sách, một phần chứa các thiết bị trường học, phần còn lại là phòng nghỉ của giáo viên giữa giờ lên lớp, vừa là phòng hội họp, lại vừa là nơi ở tạm thời của ông Thạch. Dấu tích những viên đạn còn chi chit trên tường. Giáo viên chỉ mười hai mạng chia làm hai tổ tự nhiên và xã hội. Một cô giáo trước tôi đã bỏ trường vì không chịu nổi gian khổ. Chị Hoài là người nữ duy nhất bám trụ từ ngày lập trường.
Chị Hoài người Hà Tĩnh, quê bên dòng sông Ngàn Phố, hết lớp 10 tình nguyện đi Thanh niên xung phong từ sau Tết Mậu Thân. Đất nước thống nhất, về quê thì mẹ đã mất, anh trai có gia đình, chị học tiếp mấy tháng theo chế độ ưu đãi người có công rồi được phân bổ vào Nam. Chị làm Bí thư Đoàn trường và giảng dạy môn Chính trị.
Những năm tháng chiến trường đã tạo cho chị một tính cách mạnh bạo. Nói to, lời lẽ bỗ bã, xốc vác trong công việc. Đã hai mùa hè, chị tình nguyện ở lại giữ trường; xin một đám đất hoang trồng sắn, khoai; dẫn học trò đi lao động luôn vượt chỉ tiêu…
Ông Quyền sống khép kín với căn phòng ít khi mở rộng cửa. Cánh cửa sổ nhỏ xíu làm gian nhà đắm trong thứ ánh sáng lờ mờ. Hai cha con ăn số lương thực tiêu chuẩn ít ỏi mỗi tháng. Thi thoảng chị Hoài lại dúi cho thằng bé củ khoai, mẩu sắn. Thằng bé sợ bố như sợ cọp, không bạn bè, sống lủi thủi nhìn thấy thương.
Nhân vật thứ ba nữa là ông Thạch. Qua chị Hoài, tôi mới biết thời trai trẻ ông là lính Địa phương quân của chế độ cũ. Trường Đồi là nơi trước đây tiểu đội ông đóng quân bảo vệ xã. Khoảng năm 1970, du kích tấn công, ông bị thương cụt một chân. Ủy ban xã dời ra quận Chí Thạnh, ông ở lại giữ cơ sở vật chất. Sau 75, đây trở thành trường cấp III. Những người dân địa phương thích làm ruộng, không ai muốn làm chức phu trường. Ông Thạch nghe nói lại có bà con xa với Hiệu trưởng. Và đó là những nguyện nhân khiến ông được nhận làm hợp đồng tại trường. Ông Thạch không vợ con, ngày trực trống, đêm bảo vệ, ngủ trên cái ghế bố -dấu tích thời còn đi “lính ngụy”- đặt tạm bợ trong kho sách. Thỉnh thoảng mua được miếng “ thịt tiêu chuẩn”, ông kho mặn ăn dài ngày. Ông không xấu nhưng nhìn dáng đi tội nghiệp ấy tôi cứ liên tưởng đến nhân vật Quasimodo trong tiểu thuyết của Victor Hugo . Chị Hoài hay nói “Tay du kích nào đó bắn dở. Gặp tao có khi lão Thạch đã bể gáo”. Có lẽ cái mặc cảm “lính ngụy” khiến ông ít nói trước sự tếu táo ồn ào của chị Hoài. Ông Xuân Hiệu trưởng tương đối dễ chịu; thầy Khiêm dạy Sử Địa, thầy Túy dạy Lý Hóa, thầy Yên dạy Thể dục sống nhờ trong các xóm. Chúng tôi chỉ gặp nhau khi trùng giờ lên lớp, khi dắt học trò đi lao động, khi họp hội đồng trong đêm bên ngọn đèn dầu được vặn bấc lớn, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, khói đen nghi ngút. Cuộc sống đều đặn, nhàn nhạt, lâu lâu lóe lên một điểm sáng phố phường khi được về Nha Trang công tác hoặc học chính trị ở Tuy Hòa. 
Nếu không có chị Hoài, có thể tôi sẽ bỏ nhiệm sở như cô Nhung. Thôn có tên Phú Tân nhưng chẳng Phú cũng chẳng Tân. Trường cách quốc lộ I khoảng tám trăm mét. Đứng trên đỉnh đồi không một bóng cây có thể nhìn thấy những chuyến xe chạy trên đường càng khơi gợi nỗi nhớ nhà. Mùa Nam cồ , những cơn gió cuồn cuộn như lốc xoáy cuốn cát bụi vào phòng học. Và cái đầm Ô Loan với lời ca ngợi của ông Trưởng phòng Tổ chức cũng chắng có chút thơ mộng nào. Nó chỉ đẹp qua ca dao khi ngắm từ con đèo Quán Cau: “ Lẻ loi như cụm núi Sầm. Thản nhiên như mặt nước đầm Ô Loan”. Tôi và chị Hoài đã nắm tay nhau đi dọc theo con đường dẫn xuống đầm. Hai bên bờ, heo được thả từng đàn , thấy người thoải mái giương mắt nhìn. Mùa hạ, những con bọ chét tha hồ cắn nát người tôi. Chị Hoài bảo “tại máu em ngọt”. Chúng tôi cũng chưa hề được nếm con sò huyết nào như lời ông Trưởng phòng Tổ chức.
Nói cho công bằng, ở đây tôi cũng có những niềm vui nho nhỏ. Đó là khi được chị Hoài mượn xe đạp chở ra đập Hải Yến dầm mình trong làn nước mát, khi theo học trò lên An Định mùa làm mía được phụ huynh mời uống nước chè hai ngọt ngào, khi ra Ngân Sơn ăn sắn nước Phường Lụa và hiểu tại sao nhà văn Võ Hồng có những câu văn đẹp về quê hương ông. Thôn Ngân Sơn được bao bọc bởi những rặng tre xanh ngắt. Phải chi trường được dời ra khoảng mươi cây số thì hay biết bao nhiêu!
Chị Hoài có một cuốn sổ tay đã sờn bìa. Cuốn sổ xã nhà tặng buổi lên đường vào Nam chiến đấu được chị ấp iu đặt dưới gối.Trang đầu tiên có vẽ hình đôi chim câu tung cánh bay vào trời xanh. Trong cuốn sổ chị viết những bài thơ hào hùng của Tố Hữu như Ta đi tới, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Bài ca mùa Xuân 61…; những bài hát như Cô gái vót chông, Tiếng đàn Ta Lư, Chiếc gậy Trường Sơn…Trong các buổi văn nghệ, hội họp, lao động bao giờ chị cũng khuấy động không khí bằng thứ âm thanh cao vút. Những bài hát giúp tôi nhận ra chị từ xa, những bài hát xua tan thứ không khí ẩm mốc của mùa đông, những bài hát có tác dụng giúp học sinh vượt năng suất…
Ba năm sau hòa bình chưa kịp giúp chị Hoài phục hồi sức lực. Thân hình chị như đài khí tượng thông báo thời tiết khi chuyển mùa. Có những buổi sáng trời nóng nhưng chị run rẩy trong chăn. Có khi đang dạy chị lảo đảo và học trò phải dìu xuống khu tập thể. Thế nhưng ngày mai, chị lại xông xáo, lại đề ra kế hoạch thi đua, lại cất tiếng hát “Cuộc đời vẫn đẹp sao…”
Một điều chắc chắn là chị Hoài không có người yêu. Một năm nhận thưa thớt vài bức thư có nét chữ to cộ của ông anh ở quê. Chị đang ở vào lớp tuổi trẻ đang qua già sắp tới. Tuổi xuân của chị đã trôi trên những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn. Có một ông đồng hương đóng quân ở Sông Cầu thi thoảng ghé chơi nhưng thấy hai người chỉ “mày tao chi tớ” như những người bạn đồng phái.Thú vui của chị là nghêu ngao những bài ca hào hùng một thuở thanh niên!
