Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, April 14, 2026

ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG - Bài viết của Khê Giang - Hình của Nguyễn Như Khoa


Bài của Khê Giang (Bs Lê Văn Huấn), Ngãi Giao, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu.



Hình của Nguyễn Như Khoa, Hải Hòa, Hưng Nhơn, Hải Phong, Hải Lăng, Quảng Trị

Đường lên Thách Chờng,

thượng nguồn sông Thác Ma



Ô Lâu - Thác Ma là một hệ dòng chảy đi qua hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, một con sông được bồi lắng với những trầm tích lịch sử, văn hóa Việt - Chăm. Một dòng chảy thi ca, nơi lưu giữ những áng văn chương, những thiên tình sử… rào rạt chảy từ suối nguồn giai thoại cho đến bãi bờ hiện thực. Thầm lặng cần mẫn, dòng chảy đã điểm trang cho vùng đất eo thắt lưng ong này những nét duyên dáng kiêu sa, một tuyệt phẩm thiên nhiên mà không phải nơi nào cũng có được. Chỉ tiếc rằng do xác định chưa thật rõ ràng về tên gọi và ranh giới, nên trong một khoảng thời gian dài rất nhiều tác phẩm, tài liệu đã mô tả không đúng về tên gọi của con sông này.


Ô Lâu - Thác Ma là một hệ thống sông đặc biệt, nơi có dòng chảy không nằm trong quy luật chung về địa lý. Theo lẽ thường các con sông được tạo thành từ nhiều phụ lưu nhỏ hợp thành dòng chảy lớn, càng về hạ lưu lòng sông càng rộng… sau đó được đổ ra biển bằng một cửa sông hay nhiều chi lưu. Nếu tuân theo quy luật này thì chẳng khó khăn gì trong việc xác định về tính phân cấp, hệ thống dòng chảy hay tên gọi, thế nhưng đây là hệ dòng chảy vô cùng rối rắm. 



Hệ thống dòng chảy này có hai nhánh chính đó là Ô Lâu và Ô Sa (Thác Ma). Về khởi thủy nhánh phụ lưu Ô Lâu (hữu ngạn) bắt nguồn từ thượng nguồn đỉnh núi Truồi, chảy lượn quanh co giữa núi rừng Tây Thừa Thiên, chảy xuôi về Phò Trạch, rồi chuyển hướng Tây bắc, qua Phong Mỹ, Phong Thu đến thị trấn Phong Điền cắt qua quốc lộ 1A sau đó cặp theo quốc lộ đến thôn Mỹ Chánh rẽ theo hướng Đông, đến địa phận Mỹ Cang con sông uốn lượn theo hình chữ S với bờ phải là Mỹ Xuyên, Phước Tích; bờ trái là Hà Cát, Hội Kỳ sau đó luồn qua cầu Phước Tích để hợp lưu với nhánh Thác Ma.

 

Nhánh Ô Sa - Thác Ma (tả ngạn) còn gọi là Tho Lai, Thu Lai hoặc Thu Rơi…, bắt nguồn từ nhiều con thác và suối nguồn từ vùng rừng phía Tây Quảng Trị, giáp với Thừa Thiên - Huế bao gồm: thác Lạnh, thác Chuối, thác Chồn, thác Quả, thác Vụng Tròn và cuối cùng là thác Cá Voi Đái… dòng chảy xuôi về hướng Đông nam, bên bờ Bắc là các thôn Khe Mương, Trầm Sơn, Tân Điền và Cồn Tàu của xã Hải Sơn; phía bờ Nam gồm các thôn Lương Sơn, Tân Lương, Vực Kè, Xuân Lộc, Mỹ Chánh thuộc xã Hải Chánh.

 

Điều đáng nói là sau khi hợp lưu, tính “thủy chung” của dòng chảy này không được kéo dài, mới “ôm nhau” qua một đoạn ngắn, đến Câu Nhi (Hải Tân) chúng đã vội vã “chia tay”. Liệu hai nhánh rẽ này có phải là hai chi lưu của hệ Ô Lâu - Thác Ma? Về hình thái phân chia nhìn có vẻ đúng, nhưng về quy ước thì không thể vì hai phân nhánh này không đổ thẳng ra biển mà chúng có một hành trình hết sức luẩn quẩn, phức tạp về phía hạ lưu, nhất là nhánh tả (Ô Giang).

 

Nhánh hữu chảy theo hướng Đông - Bắc chảy qua Mỹ Xuyên, Trạch Phổ, Ưu Điềm, Vĩnh An... ở bờ Nam; Câu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ, Phú Kinh… ở bờ Bắc nhập vào sông Vĩnh Định qua cầu Vân Trình hòa vào phá Tam Giang.

 

Nhánh tả xuôi ra hướng Bắc (qua Lương Điền, Hà Lộc, Trường Sanh, Diên Sanh ở bờ Tây; Câu Nhi, Hà Lỗ, Văn Trị ở bờ Đông) khi đến Cây Da ranh giới của Diên Trường (Hải Thọ), xóm Càng (Hải Hòa) chúng bị thu hẹp dòng chảy đến độ người dân ở đây chỉ gọi là kênh hoặc hói, tại ngã ba này con sông lại chảy về hai hướng: bên trái chảy về hướng Bắc đến Trung Đơn (nhập vào sông Nhùng), sau đó theo sông Vĩnh Định đến Quy Thiện ngược ra Triệu Phong. Nhánh phải lại xuôi về hướng Đông đến ngã ba hói Dét (đoạn này trước đây được gọi là kênh Mai Lĩnh), tại đây chúng gặp sông Vĩnh Định và cũng chia thành hai lối, một lối chảy về hướng Bắc nhập vào Hiền Lương, Thạch Hãn, một nhánh chảy về hướng Nam nhập vào nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma tại Vân Trình để xuôi theo hướng Đông đổ về phá Tam Giang.

 

Sự nhầm lẫn trong việc xác định tên và dòng chảy này còn bị tác động rất lớn bởi những người làm công tác vẽ bản đồ. Rất nhiều các bản đồ hành chính, bản đồ về địa lý sông ngòi cấp quốc gia và thế giới hiện tại đã bỏ quên nhánh chi lưu (nhánh hữu) của hệ Ô Lâu - Thác Ma (từ Câu Nhi đến Văn Trình) kể cả Google Map, bản đồ trực tuyến, bản đồ vệ tinh… cho dù đó là phiên bản mới nhất (2017), thậm chí một số bản đồ cũng bỏ quên cả nhánh phụ lưu Thác Ma đoạn từ khởi nguồn đến cầu Mỹ Chánh. Không ai hiểu được tại sao những dòng chảy quan trọng như thế lại bị đánh mất trên hệ thống bản đồ. Điều đáng buồn hơn ngoài việc bỏ quên những dòng chảy, tác giả đồ họa còn ghi bừa lên toàn bộnhánh tả của hệ Ô Lâu - Thác Ma bằng cái tên là sông Ô Lâu (bao gồm sông Ô Giang, sông đào Ngô Đình Diệm và một phần của sông Vĩnh Định).

 

Nói về khúc sông từ Cây Da đến hói Dét, nguyên thủy đây là kênh Mai Lĩnh (Ranh giới tự nhiên giữa Phước Điền và Hội Điền). Năm 1926 Tri phủ Hải Lăng cho đào sông, mở rộng trên nền con kênh có sẵn, nhằm cải tạo giao thông thủy từ các xã vùng ruộng sâu với trung tâm huyện lỵ, vừa có tác dụng tiêu nước cho cánh đồng trũng Hải Hòa - Hải Thành.

 

Tương tự đoạn từ ngã ba hói Dét xuôi về Văn Trình không thể là sông Ô Lâu được, vì đây chính là sông Vĩnh Định, một con sông trung gian nối tiếp giữa hai hệ thống sông Thạch Hãn với hệ thống Ô Lâu - Thác Ma. Điều muốn nói thêm, đây cũng là con sông rất khó xác định phụ lưu và chi lưu. Nếu căn cứ vào hướng chảy chung của hệ thống sông ngòi miền Trung con sông này có hướng chảy Tây - Bắc đến Đông - Nam thì hai cửa nối tại Cây Da (chảy ra Câu Nhi) và hói Dét (chảy ra Vân Trình) là chi lưu, nhưng nếu tính theo quy tắc về độ rộng tăng dần của dòng chảy thì hai nhánh này là phụ lưu và chi lưu chính là cửa đổ ra sông Thạch Hãn.

 

Vậy nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma (nhánh bị xóa tên trên hầu hết hệ thống bản đồ) là sông gì? Đây là nhánh sông được coi là ranh giới giữa Thừa Thiên và Quảng Trị trừ Câu Nhi và Hòa Viện (Câu Nhi thuộc Quảng Trị nằm ở bờ Bắc nhưng có một phần diện tích đất của làng nằm ở bờ Nam và Hòa Viện thuộc Thừa Thiên nằm ở bờ Nam nhưng lại có một nửa diện tích đất nằm ở bờ Bắc).