Những đêm khuya nhìn bóng chị Hoài hắt trên tường tôi cảm nhận một nỗi buồn đến nao lòng. Hết soạn bài, chấm bài thì lôi mớ len cũ ra đan cho đứa cháu nhỏ ở xa. Hình như chị cũng chẳng thuận thảo mấy với người chị dâu để háo hức về nhà dịp hè, dịp tết. Có khi nào nỗi buồn cũng là một thứ gia vị cho người ta nhấm nháp?
Khu tập thể không có giếng. Muốn lấy nước sinh hoạt chúng tôi phải đi lên cái giếng của bệnh viện cũ cách đó khoảng ba trăm mét. Để khỏi mất công, chúng tôi thường ôm áo quần lên tắm giặt vào ban đêm và băng qua khu vườn hẹp của ông Hoàn. Ông này góa vợ, có ba đứa con trai lộc ngộc hay cãi nhau ỏm tỏi. Ông Quyền có lần nửa đùa nửa thật định làm mối ông Hoàn cho chị Hoài nhưng chị quay ngoắt: “Có mà hâm. Tôi chưa điên!”. 
Chị Hoài hay mắng tôi với thứ tình “tiểu tư sản” khi thấy tôi vui buồn bên lá thư vừa nhận được của người yêu. Chị ném cho tôi cuốn Ruồi trâu, cuốn Thép đã tôi thế đấy bảo: “Đọc đi, đọc đi. Lãng mạn cho lắm vào”. Có lần tôi cáu tiết bảo: “Chị thì có ai yêu mà biết lãng mạn!”. Nói xong cảm thấy ân hận ngay vì sự độc ác của mình. Nhưng chị Hoài như thản nhiên và lại tất tả với “kế hoạch, chỉ tiêu” của nhà trường.
Cứ thế, cuộc sống của tôi trôi qua bên cái dáng đi khổ sở của ông Thạch, sự năng nổ của chị Hoài, sự cần cù chịu khó của những đứa học trò quê hiền lành chân chất…
Một đêm đang mơ màng, tôi sực tỉnh dậy vì tiếng ú ớ phát ra từ chiếc giường chị Hoài. Tôi tốc cái màn bộ đội lên, khuôn mặt nhăn nhúm thảm hại, mớ tóc nhễ nhại mồ hôi hiện ra. Chị bíu chặt tay tôi, rên khe khẻ, người trằn lên đau đớn. Cuối tuần, Hiệu trưởng Xuân đã về nhà, phòng ông Quyền phát ra tiếng ngáy như kéo bể, tôi cầm đèn pin chạy lên đồi gọi ông Thạch.
Chiếc chân gỗ vội vã theo tôi xuống đồi. Ông nói tôi đỡ chị Hoài tựa vào gối, kéo áo chị lên, đưa cho tôi đồng bạc trắng hoa xòe bảo cạo gió. Dưới ánh đèn tù mù, cả hai bàng hoàng nhận ra một vết sẹo lớn vắt chéo tấm lưng trần. Như sốt ruột trước những cử chỉ chậm chạp, ông Thạch giật lấy đồng bạc cạo mạnh, những vạch màu đỏ chạy dài trên da. Ông Thạch bảo tôi nấu một nồi nước lớn rồi lộc cộc đi vào bóng tối. Mười phút sau ông trở về với một ôm lá tre, lá sả… Chị Hoài như khỏe ra sau nồi nước xông. Chị nằm thiêm thiếp . Ông Thạch nói nhẹ: “Tốt rồi” và lặng lẽ đi lên. Suốt cả tuần, ông đi kiếm những lá thuốc Nam dặn tôi nấu cho chị Hoài uống.
Sau này khi đã bình phục, chị Hoài cứ chất vấn tôi sao lại để tay “lính ngụy”cạo gió, rằng hắn ta đã thấy cái sẹo của chị chưa. Chị cũng cho biết đó là vết thương sau trận bom B52 khi làm đường ở Đường 9 Nam Lào.
Cuối năm học, Hiệu trưởng Xuân về hưu. Hiệu trưởng mới tên Nghĩa từ Phòng Giáo dục huyện chuyển về. Việc đầu tiên của ông ta là cắt hợp đồng với ông Thạch vì “ Lý lịch không trong sáng”. Ông Thạch có một tuần để thu xếp trước khi nghỉ việc.
Có lẽ như tiên đoán được sự việc, ông Thạch không có gì ngạc nhiên. Ông vẫn lê cái chân tập tễnh lên xuống ngọn đồi trọc, vẫn đánh những hồi trống cuối cùng của năm học. Tôi cũng thấy lòng hơi áy náy nhưng một mùa hè rực rỡ đang hiện ra trước mắt. Tôi sẽ gặp người yêu, sẽ lại thấy ánh sáng văn minh của phố thị. Tôi nghĩ ông Thạch là một người tốt nhưng mình cũng chẳng giải quyết được gì. 
Chị Hoài có vẻ ray rứt. Mùa hè này chị tiếp tục xung phong ở lại quản lý trường. Trước hôm tôi về thành phố , chị rụt rè đề nghị anh em giáo viên mở một cuộc liên hoan và cũng để chia tay ông Thạch. Tốt thôi. Sống ở đời cần có cái tình!
Vậy là chúng tôi gom hết số tem phiếu, chực chờ để mua được các suất “thịt tươi” ở cửa hàng tận ngoài Chí Thạnh. Tôi xin học trò một quả đu đủ xanh làm gỏi. Chị Hoài lúi húi băm thịt làm món chả giò. Anh chàng Khiêm chịu khó quạt than… Mùi thơm bay lên ngào ngạt trong khu tập thể.
Đêm ấy lại có trăng. Trăng mười hai chưa tròn nhưng đủ gieo xuống trần gian thứ ánh sáng nên thơ, quyến rủ. Thầy Túy dạy Lý ôm chiếc đàn guitar độc tấu những bản nhạc cổ điển dịu dàng. Thầy Yên đi vào xóm kiếm đâu ra can rượu trắng. Ông Quyền cũng tươi tỉnh hẳn ra, chắc ông vui vì sắp về với người vợ vùng cao Tây Bắc. Chúng tôi ngồi quanh chiếc chiếu trải rộng giữa sân trường. Ngọn gió Nam mái hiu hiu. Chia tay năm học, chia tay ông Thạch và tạm xa chị Hoài. Ngày mai người xuôi Nam, kẻ ngược Bắc…
Ông Thạch có vẻ cảm động không nói được gì nhiều. Những ly rượu nhỏ chuyền tay nhau. Tôi cũng ráng uống cạn ly. Mùi rượu thơm ngây ngất, nồng nàn. Chưa bao giờ tôi thấy đồng nghiệp mình dễ thương đến thế. Bây giờ tôi mới biết tửu lượng chị Hoài rất cao. Những ly rượu được chị dốc cạn. Chị còn chê rượu có pha củ mỳ nên vị hơi khê. Chị bảo chị có nghề nấu rượu gia truyền. Có dịp nào đó chị sẽ trổ tài. Chúng tôi chúc ông Thạch ba ngày còn lại vui vẻ, chúng tôi hạch hỏi chị Hoài về chuyện tình trước khi vào quân ngũ, chúng tôi nài nỉ anh chàng Khiêm tán cô bán hàng thương nghiệp huyện để giáo viên có suất mua ưu tiên…
Trăng lên giữa đỉnh trời cuộc vui mới giải tán. Và trưa hôm sau, khi đã ngồi yên vị trên chuyến tàu vào Nam tôi mới nhớ ra tối hôm qua, trong buổi liên hoan, lần đầu tiên chị Hoài không hát bài “ Cuộc đời vẫn đẹp sao…”
*
Hai tháng trời trôi nhanh như chớp mắt. Tháng Tám, tôi trở lại trường với niềm vui. Ông chú chồng tương lai hứa sẽ thu xếp cho tôi một chỗ dạy ở thành phố trong năm tới. Tôi không quên mua quà cho chị Hoài là một cái kẹp đồi mồi thay cho cái kẹp ba lá quê mùa.
Chị Hoài đón tôi với một nụ cười nhợt nhạt, làn da vẫn tái xanh. Tôi kêu lên “Chị ốm hả?”. Chị gật đầu “Chị khó ở cả tuần nay”. Bữa cơm chiều hôm ấy có thật nhiều món tôi mang về nhưng chị Hoài chỉ ăn được lưng bát rồi trùm mền nằm. Tôi cố thật nhẹ nhàng cho chị nghỉ ngơi.
Trường đã có bảo vệ mới. Một anh thanh niên khỏe mạnh và bặm trợn phù hợp chức năng nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhớ tới cái vẻ lầm lũi và bước chân lộc cộc của ông Thạch. Không biết ông ấy bây giờ ra sao.