 

Hầu hết các tác phẩm, tài liệu về địa lý, văn học… trong thế kỷ XX đều mặc nhiên gọi khúc sông này là sông Ô Lâu: “Sông Ô Lâu bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên ở độ cao tuyệt đối xấp xỉ 905m, có chiều dài dòng chính 66 km, diện tích lưu vực 900 km2, độ dốc trung bình lưu vực trên 13m/km (ở phạm vi đồi núi trên 19m/km). Thoạt đầu sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đến Phò Trạch chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc cho tới Phước Tích (chỗ hội lưu với sông Thác Ma), sau đó chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc cho đến Vân Trình lại chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ vào phá Tam Giang ở cửa Lác.” (Theo “Địa chí Thừa Thiên Huế” - Phần Tự nhiên - Nhà xuất bản Khoa học xã hội -năm 2005).

 

Tuy nhiên để có cái nhìn thấu đáo hơn cho câu hỏi này chúng ta chịu khó đi ngược dòng thời gian…

 

Khi tiếp quản châu Ô của Chiêm Thành, những dòng sông ở đây đã có tên gọi theo tiếng Chăm. Ô Lâu: nhánh chảy từ Truồi về đến Phước Tích; Ô Sa (Thác Ma): nhánh chảy từ Tây Hải Chánh đến Lương Điền (đối diện ngã ba Phước Tích ở bờ Nam); Ô Giang (Rào Cái): đoạn từ ngã ba Câu Nhi đến Cây Da; Ô Khê (sông Bến Đá): khởi nguồn từ phía tây thôn Trường Xuân hợp lưu với Ô Giang tại đoạn chảy qua Văn Trị. Trong Đất Việt trời nam - Thái Văn Kiểm đã mô tả:“Con sông Ô Lâu bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua vùng Ô Sa, chảy qua Phước Tích đến Lương Điền thì chia làm hai: Một nhánh chảy về Vân Trình ra phá Tam Giang, còn một nhánh chảy về Câu Nhi, Trung Đơn thì mang tên là Ô Giang, có chi lưu là Ô Khê tức khe Ô vậy. Bốn địa danh Ô Lâu, Ô Sa, Ô Giang và Ô Khê là di tích âm thanh hiếm hoi còn lại của châu Ô mà Chiêm Thành đã dâng cho ta năm 1306...”. Mặc dù bài viết xác định tên gọi gần đủ của các nhánh trong hệ Ô Lâu - Thác Ma, tuy nhiên tác giả cũng không mô tả nhánh chảy về Vân Trình có tên gọi là gì?

 

Rất may có rất nhiều tài liệu cổ đã chứng minh tính không phù hợp khi viết về dòng Ô Lâu trên nhiều tài liệu hiện nay.

 

Theo Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn (1774): “... Ngày 7 tháng 12, (quân chúa Nguyễn - TG) vượt Độc Giang, tiến đến các xã Lương Phúc và Diên Sanh. Diệp công Hoàng Ngũ Phúc sai Trần lĩnh hầu Nguyễn Đình Khoan đốc xuất hậu quân và Thạc vũ hầu Hoàng Phùng Cơ làm tiên phong cùng nghênh chiến rồi phá tan, chém và bắt sống vô số, thu hơn 100 ngựa, hơn 30 voi. Thủy binh của chúng đến đánh ở Độc Giang cũng bị đại bại...”.

 

Con đường Lê Quý Đôn mô tả chính là đường Quan báo (Thiên lý) hay còn gọi là đường Kinh sư, chạy từ Phú Xuân đến trạm Hành cung Mỹ Xuyên qua bến đò Hôm Lạng đến Lương Điền (Lương Phúc), Trường Sanh, Diên Sanh… Truy tìm các tài liệu cổ cùng thời ta thấy đoạn sông này đều gọi là Độc Giang hay sông Đôộc chứ không nghe nhắc đến Ô Lâu.

 

Trong Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - Lê Quang Định - Do Phan Đăng dịch, trang 109 đã mô tả: “… Sông Lương Phước rộng 88 tầm, bờ phía Bắc giáp với đầu địa giới dinh Quảng Trị, tục gọi là sông Đôộc nước sâu 1 tầm, sông này một nửa thuộc dinh Quảng Đức một nửa thuộc dinh Quảng Trị. Đi ngược lên 13.444 tầm thì đến sở tuần cũ nguồn Ô Lâu, xuôi xuống dưới 30.091 tầm thì chảy ra phá Tam Giang rồi đổ ra cửa Nhuyễn…”.

 

Đây là tài liệu mô tả rất rạch ròi về tên gọi: Lương Phước (mới) và Độc Giang (cũ), cũng như phân định ranh giới rõ ràng về sông và nguồn: Ô Lâu (nguồn) và Lương Phước (sông). Điều này cho chúng ta thấy sông Ô Lâu đã dừng tên ngay khi đổ vào sông Lương Phước (Độc Giang) tại ngã ba Phước Tích.