Giáo viên bước vào năm học mới bằng một tuần chính trị ở Tuy Hòa. Chúng tôi vui vì được kéo dài những ngày hè muộn, được rong chơi trên bờ biển, được ăn món bún mắm nổi tiếng ở chợ thị xã…Sau một năm trời gắn bó, chúng tôi cảm thấy gần nhau hơn. Cả bọn ngồi trên chiếc xe Lam chuyện trò rôm rả. Chị Hoài vẫn còn ốm nhưng là Bí thư Đoàn trường, chị không thể bỏ khóa học. Cứ buổi sáng nghe báo cáo, buổi chiều thảo luận, buổi tối kéo nhau đi quán cà phê Vị Thủy giá ba hào. “Cuộc đời vẫn đẹp sao…” dù chị Hoài có những cơn ớn lạnh vào buổi chiều. Dấu ấn chiến tranh vẫn chưa tha chị?
Buổi sáng, tôi ra cái chợ chồm hổm bên đường mua cháo cho chị Hoài. Ông Quyền tay cầm khúc bánh mì đi tới thì thầm vào tai tôi “Cô biết không? Bà Hoài chửa buộm đấy”. Chửa buộm là gì?. Tôi ngơ ngác. Ông Quyền tinh quái đưa cánh tay dứ dứ trước bụng…
Bây giờ thì không giấu ai được rồi. Những cơn nghén làm chị Hoài nôn khan. Cái bụng chị cũng đã lùm lùm sau vạt áo. Chị không hé môi với tôi nửa câu và tôi cũng không dám hỏi điều gì. Những bữa ăn thường bị bỏ dỡ .Tôi chỉ dám yên lặng chăm sóc chị với những hành động nhỏ nhặt. Một ly nước nóng, một trái khế xanh… Mấy tay thầy giáo trẻ cũng không còn ghé chơi. Những cái nhìn tò mò của học sinh và phụ huynh khi đi ngang… Đây chỉ là một vùng đất nhỏ!
Chi bộ Đảng đã có những buổi họp riêng vào buổi tối. Sau những buổi ấy, ông Quyền tránh gặp chị Hoài dù chúng tôi vẫn ở sát nhau. Dáng đi của chị Hoài nặng nề hơn, khuôn mặt lạnh căm. Tay bảo vệ mới tỏ ra nhiều chuyện. Hắn ta thì thào ông Quyền là người phê phán chị Hoài nặng nề nhất :“vi phạm đạo đức Cách mạng, không xứng đáng ở trong hàng ngũ Đảng viên, không là tấm gương sáng cho học sinh…” Hiệu trưởng mới thì cứ khăng khăng buộc chị Hoài nói rõ ai là tác giả của cái bào thai trong bụng chị “để tránh gây hoen ố cho nhà trường”. .. Cuối cùng Chi bộ quyết định một buổi họp Hội Đồng sẽ đưa vấn đề của chị Hoài ra và công bố hình thức kỷ luật.
Nhưng sẽ không bao giờ có buổi họp ấy vì khi tôi vào Nha Trang họp chuyên môn, một buổi sáng tinh mơ chị Hoài đã lẳng lặng bỏ đi …
Mọi người có vẻ nhẹ nhõm với cái kết cục bất ngờ ấy. Hiệu trưởng nói to: “Thiếu chút nửa trường ta mất danh hiệu tiên tiến, công sức phấn đấu của anh em đổ xuống sông xuống bể…”Nhìn nụ cười của ông ta tự dưng tôi ớn lạnh. Cũng kể từ đó cho đến lúc rời trường ,tôi không còn bắt chuyện với ông Quyền nữa
Chị Hoài ra đi để tôi lại với sự trống vắng đến ngỡ ngàng. Tôi tự dằn vặt đã không gần gũi chị hơn. Tại sao chị không bày tỏ với tôi? Nhưng quả thật tôi cũng chẳng biết làm gì…Suy cho cùng tôi chỉ là một cô gái trẻ chưa có kinh nghiệm với cuộc đời. Tôi cũng đặt ra nhiều câu hỏi không biết chị Hoài lỡ dại với ai? Tay bạn trai đồng hương đôi lần ghé? Có khi nào là ông Thạch trong ba đêm còn ở lại trường? Hay một đêm sáng trăng chị Hoài đi qua vườn ông Hoàn và…? Hoặc là một người nào đó chăng? Chẳng ai giải thích giùm tôi.
Nửa tháng sau Sở bổ sung giáo viên về trường. Không chỉ một mà hai. Chiếc giường cá nhân của chị Hoài được chuyển cho cô giáo mới. Khi lật chiếc chiếu của chị, tôi nhận ra chị Hoài đã bỏ quên cuốn sổ tay cũ kỹ yêu quý. Tôi lật từng trang. Những bài thơ Tố Hữu… những bài hát hào hùng… và trang cuối cùng là bốn câu thơ lỡ dở của Nguyễn Đức Mậu:
Chiến tranh đã tắt từ lâu
Vườn cau trái rụng, giàn trầu héo hon
Nửa đêm gió lạnh trăng mòn
Có người nghe tiếng ru con khóc thầm 
Ôi, chị Hoài!!!
Cuối năm học, tôi được thuyên chuyển như lời hứa của ông chú chồng tương lai. Giã từ những kỷ niệm với chị Hoài! Giã từ những cơn Nam mái và Nam cồ! Giã từ ngôi trường cho tôi nỗi buồn nhiều hơn niềm vui!
Sau này tôi nghe trường đã đổi ra thị trấn Chí Thạnh, được xây dựng rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn, tiện nghi hơn và đặc biệt trường đã có tên của vị Tổng Bí thư thứ nhất.
Có hai lần tôi ngồi trên xe hơi đi qua vùng đất ấy. Đầm Ô Loan nhìn xa vẫn đẹp với làn nước trong xanh. Con đèo Quán Cau đựợc san lấp mở đường đã biến thành một con dốc. Và nhìn từ xa, ngôi trường Đồi vẫn chơ vơ qua làn bụi mỏng. Không biết bây giờ nó thuộc cơ quan nào…
***
Năm 2010, vợ chồng tôi quyết định “hấp hôn”bằng một chuyến du lịch Đà Lạt. Thành phố cao nguyên lờ mờ trong màn sương có sức quyến rũ kỳ lạ. Đứng trên những con dốc chúng tôi đắm mình trong vẻ đẹp kỳ ảo của đất trời tháng mười một. Chồng tôi cứ xuýt xoa tiếc mình không phải là họa sỹ để có thể tái tạo bức tranh của thiên nhiên. Thay vì đi quanh phố xá, chúng tôi leo ngọn LangBian, len lỏi vào các buôn làng người Chil ở Lạc Dương, dự một buổi rượu cần còn nguyên vẻ hoang sơ rừng núi…
Chuyến đi làm tôi có cảm tưởng được trẻ lại dăm tuổi. Đến ngày thứ năm, chồng tôi sực nhớ ra nên đi thăm một ông cậu ở vùng đất Đạ Tẻh: Cậu Chương.
Cậu Chương là con nuôi của bà ngoại chồng tôi. Cậu hiền lành, tốt tính chỉ phải tội có quá nhiều con. Nhớ năm đầu tiên về làm dâu đến chúc Tết nhà cậu, tôi phát hoảng vì gần một tiểu đội sắp hàng chờ mừng tuổi. Những năm khó khăn, nhà cậu mợ toàn phải ăn bo bo. Bà ngoại hay nhiếc “Đẻ cho lắm vào!” rồi sau đó lại dúi cho mấy bơ gạo. Năm 1981 cậu mợ quyết bỏ quê đem gia đình đi theo chính sách di dân mở khu kinh tế mới ở phía tây tỉnh Lâm Đồng. Chúng tôi cũng làm kiếp tha hương, chưa hề gặp lại cậu sau ngần ấy năm, chỉ nghe nói đại gia đình cậu bây giờ khá vững vàng. Thôi thì tiện đường ghé thăm và cũng để biết thêm một vùng đất mới. 