 

Cũng từ tác phẩm trên đoạn mô tả về đường Thiên lý Bắc - Nam: “Đường từ Kinh sư đến lỵ sở Quảng Trị: 26.693 tầm, 1 thước, thành ra 123 dặm rưỡi, đi hết 1 ngày rưỡi… Từ phía nam công đường của lỵ sở, theo đường trạm đến thủ sở Thu Lai đầu địa giới là sông Lương Phước hết 13.000 tầm, 1 thước”.

 

Tương tự “Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí” đã mô tả, trong Đồng Khánh địa dư chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng cho biết Ô Lâu chỉ là nguồn chứ không phải là sông:

 

“... Một dòng sông từ nguồn Ô Lâu chảy xuống qua hai ấp Hoàng Liên, Thượng Nguyên, qua ngã ba xã Văn Quỹ (thuộc đạo Quảng Trị) giáp với sông Hoàng Lai (Ô Giang - TG) đạo Quảng Trị, quanh co chảy xuống Phước Tích, Phú Xuân, qua Bào Ngược đến cửa Lạc, đổ ra phá Tam Giang, dài 59 dặm rưỡi, lại từ cửa Lạc chảy đến Thế Chí Đông, Thế Chí Tây, qua Thành Công đến cửa Quán dài 19 dặm.” (Chương Phủ Thừa Thiên, mục huyện Quảng Điền, trang 1429. Sách do Ngô Đức Thọ - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin biên khảo và hiệu đính - Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 2003).

 

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng mô tả rất rõ: “Vùng biển Tam Giang - xưa gọi là “biển cạn” (Hạc Hải), năm Minh Mạng thứ 2 (1821), đổi tên là phá Tam Giang. Từ bờ phía Nam đến bờ phía Bắc dài 35 dặm, từ bờ phía Đông đến bờ phía Tây rộng độ 6 dặm; từ sông Lương Điền (Lương Phước - TG) chảy xuống vũng biển, phía Tây Nam có 3 ngã sông: Cửa Tả Giang, Cửa Trung Giang, Cửa Hữu Giang. Mỗi sông đều chảy 2 - 3 dặm rồi nhập lại, cho nên gọi là vũng biển Tam Giang…”

 

Chúng ta dễ dàng nhận ra tài liệu từ thế kỷ XVIII trở về trước gọi đoạn sông này là Độc Giang (sông Đôộc) các tài liệu từ thế kỷ XIX trở đi gọi là sông Lương Điền (Lương Phước). Thực tế khi quan sát thực địa bằng đường bộ, đường thủy hay qua không ảnh ta dễ dàng nhận thấy tính hợp lý của những tài liệu cổ trên: Dòng Thác Ma là dòng chảy chính (rộng, thẳng) và nhánh Ô Lâu là nhánh phụ (hẹp và tiếp góc với dòng chính), để dễ hình dung chúng ta tưởng tượng nhánh Ô Lâu là một con đường nối với một đại lộ và theo quy định tên của con đường phải kết thúc ngay lúc giao nhau với con đường lớn, chứ không thể lấy tên mình để đặt hết lên con đường chính được! Theo phân cấp Quốc tế của Horton-Strahler về cấp độ dòng chảy chúng ta thấy nhánh Ô Lâu chỉ là phụ lưu của dòng Thác Ma - Lương Điền chứ khó có thể xếp nhánh này cùng cấp 1 với nhánh Thác Ma (Hai dòng cấp 1 hợp lưu thành dòng cấp 2).

 

Riêng lý giải tại sao các nhà viết sử xưa gọi tên dòng sông này (đoạn chảy từ Phước Tích đến Vân Trình) là sông Đôộc hay Lương Điền (Lương Phước)? Căn cứ vào cách đặt tên sông ngòi tại nước ta, ngoài việc đặt tên theo sự tích, người khai phá, dựa theo tính chất đặc điểm về dòng chảy…, đa phần người ta thường gọi tên theo những “địa danh đặc biệt” nơi chúng đi qua. Đoạn sông này đã chảy qua địa phận hai ngôi làng nổi tiếng thời bấy giờ: Làng Đôộc - Phước Tích ở bờ Nam nơi sản xuất lu, đôộc (chum, vại) ngoài cung cấp vật dụng đồ gốm cho cả triều đình, còn là nơi trao đổi buôn bán với nhiều nước trong khu vực; Lương Điền (bờ Bắc): vùng đất có độ dài lớn nhất của con sông đi qua (thời điểm đó làng Lương Điền bao gồm một hành lang rộng lớn theo bờ sông: từ Cồn Tàu, Tân Điền, Trầm Sơn… chạy dài đến Câu Nhi), là địa phương có đường quan báo đi qua, có bến đò Hôm Lạng là huyết mạch giao thông thủy, bộ giữa hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

 

Để xác định và đặt đúng tên trở lại cho một con sông, một dòng chảy không phải là điều dễ dàng khi mà sự nhầm lẫn kéo dài quá lâu, điều này đã phần nào vùi lấp, mai một những dấu tích và tính xác thực. Tuy nhiên để hệ dòng chảy này cũng như những tác phẩm viết về nó tiếp tục mang lại những giá trị văn hóa đẹp cho quê hương đất nước, trong hiện tại và mai sau, rất mong những nhà viết sử, địa lý sớm có những bước đi tiên phong, có động thái rà soát, hiệu đính trên những trang viết cũng như hệ thống bản đồ Quốc gia để trả các con sông trở về với đúng tên gọi của nó.

 

K.G 

Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 278 tháng 11/2017
















READ MORE - ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG - Bài viết của Khê Giang - Hình của Nguyễn Như Khoa

Monday, April 13, 2026

12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

  •  
    Tác giả Đặng Xuân Xuyến

TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM

.

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm 

Từ độ người ta tuổi chớm Rằm 

Cái tuổi xúi người say má thắm 

Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm 

.

Tôi nhớ, người ta một cuối năm

Giữa chiều mưa ấy rét căm căm

Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm

Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.

.

Tôi biết người ta với làng Chằm

Ân tình riêng nặng đã nhiều năm 

Người ta lại giỏi cam chịu lắm 

Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.

.

Tôi về làng Đá mỗi cuối năm

Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm

Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm

Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...

*.

Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

VỀ THĂM HÀ NỘI

  • viết tặng Nguyễn Minh-

.

Tôi xa Hà Nội, xa Hà Nội 

Mới đó thôi mà bấy năm trôi

Bạn cũ gặp nhau nhìn rất vội

Nụ cười te tẻ hé trên môi.

.

Ờ gió heo may đã mỏng rồi

Mây chiều cũng ít bảng lảng trôi

Giờ còn ai đợi canh chừng tối

Dụ một tiếng reo thả chỗ ngồi?!

.

Tôi lặng nghe lòng chất vấn tôi

Người ta giờ đã khác xưa rồi 

Thời gian thì cứ trôi vồi vội

Tôi lại giam mình góc xa xôi.

.

Tôi biết nhưng mà biết vậy thôi

Chuyện xưa còn giữ được mấy hồi

Tôi về Hà Nội thăm Hà Nội 

Mua chút niềm riêng ngủ quên rồi...

*.

Hà Nội, ngày 9 tháng 2-2025

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

TÔI BIẾT

.

Tôi biết người ta cố quên tôi

Ước thề chỉ để thoảng đầu môi

Gặp tôi người cứ ne né vội

Như sợ chạnh buồn phía xa xôi

.

Tôi đã dằn lòng phải thế thôi

Người ta giờ đã khác xa rồi

Chữ tình khéo bẻ thành trăm lối

Dụ khách say tình, lén chuốc vôi.

.

Tôi sẽ về thăm lại lần thôi

Để nghe gió lạnh thốc mé hồi

Để xem u uẩn chiều loang lối

Để ngó mây trời lững lững trôi.

*.

Hà Nội, ngày 06 tháng 03-2024

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

EM RỦ RỈ RẰNG...

.

Em rủ rỉ rằng chỉ hôm nay

Gom mây nhột gió để nhốt ngày

Chả cần vịn đến lời bỏng cháy

Mà ánh trăng cuồng líu ríu say.

.

Em lại thì thầm chỉ đêm nay

Vãi trăng rắc sáng trải làm ngày

Cuộn gió làm mồi nhen lửa cháy

Cho khối kẻ khờ ngất ngư say. 

.

Em lại... Ừ thì, ta đêm nay

Kê nắng làm đêm gió làm ngày

Vì em ta nguyện làm mồi cháy

Đốt cạn đêm cuồng líu qíu say!

*.

Hà Nội, đêm 23 tháng 10/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

CẠN LÒNG

  • viết tặng 1 người -

.

Ta trở về làng buổi chớm Đông

Đường xưa nhạt nắng vẹt gió đồng 

Gió chiều xưa đấy sao mà lộng

Mướt cả triền đê, mướt cả sông.

.

Ta ngẩn ngơ lòng đến bến đông

Hỏi dò từ đấy có về không?

Chín năm, ờ nhỉ, bao biến động 

Người ấy giờ sao chửa lấy chồng?!

.

Ta lặng lẽ tìm giữa thinh không

Ngược nắng mưa xưa ngược gió đồng

Chợt hiểu lòng người sâu hơn rộng

Nửa đời ngờ nghệch sắc sắc không.

.

Ta đành tạ lỗi với hư không

Tạo hóa trớ trêu nợ vợ chồng

Người ấy vì yêu mà sầu mộng

Vét cạn tơ lòng đốt cháy sông.

*.

Hà Nội, 08:08 ngày 23/07/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

GỬI ĐÊM

.