Từ quốc lộ 20 xe đưa chúng tôi rẽ vào phía tay phải. Con đường càng lúc càng thấp dần. Mùa khô đã trở về nhưng thời tiết vẫn mát lạnh. Trên cùng chuyến xe nhưng chúng tôi lại nghe hành khách nói nhiều giọng khác nhau. Chồng tôi tò mò hỏi thì mới biết huyện tập trung nhiều cư dân từ nhiều tỉnh như Hà Tây, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định…Dấu ấn quê hương thể hiện qua những cái tên như xã Mỹ Đức, Quốc Oai, Triệu Hải, Hương Lâm, An Nhơn…Tôi bồi hồi nhớ đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca Mặt đường khát vọng nói về tình quê của cha ông đi mở đất:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân…
Hai đứa con cậu Chương đã chờ sẵn ở bến xe trung tâm của huyện. Nhìn hai cậu thanh niên cao lớn khỏe mạnh với trang phục áo Pull quần Jean đúng mốt, cỡi xe máy tôi không hình dung ra đây là những đứa bé xanh rớt, mũi dãi năm nào.
Cậu mợ đón chúng tôi trước căn nhà rộng được bao bọc bởi những cây điều sai trái. Hai ông bà tóc bạc nhưng khỏe mạnh với nụ cười tươi rói. Vây quanh ông bà bây giờ không phải con cái mà là bầy cháu mười lăm đứa. Những cậu con trai đều được chia đất sống gần gũi chung quanh, chỉ “ới” một tiếng là năm phút sau có mặt đầy đủ.
Bữa ăn tối được bày ra trên hàng hiên.Trăng thanh bình. Gà vườn thịt dai và ngọt, rau sạch xanh mướt trên dĩa, hạt cơm mới thơm phức…. Cậu Chương nâng ly rượu trên tay:
-Uống đi anh chị, uống đi các con…Uống để ôn lại những tháng ngày gian khổ. Đất chẳng phụ người bao giờ.
Ngày đặt chân lên vùng kinh tế mới này, nhìn cảnh đồi núi hoang vu, cỏ tranh bao phủ, cậu Chương không tránh khỏi sự nản lòng. Một số gia đình đã quay về quê cũ hoặc chạy dạt lên Bảo Lộc làm thuê, buôn bán qua ngày. Nhưng nhớ lại lời thề độc ngày bỏ quê, nhìn lại đàn con mười đứa, trong số có sáu thằng, cậu mợ nhất quyết bám trụ. 
Vậy rồi ngay lúc còn ăn gạo trợ cấp đầy mọt, mấy cha con đã lo vỡ đồi trồng lương thực ngắn ngày như khoai sắn, vào rừng đốn gỗ cắt tranh lợp nhà, tìm nơi đất trũng cấy lúa… Máu, mồ hôi, nước mắt đã đổ xuống nhưng gia đình cậu đã có cái ăn.
Đất lành chim đậu, vùng đất mới chiêu tụ nhiều gia đình khắp các vùng miền. Người ta cần đất, người ta thèm đất và người ta cải tạo đất để có những khu vườn trù phú, những cánh đồng màu mỡ hôm nay… Đateh trở thành một miền đất nhiều người mơ ước. Một vài căn nhà ở trung tâm huyện đẹp như biệt thự của người thành phố nhưng hỏi ra mới biết chủ nhân của nó là những người chịu khó làm ăn thành đạt. Nhìn những vườn điều, những hàng bơ sai trái, những mẫu cao su mới được đưa vào đầu tư, tôi nghĩ về công lao của những người mở đất. Đứa cháu cả cầm đũa giục chồng tôi:
-Uống đi anh, rượu Đạ tẻh nổi tiếng cả tỉnh Lâm Đồng. Ai về đây cũng kiếm mươi lít mang đi. Không hiểu do gạo, nước hay do người nấu…Chắc là cả ba.
Mợ Chương ngắt lời: “ -Mai xuống bà An kiếm cho anh mày chục lít . Rượu Đạ tẻh ngon nhưng ngon nhất ở đây phải là rượu bà An.Uống đậm mà không đau đầu. Rượu ấy chỉ người quen mới mua được…”
Bữa cơm rộn rã trong niềm vui sum họp của những người tha hương.
*
Tôi theo cháu gái xuống xóm mua “rượu bà An” theo lời dặn của mợ Chương. Qua con dốc, bức tranh đồng quê thanh bình hiện ra trước mắt . Một nếp nhà gỗ xinh xắn nép mình trong vườn cây xanh. Hàng cau thẳng trước nhà gợi nhớ khung cảnh của làng quê xứ Bắc. Đàn gà con lúc thúc theo mẹ bới quanh đống rơm, làn khói bếp nhẹ nhàng lan tỏa…Đứa cháu đẩy nhẹ cánh cổng:
-Bà An ơi! Để cho nhà cháu ít rượu…
Người đàn bà bước ra từ cửa căn nhà ngang, nói to:
-Mới sáng sớm mà đã mua rượu. Bảo bà mày cho ông uống lắm vào rồi hư người đi. Chờ bà chút nhá. Mới ru thằng cháu ngủ cho mẹ nó lên trường…
Giọng nói bỗ bã quen quen đánh thức tiềm thức. Ai thế nhỉ? Người đàn bà nào dáng tất tưởi thế kia. Mái tóc bạc ngẩng đầu lên. Tôi bàng hoàng..Chị Hoài? Đúng là chị Hoài của hơn ba mươi năm trước. Thời gian qua đi nhưng tôi chưa thể nhầm. Tôi thốt lên : “ -Chị Hoài! Em đây, Thu ngày xưa của chị đây!”
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Ngỡ ngàng. Xúc động. Quả đất tròn nhưng gặp nhau trong khung cảnh như thế này thì thật là điều khó tưởng tương. Chị Hoài nắm chặt tay tôi:
-Chị cũng không ngờ …Chị mừng lắm, vui lắm em…
Chị Hoài tíu tít đưa tôi lên nhà trên. Chị ấn tôi ngồi xuống bộ bàn ghế giữa nhà, vội vã pha trà chế nước:
-Chờ chị chút. Chị ra vườn hái ổi cho em ăn!
Căn nhà gọn gàng như thói quen chu tất của chị. Trên tường treo những bức ảnh gia đình. Ảnh chị Hoài mặc áo dài nhung màu xanh, ảnh một cặp vợ chồng ngày cưới, ảnh đứa cháu lẫm chẫm bước đi… Chị Hoài cắt những miếng ổi trắng tươi, hướng theo ánh mắt tôi:
-Chị đấy. Ngày lên lão bảy mươi đấy. Con trai và con dâu kia. Cháu nội đầu lòng đang ngủ. Con dâu mới bầu đứa thứ hai…
Niềm vui ngời sáng trên mặt chị. Tôi hỏi chị: 
-Sao tên chị lại là An? Làm em chẳng nhận ra.
Chị cười: “ -Tên thằng cu. Ở đây người ta gọi theo tên con. An là xã An Cư đấy . Em nhớ không?”
Một khoảng lặng giữa hai chị em. Ôi! Những ngày sao tôi muốn quên…
Chị Hoài kể sau những đêm kiểm điểm trong căn phòng trên ngọn đồi heo hút ấy chị đã bỏ đi. Chị không thể về quê vì miệng lưỡi xóm làng, vì gia đình người anh quá nghèo. Chị lang thang ở bến xe Nha Trang hai đêm rồi tình cờ gặp một gia đình Hà Tây đi kinh tế mới, chị đã quyết định theo họ… Tủi thân, cay đắng, đoạn trường nhưng rồi cũng qua…Đôi bàn tay một thuở Trường Sơn đã tưởng được thong thả với ngòi bút viên phấn lại tiếp tục sứt sẹo, chai sần.Thằng An đã sinh ra và lớn lên ở trên quê hương mới.Thời gian như một cái chớp mắt. Năm nay nó đã ba mươi hai tuổi đang làm ngoài thị trấn, con dâu dạy trường Tiểu học gần nhà. Chị vẫn khỏe, ở nhà trông cháu nội. Rảnh rổi lại nấu mẻ rượu cho người quen kiếm thêm thu nhập. Cuộc sống không giàu nhưng an ổn, hạnh phúc. Nhìn mắt chị, tôi hỉểu đây là sự thật.
Chia tay tôi, chị thì thầm: “- Thu biết không, chị không bao giờ ân hận vì những gì đã xảy ra…”
Và tôi cũng chẳng cần hỏi chị về người bố của thằng An. Điều đó quả thật là không cần thiết.

                                                     Viết ở Trại sáng tác Đateh
                                                             Ngô Hương Thủy

READ MORE - CHỊ HOÀI - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy

Wednesday, September 21, 2016

TÌNH PHỤ - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy


        


                  
TÌNH PHỤ 
                    Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy 

Chuyện chú Ngọ gò o Mận cả xóm Bói đều biết, chỉ có mạ o là không hay. Mụ Bốn vui trong bụng khi thấy o Mận dạo ni làm siêng tối tối ra cắm ba cây nhang ở bàn thờ ông Thiên đầu cổng. Mụ nghĩ thầm “ Hắn còn nhỏ mà đã có lòng thờ phượng thì cũng mờng. Rồi trời phật phù hộ độ trì cho hắn “. 
Bữa nọ dậy sớm, mụ Bốn xách chủi rèng ra quét cổng ngõ. Mụ hầm hầm chưởi vang “Mệ nội đứa mô vặt hết đám chè tàu của tau trụi lủi”. O Mận tái mặt kéo tay mụ “Thôi mạ ơi! Tụi con nít hái chơi đồ hàng đó mà. Mạ chưởi chi cho mất lòng hàng xóm”. 
Khi hàng chè tàu đã lên những chồi non xanh biếc; khi bốn bàn tay của chú Ngọ và o Mận ý tứ không dùng để bứt lá thì mụ Bốn bắt đầu nhận ra những tín hiệu lạ từ con gái. O Mận xanh lét, cái cổ ngẳng ra, lông mày dựng đứng. O dấm dúi lặt những trái chanh non nhỏ xíu sau vườn chấm muối nhai rau ráu. Mụ Bốn thả cái mẹt gạo xuống nền nhà, nắm tóc o Mận kéo vào buồng, vạch áo ra. Trên bộ ngực thanh tân, hai cái núm vú đã chuyển màu nâu sẫm. 
Mụ Bốn ngồi bệt xuống đất, thở không ra hơi . “Mi…mi…cái đồ thúi tha, rượng đực.Thằng mô…Thằng mô…Trời ui là trời…” Tóc o Mận rối bù đổ xuống vạt áo đứt nút. O khóc “Con lạy mạ…con xin mạ…Để con nhủ eng đi đám nói” 
Nhưng cái đám nói mà o Mận hy vọng đã không diễn ra. Nhà Ôn Xạ chê mụ Bốn nghèo, con gái mà hư thân mất nết. Biết đó có phải là con thằng Ngọ không hay “Con ai đem bỏ chùa này?” Mụ Xạ ra chợ gia binh trên Cầu Lòn quệt hai ngón tay quanh cái miệng đầy cốt trầu “Tui không làm cao dưng mà nhà nớ khôn bì được.Tui không bưng trầu cau đi hỏi con gái hư. Thời tui lấy dôn, ôn Xạ phải nằm dưới đất một tuần. Có mô dư con cấy thời ni “Bạ mô là dà, ngã mô là chờng”. 
Dù bị mạ nhốt trong buồng nhưng o Mận cũng tìm cách gặp được chú Ngọ một lần. O chảy nước mắt hỏi “Eng còn thương tui khôn?”. Chú Ngọ chắt lưỡi “Em cứ hỏi chi như con nít năm tuổi, thương chớ răng không thương!”. Chú Ngọ không biết rằng khi lo âu, người ta cứ muốn nghe mãi những câu khẳng định, những câu làm cho người nhận cảm thấy an tâm. Câu trả lời của chú trớt quớt như tránh né. Chú chán rồi chăng? Không biết. Chỉ biết rằng tháng sau chú tình nguyện đi lính như bài hát đang oang oang trên đài phát thanh chi khu Mai Lĩnh “Đi quân dịch là thương nòi giống”. 
O Mận biết tin chú Ngọ bỏ nhà đi qua ba dòng chữ chú nhờ thằng Tí Em dấm dúi. Xưa nay trong xóm Bói, chú Ngọ nức tiếng “miệng dẽo như kẹo kéo”. Trên đầu giường của gã con trai trình độ lớp đệ lục Trường Tư Thục Thánh Tâm này là một đống tiểu thuyết của bà Tùng Long, Trọng Nguyên, Nghiêm Lệ Quân…Mấy dòng chữ chú viết cho o Mận y hệt thư của chàng công tử Triệu Vỹ viết cho cô gái Mỹ Lan trong tiểu thuyết Bên dòng sông Trẹm của nhà văn Dương Hà “Em đừng trách anh. Chúng mình có duyên mà không có nợ . Anh còn trách nhiệm đối với giang sơn tổ quốc. Mình hẹn nhau kiếp sau”. Ui trời, nếu ông tổng thống Thiệu nghe được, chắc tên chú Ngọ sẽ được lên nhật trình. 
O Mận trợn trắng con mắt, đấm ba cái bịch bịch vào bụng, cười khanh khách, xé lá thư của chú Ngọ làm hàng chục mảnh nhỏ tung lên trời. O bỏ ăn, nằm bệt trong xó buồng tối, khi khóc tru tru, khi cười ngô nghê. 
Bây chừ thì mụ Bốn lo lắng. Mạ nào mà chẳng thương con. Huống chi xưa nay o Mận nỏ phải là thứ gái lẳng lơ. Ôn Bốn chết sớm, mụ ở vậy nuôi đứa con gái độc nhất, nhà có nghèo nhưng đâu đến nỗi con cái hoang đàng. “Con ơi, con ăn một chút cho mạ nhờ. Thôi thì “con dại có cháu ngoại bồng”. Mạ không la con nữa mô”. 
Mụ Bốn cúi mặt lầm lũi đi chợ bán hàng, mặc kệ thiên hạ chỉ chỏ bàn tán. Được bao nhiêu tiền, mụ mua cá giếc nấu rau răm cho o Mận ăn hạ hỏa. Mụ lùng cá bống thệ kho khô để o ăn cháo gạo hẻo rằn. Mụ còn dấm dúi rút trong số tiền để dành hậu thân hậu thổ ra ngoài chợ Tỉnh vào tiệm Đức Thọ Đường bổ cho con mười thang thuốc Bắc. 
Không hiểu nhờ thầy thuốc mát tay hay vì lòng thương mạ mà dần dần bệnh tình o Mận thuyên giảm. O đã ra được đầu hè ngồi phơi nắng cho mụ Bốn rẽ tóc bắt chí, cái bụng thè lè như con ểnh ương. Mái tóc đẹp nhất xóm bây chừ xơ xác, lởm chởm như trải qua cơn bệnh thương hàn. Làn da xanh và mỏng, nắng soi qua được. Không ai còn thấy nụ cười o Mận. 


Bà mụ Thơm loan báo o Mận đẻ được một thằng cu cái mặt “ y chang thằng cha Ngọ”. Tràng hoa quấn cổ. Đập vào mông ba cái mới khóc oe oe. Thằng này chắc sau làm lớn lắm đây. Xóm Bói lại có một đề tài sốt dẽo cho mấy mụ đàn bà vô công rỗi nghề bàn tán.  Quán nước chè của mụ Tươi bỗng dưng đắt hàng, chiều mô cũng có người ghé chuyện trò râm ran. 
Mụ Xạ lảng vảng nghe ngóng, thăm dò. Đàn bà thường hay quên. Mụ Xạ cũng quên tuốt những lời chửi mắng o Mận của mình trước đây. Dù răng chú Ngọ cũng là con trai duy nhất trong bầy con sáu đứa, hủ mắm treo đầu giàn. Mụ về thì thầm với ôn Xạ “Hay mình qua nhìn cháu? Hắn đi trận mạc lỡ có chuyện chi thì còn có thằng đội mũ mấn”. Ôn Xạ gạt phắt “Kì ni thằng Ngọ về phép, cưới cho hắn con vợ thì có cháu ngay. Mắc chi mụ lo”. Mụ Xạ tần ngần nhưng sợ chồng nên cũng im re. Thi thoảng có việc ra cánh đồng Long Hưng, ngang nhà o Mận, mụ che nón nhưng mắt len lén dòm vào coi có gặp ai bồng thằng cháu không. 
Thằng con o Mận, nhờ trời thương nhà nghèo, ăn ngủ ngoan như con cun cút. Căn nhà tranh trong khu vườn chuối im ắng, không hề nghe tiếng à ơi. O Mận ru con bằng những lời thầm thì trong cổ họng. Lắng nghe kỹ loáng thoáng mấy câu: 
Eng nói với tui như rìu chém xuống đá 
Như rựa chém xuống đất 
Như mật rót vào tai 
Bây chừ eng đã nghe ai 
Bỏ tui giữa chốn non Đoài khổ chưa 
Mệ Thơm hàng xóm qua chơi thì ít, dòm ngó thì nhiều. Mệ chép miệng “Thôi, cho cháu về dòm ôn bà nội đi. Có ghét chi thì cũng là cháu đích tôn”. Mụ Bốn dài môi “ Đích tôn thừa trọng, đứt họng lòi da. Bước vô nhà ni, tui chém chết”. 
Ôn Trưởng ấp vô giục giã làm giấy khai sinh. O Mận chỉ hé răng nói một câu “Mạ Lê Thị Mận. Con là Lê Hận. Rứa thôi!” 


Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò… thằng cu Hận lớn nhanh như thổi. Mới đó đã chập chững biết đi. Rồi cũng phải nghĩ đến chuyện làm ăn. Nhà một mạ một con, mụ Bốn mỗi ngày một yếu. 
Sau ba đêm bàn bạc, mụ Bốn nhờ chú Hoạt làm một cái quán tranh gần Ngã ba Long Hưng, cất nhờ trên đất ôn Bá bà con xa, cạnh lò gạch Trương Kế. Quán bán mấy chai bia con cọp, vài chai xá xị, dăm ba thẩu kẹo bánh. Buổi sáng thì có thêm bó rau, trái cà trái mướp của mấy nhà trong xóm. 
Rứa mà quán đông khách mới lạ.Trước hết là mấy mụ đàn bà. Ghé quán làm chi? Để coi thằng Hận có giống chú Ngọ khôn? Để coi mặt mày o Mận bữa ni ra răng? Mà chả lẽ đi không. Thôi thì mua bó rau, củ hành cho có chuyện mà trạo. 
Thứ hai nữa là mấy chú lính Địa Thiên Lôi ở trạm gác Long Hưng. Ngồi lâu cũng mệt, ghé quán làm ly bia giải khát, ngó cô bán quán cũng hay.
Thứ ba nữa, đúng như lời ôn cha nói: “Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà mái ghẹ”. Sau gần cả năm ở biệt trong nhà, o Mận đẹp ra. Da trắng, tóc xanh, ánh mắt xa xăm và không hề cười dù người khác kể chuyện tiếu lâm. Tất cả làm o thêm phần bí ẩn. 
Chi khu Mai Lĩnh thành lập, hàng o Mận tự dưng có nhiều khách mà đông nhứt là lính. Không chỉ lính Địa phương quân mà còn là lính của Trung đoàn I, lính Tiểu đoàn 11 Pháo binh … Thời buổi chiến tranh, đời lính sống nay chết mai, sau những cuộc hành quân trở về hậu cứ , họ cần nhìn người nữ cho đời thêm tươi, để có chuyện mà kể khi ôm súng nơi tiền đồn. Không với được gái tiểu thư thì ra quán ngắm gái một con cũng đặng. Dù cô chủ không cười với một ai nhưng ánh mắt của cô cũng làm mát lòng chiến sỹ. Vậy là mụ Bốn nghỉ chợ búa, quanh quẩn trong nhà, mọi chuyện giao cho o Mận. Trước không giữ được, chừ còn cái chi mà giữ! Quán cứ đắt và o Mận cứ lạnh lùng… 


“Chú Ngọ về!”. Thằng Tí em vừa chạy vừa la. Mụ Xạ bỏ dở con dao xắt chuối, lạch bạch chạy ra. Ôn Xạ đang ngồi kéo thuốc lào cũng lật đật gác điếu. Xóm Bói đỗ vội ra dòm. 
Chú Ngọ mặc bộ áo quần nhà binh còn mới, cái loon binh nhất trên vai, ba lô sau lưng. Gặp ai chú cũng cười, hàm răng nổi bật trên khuôn mặt đen như ảnh ông Chà Và ngoài ống kem Hynos. Nhà ôn Xạ chật ních người. Chú Ngọ ra đi có thư từ chi mô. Đông nhất là lũ con nít đứng chắp tay ngơ ngáo dòm, rồi mấy mụ đàn bà. Lại đàn bà xóm Bói! Họ chờ coi nhà ôn mụ Xạ nói chuyện chi. 
Nhưng đúng là nhà ôn Xạ! Chú Ngọ thay áo quần xách gàu ra giếng; Ôn Xạ tiếp tục cử thuốc lào; Mụ Xạ đi nhốt con gà tơ chuẩn bị nấu cháo. Không ai nói gì. Đám con nít thấy không có chi hấp dẫn bỏ về trước. Mấy mụ đàn bà cũng tẻn tò rút lui. 
Đêm hôm đó, sau khi lai rai ba xị đế với cái giò gà, chú Ngọ nằm dài thoải mái trên bộ ván ngựa nghe Út Trà Ôn ca vọng cổ bài Tình anh bán chiếu. Dọn dẹp xong, mụ Xạ lại gần con trai hạ giọng: 
- Hắn đẻ rồi mi! 
Chú Ngọ hỏi: - Mạ nói ai? 
Mụ Xạ chắt lưỡi: - Thì con nớ, con Mận đó. 
Chú Ngọ bắt tréo chân: -Tưởng chuyện chi! Đẻ thì đẻ chớ. Lâu quá rồi mà… 
Mụ Xạ thì thầm: - Con trai mi nờ! 
Chú Ngọ tỉnh bơ: - Mạ muốn cháu à. Tui cho một đống. Tui có bồ rồi. Gái Sè goòng đàng hoàng. Gái nhà quê ni kiếm mô chẳng được. 
Phía bên tê giường, ôn Xạ tằng hắng :
 - Sáng mơi, hai mạ con qua bên nớ thảy cho nó mấy ngàn bạc đem thằng cu về. 
Chú Ngọ quay mặt vô vách ngáy. Mụ Xạ loay hoay trong buồng với cái rương bằng gỗ lim. 


Mụ Bốn đang cho thằng Hận ăn trên hè. Thằng bé bước lẩm chẩm trên nền đất nện, lâu lâu vấp ngã lại cố đứng dậy cười sằng sặc. Cái thằng được cả nết ăn lẫn nết ngủ, có vậy o Mận mới thay mụ gánh vác cả gia đình. Chiều ni o mua được mớ cá tươi, lúi húi kho dưới bếp, mùi thơm lan tỏa trong nhập nhoạng. 
Có bóng người đi vào sân. Con chó vện nằm dưới gốc bưởi gầm gừ. Mụ Bốn lấy tay che trán dòm ra. Ai tới chơi cử ni? 
Mụ Xạ đặt chiếc nón dưới mái hiên, chiếc nón như một phương cách cho mụ trốn lánh ánh mắt hàng xóm. Ấy thế mà chú Ngọ thản nhiên huýt sáo đi nghênh ngang đằng sau. Mụ Xạ cất tiếng: - Chào ả! 
Bây chừ thì mụ Bốn đã nhận ra. A, nhà cái thằng đã làm cho mạ con mụ khốn khổ. Mụ mát mẻ: - Mụ tới nhởi hay có chuyện chi? Nhà ni nghèo mô xứng. 
Mụ Xạ dòm thằng bé. Ui chao. Giỏ nhà ai quai nhà nấy. Cái mặt nớ đích thực là mặt thằng Ngọ thời nhỏ. Cũng con mắt to, cái mũi hơi gồ… Mụ mê man. Phải chi được hun nó một chặp. Mụ kéo tay chú Ngọ: 
- Tui đưa cháu tới xin lỗi ả và con Mận… 
Mụ Bốn xốc cháu lên: - Lỗi phải chi mà xin! 
Chú Ngọ tự tin bước vào nhà ngồi xuống cái chõng tre. Chú biết o Mận yêu chú lắm lắm. Ở hàng chè tàu ngoài tê o đã từng cắt cho chú một lọn tóc thề nguyền. Không biết chú vất chỗ nào rồi. Chẳng nhớ. Mục đích chú đến đây cũng chỉ vì thằng cu. Đem được nó về nhà là tốt cho ôn mệ già. Còn chú. Trai giang hồ, thiếu chi. Cỡ như o Mận, gái nhà quê, nước gì! 
Mụ Bốn tay run run thắp ngọn đèn dầu. Thiệt sự trong tâm mụ, nếu như nhà ôn mụ Xạ biết lỗi đưa hai mạ con về thì mụ cũng cam tâm. Lòng mụ khi nào cũng thương con. Mong hai mạ con nó yên lành thì mụ cũng yên tâm nhắm mắt. 
Mụ Xạ thân mật : 
- Thôi đèn đuốc mà chi. Ả ngồi tui nói chuyện… 
Chú Ngọ tay ngoắt ngoắt thằng bé, dứ dứ gói bánh trong túi. Mụ Bốn kéo cháu vào lòng:
 - Có chuyện chi mụ cứ nói. 
Mụ Xạ tằng hắng: 
- Hôm ni chúng tui qua đây nói chuyện với mụ. Con cháu ai mà không thương. Dù răng đây cũng là hột máu của nhà tui. Mọi chuyện dĩ lỡ rồi.Thôi, xin mụ cho cha hắn nhận con, cấy dôn tui nhận cháu… 
Mụ Bốn ngớ người ra. Nhận cháu thôi à! Mụ có lãng tai khôn? Té ra tui nuôi công cốc cho mấy người a? Té ra con tui đẻ cháu ra cho không mụ a? 
Như để tăng sức mạnh cho câu nói của mình, mụ Xạ rút trong bọc ra gói ni lông cột chặt: 
- Tui cũng bù chì cho mụ chút ít, cho con Mận chút vốn đi lấy dôn… 
Từ dưới nhà bếp, o Mận chạy vụt lên. Không ai nhận ra người con gái hiền lành của xóm Bói nữa. Mắt o long sòng sọc, mặt đỏ gay: 
- Mấy người định cướp con tui đi à? Đồ khốn nạn! 
O chỉ tay vào mặt chú Ngọ: 
- Thứ điếm đàng! Đồ sở khanh! 
Chú Ngọ chụp lấy tay o Mận. O giật ra: 
- Đừng đụng vào người tui. 
O Mận đùng đùng chạy xuống bếp. Người ta nghe tiếng dao liếc xoèn xoẹt vào đít chén. O định làm chi? Chém chú Ngọ hay răng? O lại chạy lên.Trời đất ! O kê ngón tay trỏ vào cạnh bàn, chém cái bụp. Lóng tay đứt rời ra, bay xuống đất. O Mận, giọng run rẩy, căm giận : 
- Cút xéo! Lời nguyền của tui đó. 
Mụ Xạ đứng bật dậy, chụp mớ tiền trên mặt bàn vội vã bước ra. Chú Ngọ cũng theo bén gót. Gói bánh rơi xuống đất. Con chó vện chạy lại táp vội. Tiếng thằng cu con khóc thét… 