Em lại ra ngồi ngóng đợi ai

Để se sợi nhớ thắt thêm dài

Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải

Để ríu cười buồn thêm mắt ai

.

Em lại ra ngồi ngóng đợi ai

Để líu ríu đêm tiếng thở dài

Để ngân ngấn lệ đêm trống trải

Để nhói đêm dài một dáng ai!

*.

Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

THÌ ĐÃ NHỦ RẰNG... 

.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà tin to nhỏ những mỹ miều 

Mà nhìn đăm đắm mùi hàng hiệu 

Mà tín ai kia bởi dáng kiều

.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà than gió lạnh ngả ngớn chiều 

Mà vin nắng nhạt chao ôi điệu 

Mà vịn mây buồn lững lững phiêu.

.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà sao khóe mắt lệ cứ nhiều 

Mà sao thổn thức từng ngữ điệu 

Mà dáng đổ dài bóng xiêu xiêu.

*.

Làng Đá, 03 giờ 35 - 09/04/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN 

.

.

ĐỢI EM

  • với TTQT -

.

Thắc thỏm ta chờ em ghé chơi

Để ta được ngắm nụ em cười

Để ta tíu tít kìa em tới

Để giỡn nắng chiều líu ríu rơi.

.

Ừ, đến đi nào, đến ngắm chơi

Vườn xuân rúc rích gió vui cười

Kìa đôi én liệng, chừng như đợi

Một dáng kiều thơm, mặt sáng ngời

.

Ừ, đến đi nào, đến ghé chơi

Để đêm thêm đắm mắt em cười

Để vườn xưa đượm hương gió mới

Để rộn tiếng lòng yêu mến ơi.

*.

Hà Nội, 3G30 - 25/03/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

TRAI LÀNG RA PHỐ ... 

.

Ừ thì rõ trai làng "lớ ngớ" 

Vốn chân quê nên sẵn khù khờ

Em cứ bẻ ngang chừng cụm gió 

Quất nát chiều cho bớt ngu ngơ 

.

Ừ thì rõ trai làng "quá dở"

Đã chân quê lại giấu ngù ngờ 

Em cứ đập cho chiều vụn vỡ

Để đêm nằm run cóng giấc mơ.

.

Ừ thì rõ trai làng "tưởng bở"

Chốn thị thành dễ dệt ước mơ 

Em cứ quẳng đại vào góc chợ 

Đốt cháy chiều cháy trụi "ham mơ" 

.

Ừ thì rõ trai làng "nịnh bợ" 

Đã "nhà quê" còn thích i tờ

Em cứ tẩm chiều cho ngọt lợ 

Trút nhiều cay để hết "gà mờ"

.

Người ta nói: Trai làng... Đến sợ!

*.

Hà Nội, trưa 24 tháng 11-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

ĐÊM CUỒNG SAY...

.

Em nhé, một lần quậy cùng ta

Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà

Một đêm vịn cớ vì ta đã

Mà hứng đêm cuồng say với ta?

.

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a

Người ta thiên hạ vẫn thế mà

Thì bởi ả Hằng lả lơi quá

Mà dáng ai kia cứ nõn nà...

.

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta

Để đêm thánh thót rót trăng ngà

Để làn gió thoảng loang hương lạ

Để trộn vào ta, nghiến nát ta..

*.

Hà Nội, 2G45 ngày 01-07-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

TÌNH CHUNG

.

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi

Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi

Thế mà tấp tểnh theo họ vội

Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

.

Thì chữ chung tình rớt đầu môi

Biết rồi nên chỉ tự trách tôi

3 xu kiếm được duyên vài tối

Hà tất thở than đứng với ngồi.

.

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi

Đừng ví sông kia lúc lở bồi

Đừng than gió lạnh run chiều tối

Đừng mượn sao trời biện với tôi.

*.

Hà Nội, sáng 23-05-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

NGƯỢC DÒNG

.

Hôm nọ có người ghé bến sông

Nói chuyện nhà bên đã gả chồng

Từ độ ngược dòng đi xây mộng

Chả thấy một lần ghé bến sông.

.

Tôi biết người ta chẳng ngóng trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Chiều qua lạc bước về Kim Động

Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.

.

Tôi biết người ta đã gả chồng

Giờ là mệnh phụ giữa phố đông

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Say mãi đò ngang khách má hồng.

.

Đã mấy đông rồi, đã mấy đông

Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng

Mỗi bận nàng ra cài then cổng

Có lạnh so người trước gió đông?

.

Nàng có còn quen nép cạnh chồng

Hững hờ dạo gót giữa phố đông

Lá vàng lả tả khi chiều xuống

Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?

.

Tôi biết người ta chẳng đoái trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.

*.

Hà Nội, Ngày 29 tháng 11-2014

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 From: baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - 12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

Sunday, April 12, 2026

ĐỌC LẠI "VÀI CẢM NHẬN VỀ PHIM BỐ GIÀ" CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Văn

  


ĐỌC LẠI "VÀI CẢM NHẬN VỀ PHIM BỐ GIÀ"

CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

  

Giữa vô số những bài phê bình phim đầy rẫy thuật ngữ chuyên môn hay những lời tán dương sáo rỗng trên mặt báo, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến về bộ phim Bố Già (Web drama) của Trấn Thành hiện lên như một nốt trầm khác biệt. Không đứng ở vị thế của một nhà lý luận hàn lâm để mổ xẻ, Đặng Xuân Xuyến nhìn bộ phim bằng đôi mắt của sự trải đời và trái tim của một người bố. Những cảm nhận của ông không chỉ dừng lại ở việc bóc tách cái hay, cái dở của một sản phẩm giải trí, cũng không chỉ là một bản "giải mã" kỹ thuật điện ảnh mà còn là một bức tâm thư đầy tinh tế, kết nối giữa thực tại nghiệt ngã của nghệ thuật thương mại và vẻ đẹp vĩnh cửu của tình thân.


1. Một cái nhìn trực diện vào "cỗ máy" điện ảnh thương mại

 

Mở đầu bài phê bình, tác giả Đặng Xuân Xuyến không ngần ngại bóc tách lớp vỏ hào nhoáng của một "hiện tượng mạng". Ông nhìn nhận bộ phim Bố Già (web drama) một cách tỉnh táo: Đó là một sản phẩm "đậm đặc chất thương mại". Tác giả đã dùng nhãn quan của một người quan sát xã hội để thấy được sự "bày binh bố trận" của nhà sản xuất, nhà biên kịch Trấn Thành – từ việc "đo chân đóng giày" cho dàn sao đến cách lồng ghép quảng cáo.

 

Tuy nhiên, sự khắt khe ấy không nhằm mục đích phủ nhận tài năng của Trấn Thành. Ngược lại, tác giả Đặng Xuân Xuyến đề cao sự chuyên nghiệp trong tư duy biên kịch của Trấn Thành. Tác giả chỉ ra một chân lý giản đơn nhưng ít người làm được: Phim Việt chỉ có thể kéo khán giả trở lại khi nó mang được "hơi thở thực của cuộc sống". Chính những "lát cắt phổ cập" về gia đình mà tác giả Đặng Xuân Xuyến nhắc đến đã tạo nên nhịp cầu đồng cảm giữa tác phẩm và công chúng.

 

2. Sự công tâm trong bút pháp phê bình: Giữa ranh giới Bi và Hài

 

Điểm tạo nên sức nặng cho bài viết chính là sự sòng phẳng trong đánh giá diễn xuất. Giữa cơn bão lời khen dành cho Trấn Thành tại thời điểm đó, Đặng Xuân Xuyến đã có những nhận định rất sắc sảo về kỹ thuật biểu hình. Ông thẳng thắn chỉ ra sự "đuối" của nam chính trong các phân đoạn nội tâm sâu sắc, nơi mà kỹ thuật diễn bi chưa khỏa lấp được sự cứng nhắc của gương mặt khi quay cận cảnh.

 

Sự phân tích về cú đấm "nửa vời" của ông Thành dành cho Sang là một chi tiết phê bình đắt giá. Ở đó, tác giả Đặng Xuân Xuyến không chỉ xem phim bằng mắt, mà xem bằng cả sự thấu hiểu về tâm lý học hành vi. Ông nhìn thấy trong sự "nhu nhược" của nhân vật trên màn ảnh một sự chênh vênh so với ý đồ kịch bản, nhưng cũng chính từ sự soi chiếu khắt khe đó, ông lại mở lòng đón nhận những khoảnh khắc thăng hoa thực sự của diễn viên Trấn Thành ở những phân đoạn cuối phim. Đây chính là tinh thần của một nhà phê bình có tâm: chê để xây dựng, khen để khích lệ và luôn kiếm tìm sự chân thực trong nghệ thuật.

  

3. Phía sau con chữ: Tiếng lòng của một người cha

 

Điều làm nên linh hồn cho bài viết này, biến nó thoát khỏi một bài điểm phim thông thường, chính là sự kết nối kỳ diệu giữa màn ảnh và cuộc đời. Bài viết được ra đời vào lúc 2 giờ sáng - thời điểm của những suy tư chân thật nhất - sau khi tác giả Đặng Xuân Xuyến bắt gặp dòng trạng thái "nhớ Bố" của con trai mình.