Trong số người hay ghé quán o Mận có chú Phê, tài xế thiếu tá Thông,Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 Pháo Binh đóng ở trại Nguyễn Văn Thoại, đường lên La Vang. Chú Phê người cùng làng Diên Thạnh, huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa với thiếu tá. Lúc còn nhỏ, có lần thằng Phê đã cứu một thằng nhóc khác xém chết đuối dưới cầu Hà Dừa.Thằng nhóc đó chính là ông thiếu tá hiện tại. 
Cuộc đời đưa đẩy, chú Phê gặp lại ông Thông lúc ông còn làm sỹ quan Đề lô cho đại đội 4, tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 22. Cảm cái ơn cứu tử, đi đâu thiếu úy Thông cũng dắt dìu chú binh nhì này. Ông đổi từ Nam ra Trung, từ sỹ quan tác xạ qua Pháo đội trưởng, từ ban III lên Tiểu đoàn phó cho đến khi ra vùng địa đầu hỏa tuyến với chức Tiểu đoàn trưởng. Và chú Phê theo “ông thầy” như bóng với hình. Chỉ có chú Phê mới biết ông thiếu tá thích ăn cơm cháy với tóp mỡ, thích uống cà phê không đường pha thật đậm. Áo quần của ông thiếu tá, ngoại trừ bộ đồ treillis phải ra tiệm hồ cứng thì tất cả đều do tay chú Phê giặt giũ. Có thể nói chú vừa là tài xế, vừa là quản gia, vừa là đầu bếp cho ông thầy.
Lo cho ông thiếu tá, chú Phê quên luôn cả bản thân. Quay đi quay lại, chú đã hơn ba mươi đeo loon trung sỹ mà vẫn chưa có mảnh tình vắt vai. Ông thiếu tá có nhắc thì chú gãi tai cười hì hì nhe cái răng vàng bên khóe miệng. Ấy thế mà dạo này chú hay ghé quán o Mận mới kỳ. 
Mọi chuyện cũng có nguyên do. Cô người yêu của ông thiếu tá thích ăn ổi mà bữa đó đi ngang quán, chú Phê thấy có mớ ổi thật ngon. Muốn ông thầy “lấy điểm” với nàng, chú Phê thắng xe mua hết rổ. Trong khi chờ o Mận tìm cái bịch ni lông, chú Phê bồng thằng cu cho nó bấm còi chiếc Jeep “tin tin”. Thằng bé khoái chí cười tít mắt và khi chú Phê lái xe đi thì nó khóc òa. Đã từng nghe câu chuyện của cô chủ quán nên trái tim nhân ái của người đàn ông chơn chất này thấy tội. Và từ đó mỗi khi chở ông Thiếu tá về hậu cứ Tiểu đoàn thì chú Phê lại ghé quán cho thằng cu ngồi trên cái ghế bác tài bóp còi thoải mái. Chú không ba lơn ba cợt như mấy tay tới tán o Mận; chú cũng không ra dáng ta đây lái xe Jeep. Chú lấy thùng gỗ pháo binh đóng cho o Mận mấy cái ghế đẩu, làm cho thằng cu con ngựa phi nhong nhong, lại chịu khó xuống dưới pháo đội tác xạ xin tấm bạt che mưa tạt bên hông quán. O Mận pha cho ly nước chú cũng chỉ nhe răng cười thay lời cám ơn. 
Một bữa nọ, khi lái xe chở ông thầy vô Huế họp ở Bộ tư lệnh tiền phương Sư Đoàn I, chú Phê ghé chợ Đông Ba mua chiếc nón bài thơ có cái quai màu tím, lại mua thêm một chiếc xe nhựa .Tất cả được gói ghém cẩn thận bỏ phía sau xe. Thiếu tá Thông trợn mắt:
 - Mày mua cho ai đây Phê? 
Chú Phê gãi tai, đỏ mặt: 
- Người ta gởi…Thiếu tá. 
- A, thằng này ngon hơn cả tao. Bộ có bồ rồi hả? 
- Chưa thiếu tá, đang ở giai đoạn dò dẫm. 
- Tác xạ nhanh cho tao.Tiểu đoàn vừa nhận thêm mấy khẩu pháo 155 ly. Đừng làm mất mặt dân Pháo binh nghe mậy. 
Hai thầy trò cùng cười sảng khoái. 


Mưa dầm thấm lâu. Từ những chăm nom lo lắng chân tình của chú Phê với cái quán, với thằng Hận, o Mận không còn có thái độ lạnh lùng. O chưa cười với chú nhưng thái độ có khác so với người ta. O nhẹ nhàng cám ơn khi chú cho thằng Cu gói kẹo, chở cho mụ Bốn mấy bó củi chụm bếp. O dư biết chú Phê thương mình nhưng o như con chim sợ cành cây cong. Hơn nữa, chú Phê quê quán xa xôi quá, biết người ta thiệt hay giả. 
Rồi có ai đoán được chữ ngờ. Buổi sáng trước khi dọn quán, o Mận nghe mụ Bốn than đau đầu, mặt đỏ ửng. O định nghỉ bán nhưng mụ Bốn sợ ở nhà thì mấy nải chuối chín hư nên xua tay quầy quậy “Đi đi. Có chi mô. Chút mạ hái nắm lá diếp cá giã đắp đầu hết liền”. 
Buổi trưa o Mận nhờ người giữ quán rồi chạy về coi mạ ra răng và lấy chén cơm cho thằng cu thì thấy nhà im ắng. O vô buồng thấy mụ Bốn trùm chăn nằm trên chõng. O lay lay “mạ ơi, mạ ơi” thì thấy người mụ lạnh ngắt. Hỡi ôi, mụ chết tự lúc nào! Cái đó người nhà quê gọi là trúng gió. 
Đám tang mụ Bốn là cơ hội để chú Phê cho o Mận thấy tấm chân tình của mình. O Mận chân yếu tay mềm, thờ thẩn như người mất hồn, người ta kêu chi làm nấy. Chú Phê nhờ mấy tay trong đội mai táng tiểu đoàn tẩm liệm, thiếu tá Thông thương thằng đệ tử cho mượn thêm hai chiếc xe Dodge, lại xin cho miếng đất trên nghĩa trang quân đội La Vang gần cái chùa có thầy Tuyên úy kinh kệ. Dòm đi dòm lại trong xóm Bói, đám tang của mụ Bốn coi bộ đàng hoàng nhất. 
Một năm sau, cảm cái nghĩa của chú Phê, ngày giỗ của mụ Bốn là ngày o Mận nhận làm vợ chú. O dẹp quán, đóng cửa nhà, lên trại gia binh tiểu đoàn ở. Một năm nữa, thằng cu có em. Chú Phê nói với o Mận làm lại giấy khai sinh cho thằng cu. Anh là Hân, em là Hạnh, bỏ cái dấu nặng đi. Đừng để cái khai sinh cũ lớn lên nó tủi. O Mận cảm động gật đầu. 
Năm 1971, sau trận Hạ Lào, thiếu tá Thông lên trung tá và có sứ vụ lệnh đổi về Nha Trang làm Tiếu đoàn trưởng Tiểu đoàn 63 Pháo binh. Thôi thì cũng là một cơ hội để biết quê chồng và cũng giã từ cái xóm Bói làng Thạch Hãn với những đau buồn trong quá khứ, gia đình chú Phê sắp xếp đi theo ông thầy. 
Leo lên chiếc máy bay Chinook, từ trung tá Thông cho đến hai vợ chồng chú Phê đều ngậm ngùi. Chỉ có hai thằng cu toét miệng ra cười. 
Tháng 4 năm 1975, từ đèo Phượng Hoàng, Trung tá Thông di tản về và kẹt cứng ở Nha Trang. Ông trốn lánh và không ra trình diện chính quyền mới. Chính chú Phê đã tìm mọi cách để đưa ông thầy về Sài gòn. Chú móc nối với người bà con và một đêm tối trời, chú đã đưa trung tá và gia đình lên Chụt xuống ghe. Nửa chừng nghe qua radio chính quyền Sài gòn buông súng họ đi thẳng ra khơi và lên tàu Midway của Mỹ. 