 

Chúng ta bắt gặp ở đây một sự giao thoa cảm động: Đặng Xuân Xuyến xem phim để hiểu về nhân vật ông Thành, nhưng đồng thời cũng là để thấu hiểu cảm xúc của chính con trai mình - Đặng Tuấn Hưng. Khi Đặng Tuấn Hưng viết "Xem Bố Già thấy nhớ Bố quá", đó không chỉ là lời khen cho bộ phim, mà là lời tự tình của một người con đang sống xa nhà. Và bài phê bình này chính là câu trả lời của người bố.

 

 4. Lời kết: Ngọn lửa nghề và tình phụ tử

 

Tổng kết lại, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy lý tính và tâm hồn cảm tính. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, nghệ thuật dù có thương mại đến đâu, cuối cùng vẫn phải quay về phục vụ những giá trị nhân bản cốt lõi.

 

Hơn cả một bài bình luận phim, những dòng chữ này còn mang theo cả kỳ vọng và niềm tin mà tác giả Đặng Xuân Xuyến dành cho cậu con trai Đặng Tuấn Hưng. Giữa mảnh đất phương Nam đầy nắng gió, khi cậu con trai Đặng Tuấn Hưng đang nỗ lực rèn luyện tại trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, bài viết của người bố chính là một "giáo án" sống động về sự khắt khe, công tâm và tử tế với nghề. Có lẽ, tác giả Đặng Xuân Xuyến viết về cái hay, cái dở của nhà sản xuất kiêm nhà biên kịch, diễn viên Trấn Thành hay diễn viên Tuấn Trần cũng là cách để ông gửi gắm cho cậu con trai Đặng Tuấn Hưng bài học về sự dấn thân: Nghề diễn không chỉ cần ánh hào quang, mà cần cả những giọt nước mắt thực sự và một tâm hồn biết rung động trước những nỗi đau đời thường.

 

Phía sau những nhận định sắc sảo ấy là ánh mắt dõi theo đầy tự hào và yêu thương của một người cha, mong con mình mai này cũng sẽ tạo ra những "lát cắt sự sống" chân thực như thế trên thánh đường nghệ thuật.

 

*.

 

Tác giả: Nguyễn Văn  - bình luận trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - ĐỌC LẠI "VÀI CẢM NHẬN VỀ PHIM BỐ GIÀ" CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Văn

YOUR ETERNAL NAME IN THE CHEST OF TIME - Musharraf Hussain (Goalpara, Assam, India) & Thi Lan Anh Tran (Aschaffenburg Germany)

 



YOUR ETERNAL NAME IN THE CHEST OF TIME

 

Authors:

Musharraf Hussain

(Goalpara, Assam, India)

 

Thi Lan Anh Tran (Aschaffenburg Germany)

 

Date: 06 April 2026


---

 

I feel a quiet fear when I think of you—

Like an unfamiliar star

Suddenly lit in the dusk sky,

And someone whispers—

“It belongs to you.”

 

I smile.

Because to believe

That something so beautiful

Could ever be mine—

Feels slightly absurd.

 

When you smile—

The world pauses for a moment,

And the rational man inside me

Warns softly—

“Careful! This is love.”

I reply—

“I know.”

Yet, I do not step away.

 

Love—

Is not something grand;

It is a little mad, a little childish,

And a little inconvenient—

Like rising market prices:

Illogical, yet inevitable.

 

Nature laughs at me—

The wind says, “You are finished.”

The river says, “This is the beginning.”

The trees remain silent—

For they know,

Love cannot be written in words.

 

I am an ordinary man—

Worn by daily worries,

Entangled in small struggles,

Yet you arrived—

And within me were born

A poet, a philosopher,

And a little madness.

 

Humanity—

A vast stage,

Where everyone performs their roles:

Some heroes, some villains—

And I?

Only a lover,

Searching for my true history in your eyes.

 

Time—

This cruel, indifferent time—

Devours everything,

Yet the moments spent with you

Strangely become immortal.

Is this the craft of love,

Or the defeat of time?

 

I fear—

Not death,

But that day

When even your memory will fade.

For love is not mere presence—

It is an unshaken feeling

Even in absence.

 

If one day—

The world ends,

Rivers dry,

Humans forget their names—

What will remain?

 

Perhaps—

A single word: “You”

Within which hides

My entire existence.

 

This is eternity—

A tiny seed of love

Planted in the chest of time,

Untouched even by death.

 

Do you know—

Love is never perfect,

It is a little awkward, a little ridiculous,

And a little painful—

Just like life.

 

Yet—

This is true—

If someday you ask me,

“What is the meaning of life?”

I will not answer philosophically—

I will simply say—

“You.”

 

Because

Love is the only truth—

That bends time,

Silences death,

And makes a human

Truly human.

------

Copyright © 2026, Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran. All rights reserved.

READ MORE - YOUR ETERNAL NAME IN THE CHEST OF TIME - Musharraf Hussain (Goalpara, Assam, India) & Thi Lan Anh Tran (Aschaffenburg Germany)