Tháng Tư chú Ngọ cũng trở về làng. Nhờ thành phần hạ sĩ quan, chú chỉ phải học tập “đường lối chính sách Cách mạng” trong năm ngày. Nhưng làm gì để ăn đây? Xóm làng tiêu điều xơ xác. Người đi kinh tế mới, người di dân tự do vô Nam. Ôn mụ Xạ đã già, ruộng đất thành của Hợp tác xã. Chú Ngọ vác cuốc đi hai ngày rồi về nằm thở dốc. Xưa nay chú là loại ăn bơ làm biếng, đi lính cũng chỉ làm “ lính cậu”. Bây chừ làm răng? 
Mụ Xạ xưa nay vốn là người nhìn xa trông rộng . Một hôm, mụ nhấm nháy chú Ngọ : “Mạ thấy mi lấy con Lịch coi bộ được đó con”. 
- Con Lịch mô mạ? 
- Con mụ Thù có ôn chồng mới đi tập kết về đó mi. 
Chú Ngọ trợn mắt: - Ui! Cái con “Mắt chỉ thiên, mắt ngưỡng địa” đó hả? Cái con mười sáu tuổi còn đái mế thúi hoắc đó hả? 
- Mệ nội mi. Hắn thúi mà lí lịch hắn thơm. Mi làm chi được với cái danh “Ngụy”… 
Rồi mụ nói như dỗ dành:
 - Có điện đóm mô mà sợ. Tắt đèn nhà ngói như nhà tranh con à. Thời ni có cơm ăn là tốt rồi. 
Chú Ngọ càu nhàu : 
-Tui mô mà hạ giá rứa trời ! 
Nhưng quả thật. Lúc đói mới biết giá trị của miếng ăn. Nhà mụ Xạ từ ăn độn chuyển sang ăn sắn lát, rồi bo bo. Đến khi bo bo cũng không có để mà ăn thì chú Ngọ đành lấy cô Lịch thôi. Lấy cô Lịch chú sẽ có cái chức “Đội trưởng”, sẽ có gạo “Tiêu chuẩn” và sẽ chấm mút được chút công điểm của bà con . 
Đám cưới của chú tổ chức trong gian nhà kho của Hợp tác xã, có kẹo Hải Hà, có thuốc lá Điện Biên giấy bạc. Mọi người hoan hỉ vì thiếu chất ngọt từ lâu, mỗi người đến dự được phát ba cái kẹo mà ít ai dám ăn, toàn bọc túi để dành. Đi bên cạnh bà vợ xà nẹo cười toe toét, chú Ngọ bỗng dưng nhớ đến nụ cười chúm chím và mái tóc ngát mùi hương nhu của o Mận một thời trong quá khứ… 
Quả là o Lịch mắn đẻ hay là mạ già ruộng ngấu. Chỉ trong sáu năm , lần lượt bốn đứa con ra đời. Ngặt một nỗi toàn con cấy. Chú Ngọ là con trai một, mụ Xạ đêm ngủ không ngon giấc. Mụ trút nỗi dằn vặt lên o Lịch. Thoạt đầu là những câu bóng gió xa gần. Rồi sau là những câu chạm mặt “Thứ đồ không biết đẻ”. O Lịch cũng không vừa. Ta là gái dòng giống Cách mạng mà. Ngụy như bên nớ lấy được mừng húm. “Mạ cũng đẻ một bầy vịt trời, nói chi tui.” 
Ôn Xạ đã chết, mụ Xạ ngày một già, nói chi lại. Mụ thắp hương cầu khấn trên bàn thờ, ngoài cổng ngõ mặc kệ con dâu chê “dị đoan, không theo đời sống mới”. Thỉnh thoảng trong những giấc ngủ nửa đêm về sáng, khuôn mặt thằng cu con o Mận chập chờn hiện ra. Chao ui cái thằng. Giống cha như đúc… Biết chừ ở mô. 
Mấy đứa cháu nội gái hùa theo mạ ăn nói chỏng lỏn, đanh đá. Đôi khi mụ Xạ nhớ lại những câu nói mình rũa xả o Mận. Phải quả báo không trời. Nước mắt mụ ứa ra. 
Hợp tác xã làm ăn thua lỗ giải thể. Ông bố vợ Cách mạng đã về hưu không giúp chi được, chú Ngọ đành đi xe đạp thồ. Sáng sáng chú chở gánh hàng của mấy o buôn chuyến lên ga Quảng Trị kiếm đồng bạc. Thời buổi của khôn người khó, thêm mẹ già và mấy cái tàu há mồm, gia cảnh chú càng lúc càng bí bách. Đôi khi chú soi mặt mình vào gương. Chao ơi! Còn đâu thằng Ngọ một thời vang bóng. 
Thời gian qua…Mụ Xạ chết vào một buổi chiều mùa đông lạnh lẽo. Gió hun hút trên mái tranh. Mụ nhìn chú Ngọ như muốn nói điều chi mà không còn sức. Đôi môi mụ mấp máy. Chú Ngọ cúi sát người nhưng nghe không rõ. Đôi tay mụ bắt chuồn chuồn rồi duỗi ra. Người đàn bà uy quyền một thời của xóm Bói… 
Rồi sức khỏe chú Ngọ cũng không bì lại với tụi thanh niên trai tráng. O Lịch mở một cái quán nước cho mấy đứa nhỏ tập buôn bán. Chú Ngọ ngồi nhà lúi húi trồng rau sau vườn. Chú kiếm cây chè tàu về trồng hàng rào. Đất Quảng Trị trồng cái chi cũng khó, chỉ có cây chè tàu không ăn được thì mỗi ngày mỗi xanh um… 
Hai mươi năm sau ngày qua Mỹ, trung tá Thông mắc bệnh ung thư. Những ngày cuối đời, nguyện vọng của ông là được thiêu xác và đem về rải trên dòng sông Hà Dừa quê hương. Chú Phê lại là người được ủy thác nhiệm vụ này. 
Hai đứa nhỏ giờ đã trưởng thành. Thằng Hân có công ăn việc làm ổn định, thằng em đang đại học. Chú Phê bàn với o Mận kết hợp cho chúng nó về thăm Việt Nam, thắp nén nhang cho hai bên nội ngoại. Thôi thì “ Đất có tổ, người có tông”, o Mận bằng lòng. 
Xóm Bói bây giờ thay đổi quá nhiều. Hai vợ chồng ngơ ngẩn như Từ Thức về trần. Những người xưa đã khuất bóng và phiêu dạt nơi đâu. Ngã ba Long Hưng không còn. Con đường lên La Vang giờ nhìn nhỏ như sợi chỉ. Nhìn quanh toàn những người xa lạ. O chú cải táng cho mụ Bốn rồi đưa tro cốt vào gửi trong chùa. 
Trong khi chờ chồng đi tìm tài xế, o Mận dắt hai con vào một cái quán bên đường. Cái quán nghèo nhưng có hàng chè tàu cắt phẳng phiu thật trông thật đẹp.Thằng em chăm chú nhìn và hỏi thằng anh: -What’s name ? 
Thằng anh lắc đầu:
 - I don’t know. Let's ask Mom. 
O Mận nói với con: 
- Cây chè tàu. 
Hai đứa cười và nhái lại :
 - Che tau…che tau… 
Không ai biết nép sau cánh cửa tre xập xệ , một người đàn ông đứng lặng. Đó chính là chú Ngọ. Dù thời gian đã quá xa xôi nhưng chú vẫn nhận ra người đàn bà sang trọng kia chính là o Mận, người con gái ngày xưa chú phụ rẫy. Bàn tay trái có một ngón cụt lóng đặt hờ hững trên chiếc xách. Và thằng bé trai với những đường nét thân quen…Trong đầu chú hiện ra hình ảnh người con gái đứng bên hàng rào chè tàu, tay lúng túng bứt những chiếc lá, mắt cười lóng lánh …Rồi một buổi chiều…cây dao…lóng tay… 
Xe đã đến. Ba người lên xe. Nụ cười khanh khách của hai đứa con trai vang vọng. Làn bụi mỏng bay theo chiều gió…Tiếng ru con của người hàng xóm cất lên: … À ơi …Vàng mười chê đắt không mua…Đi mua vàng bảy …À ời… thiệt thua trăm đường…à ơi… 
Chú Ngọ ôm mặt. Hai dòng nước mắt chảy qua kẽ tay. 

                                                               Ngô Hương Thủy

READ MORE - TÌNH PHỤ - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy