Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Huỳnh Văn Hoa. Show all posts
Showing posts with label Huỳnh Văn Hoa. Show all posts

Thursday, September 17, 2026

CHU VƯƠNG MIỆN VÀ THƠ VỀ XỨ QUẢNG - Huỳnh Văn Hoa



Một số tác phẩm của nhà thơ Chu Vương Miện.


Chu Vương Miện và thơ về xứ Quảng

Huỳnh Văn Hoa

 

Chu Vương Miện tên thật Nguyễn Văn Thưởng, bút hiệu khác Phương Hoa Sử, sinh năm 1941 tại làng Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An (cũ), nay thuộc thành phố Hải Phòng. Theo gia đình vào Nam năm 1954. Thuở nhỏ, học ờ trường dòng Saint Joseph. Theo bố mẹ, sống ở Thanh Chiêm (nay là xã Điện Phương, Thị xã Điện Bàn), rồi vào Dốc Sỏi (Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), đến Châu Ổ (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), học Trung học Trần Quốc Tuấn - Quảng Ngãi. Ra Đà Nẵng, học Trung học bán công Nguyễn Công Trứ, rồi chuyển ra học Trung học Nguyễn Hoàng - Quảng Trị. Chu Vương Miện gắn bó với xứ Quảng, cả thơ và đời (vợ là người quê huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Ông có thơ đăng trên các báo, tạp chí: Thời Nay, Bách Khoa, Tiền Phong, Quần Chúng, Thái Độ, Văn Học, Văn, Khởi Hành,... Ông là tác giả của các tập thơ, trường ca: Đêm đen hai mươi tuổi, thơ, 1964; Tiếng hát Việt Nam, thơ, 1965; Trường ca Việt Nam, thơ, 1967; Lời phản kháng, thơ, 1967; Phía mặt trời mọc, thơ, 1968.

 

***

 

Thơ Chu Vương Miện, như những dòng thơ cuối cùng của bài thơ Đá buồn đỉnh núi, ký bút hiệu Phương Hoa Sử[1]: Một chút nắng hắt vào hồn tê dại/ Mai anh có thành đá buồn đỉnh núi/ Chút mây chiều cũng lãng đãng bay đi.

 

Chu Vương Miện mang một ít phù sa của sông Hồng, chất tài hoa của đồng bằng Bắc bộ, cộng với chút nắng gió của sông Trà, sông Hàn, sông Thạch Hãn,... qua năm tháng, cuộn chảy thành những khúc thức thơ ca trong văn chương Việt những năm 60, 70. Sự hòa quyện đó, khiến Cao Thế Dung trong Văn học hiện đại - Thi ca và thi nhân, đánh giá khá cao về tài năng thi ca, đã viết: "Tài không đợi tuổi. Có người suốt đời làm văn nghệ để cuối cùng cũng không được một chút gì sự nghiệp. Vậy thì địa vị trong văn học không tùy thuộc vào yếu tố thời gian và kinh nghiệm... Với ý nghĩa này, chúng tôi nhận định về nhà thơ Chu Vương Miện. Ông hãy còn trẻ và trẻ lắm ... Nói một cách khác, ông là một nhà thơ có tài và trưởng thành từ một tuổi trẻ đã mất tuổi trẻ"[2].

 

Nhà thơ Luân Hoán viết về Chu Vương Miện, bạn thơ của mình, như sau: "Chu Vương Miện là dân chính cống Quảng Nam ? Không. Vậy anh từ đâu tới ? - Xin thưa, anh là con dân của đất Quỳnh Lâu, một ngôi làng nằm trong địa phận quận Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Nhưng anh lọt lòng mẹ từ cái nôi quê ngoại, thuộc làng Phục Lễ, quận Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Hai quê nội ngoại cách nhau khoảng 10 cây số đường chim bay. Với hệ thống đường sá và phương tiện giao thông thập niên 20, nhị vị tình nhân, theo tiếng gọi tình, đến với nhau, nên duyên giai ngẫu, quả là một kỳ tích, một mối tình đẹp. Có thể đôi nam thanh, nữ tú đã từng gặp gỡ, tình tự qua dòng sông Lục Đầu Giang ? Con sông phơi lòng qua hai làng. Hình như một trong hai người đã từng làm thơ, thả trôi theo dòng nước ? Lục Đầu Giang bao la, sâu cạn ra sao không cần biết. Chỉ cần đọc tên lên, nghe ra rất đỗi quần tụ anh hào. Sông Đuống, sông Hồng, sông Thái Bình... sáu nhánh cùng gặp nhau khó lòng không bát ngát. Trời nước hùng vĩ, hữu tình chưa đủ. Thủy Nguyên, Yên Hưng còn chia nhau đứng hai bên dãy núi vôi Tràng Kênh, cao vút với ngọn U Bò, nơi ngài Trần Quốc Tuấn một thời đứng điều binh đánh giặc Nguyên chạy dài. Không rõ ngày nay nắng trưa, nắng chiều có còn chiếu vào vách đá, tạo những tia phản xạ xuống lòng sông, ánh lên màu bạc óng ánh để còn được gọi là Bạch Đằng Giang?".

 

Nhìn vào những tác phẩm của Chu Vương Miện, có thể thấy có mấy dòng chính: thao thức về quê hương, đổ vỡ của tuổi trẻ, tình yêu đất và người xứ Quảng. Những tên đất, tên làng của Quảng Nam đi một cách tự nhiên vào thơ Chu Vương Miện. Những hình ảnh như Đèo Le, Trung Phước, Tiên Sa, Giao Thủy, Vu Gia, Mỹ Sơn, Tiên Phước, Trà My, Tam Kỳ, Hội An, Thu Bồn,… trở nên quen thuộc, nghĩa tình. Những địa danh xứ Quảng gắn bó, trở thành một hồn trong thơ Chu Vương Miện. Phải yêu lắm mới có những dòng thơ nghĩa tình về đất Quảng đến thế! Những nẻo đường thân thương của quê hương Quảng Nam đi vào thơ của người con đồng bằng Bắc Bộ sao đầy yêu mến và thiết tha như vậy! Trên Tạp chí Bách khoa, số 336, ngày 1-1-1971, có bài thơ “Quê người”, 38 câu, giọng da diết, dặt dìu, như mênh mang sương tỏa.

 

Từ miền Nam, viết thư gửi về ngoài Trung Việt, thăm gia đình vài người bạn thân quen, hỏi về cơn bão, quét qua trên bao mái nhà rơm rạ, nước từ biển tràn lên thành phố, ngập cánh đồng lúa con gái đang non. Hình ảnh một miền quê nghèo, với Dăm mái tôn-dăm ổ bánh mì - dăm túp lều - dăm phận người. Điệp từ "dăm" lặp lại bốn lần nhấn mạnh đến cái nghèo, cái khổ của xứ Quảng, của miền Trung:

 

Trọn mùa màng theo dòng nước về khơi

Mấy mươi năm cày sâu cuốc bẩm

Đất cằn khô sỏi đá ngô khoai

Từng giọt mồ hôi nhỏ xuống lưng người

Nhỏ trên buồn - bãi lúa nương dâu

Ngàn ân tình sao bỗng cuốn đi đâu

Mẹ đứng ngó, em cúi đầu, mặt nước sông lạnh giá

Rừng lá xanh bay từng ngày tơi tả

Trong lòng trời trên thành phố đồng sâu

Những con bò cũng bỏ xác theo nhau

Cùng vách ván, lúa mùa trôi đi hết

Mai này rưng rưng nhớ về Trung Phước

Buồn mênh mông

 

Cả đoạn thơ "buồn mênh mông" lan tỏa trong lòng người tiếp nhận. Có lẽ không có nơi nào, "đất cằn khô sỏi đá", "từng giọt mồ hôi nhỏ xuống lưng người", "nhỏ trên buồn - bãi mía nương dâu", "những con bò cũng bỏ xác theo nhau, cùng vách ván, lúa mùa trôi đi hết... như dãi đất quê hương Trung Việt. Quặn lòng với dòng thơ:

 

Mẹ đứng ngó, em cúi đầu, mặt nước sông lạnh giá ...

 

Thư viết cho miền Trung, vùng đất quanh năm bão lũ, cũng chẳng mong chút gì hy vọng:

 

Mai này bỏ thư vào nhà giây thép

Bì thư dày và nét chữ run run

Chả hy vọng gì ngoài nớ bình yên

Dăm cơn bão lại chợt về mái lá

Phố xá làng thôn một vùng biển cả

Trời chưa mưa sao lòng mắt nhạt nhòa.

                              (Quê người)

 

Gần đây, tình yêu đối với đất và người xứ Quảng trở lại với Chu Vương Miện. Trên Tạp chí Thế Kỷ 21, số 171, tháng 7-2003, có những dòng thơ trữ tình, xao xuyến:

 

“Gió từ đèo Le gió về Trung Phước/ mây từ Hoàng Sa mây kéo Sơn Chà/ ta từ Quảng Ninh ta vào Châu Rí/ làm rể Quảng Nam cát mịn Tiên Sa/ lỗi hẹn một lần không về Giao Thủy/ nát cả lòng nhìn dòng nước Vu Gia/ đây “đất học”, “vùng văn” làng cô giáo/ một cụm gồm năm ngọn núi đá hoa/ em bỏ ta đi làm dâu Hiếu Đức/ làng cổ Phong Nam dằng dặc hoa trà/ bãi bắc, bãi nam-vùng Suối Đá/ sáu tháng mùa mưa sáu tháng mùa khô/ ở thánh địa Mỹ Sơn dày tháp cổ/ em chê ta - chỉ một gã làm thơ/ Ngũ hành Sơn nhìn qua Bà Ná/ mối tình đầu xin gởi lại Faifoo/ trải ba mối tình ta về Tiên Phước/cả duyên trộn nợ ta gặp em/ Quế Trà My-Tam Kỳ từ kiếp trước/ dấu tích Hội An (vùng Đại Chiêm)/ đây Thuận Châu nhớ thương Trà Kiệu/ mối ân tình nàng công chúa nhà Trần/ xuôi Chiên Đàn nước mặn về Châu Ổ/ trải bao đời sáng giá một Huyền Trân/ em dòng dõi Lê Duy Cường-Duy Mật/ biết bao đời chống Trịnh Nguyễn Tây Sơn/ cả dòng họ bị đày vào Ngũ Quảng/ đem Lam Sơn thắp sáng nước non Chàm/ ta ngừng đó một đời không đi nữa/ từ thôn Nam Thọ nước Thu Bồn/ cả giải đất Nông Sơn nhiều quặng mỏ/ ngước nhìn lên sừng sững núi Cà Tang/ gió Thái Bình Dương lùa qua Non Nước/ mênh mang sương tỏa cù lao Chàm/ lỡ mai sau quá yêu đời ta chết;/ cũng một lần là rể đất Quảng Nam”.

 

Phải yêu lắm mới có những dòng thơ nghĩa tình về xứ Quảng đến thế ! Những địa danh quen thuộc của đất Quảng đi vào thơ của người con đồng bằng Bắc Bộ sao đầy thương mến, tha thiết như vậy !

 

Người bạn thơ của Chu Vương Miện là Phan Trước Viên (sinh năm 1939 tại xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Một người bạn nghĩa tình, vượt qua các rào cản, các trở lực lúc bấy giờ. Khi nghe tin Phan Trước Viên bị thủ tiêu, Chu Vương Miện có những bài thơ khóc bạn, thật cảm động, đăng trên Tạp chí Bách khoa. Bài thơ có tên Bài tưởng niệm, 4 khổ, 16 câu, nói về tình bạn mười năm, nay Mày nằm trong đất năm 68/ Ta mãi giang hồ khắp đó đây/ Núi đỏ rừng xanh đi khắp cả/ Sao vẫn chưa quen kiếp đọa đày ?... Khổ thơ cuối, nghẹn ngào, đau xót: Ta ở núi này trông núi nọ/ Núi nào cũng một thuở đầu xanh/ Quê hương đã rách giờ thêm nát/ Mày hãy nằm đây, giấc ngủ lành.

 

Trên Tạp chí Bách Khoa, Chu Vương Miện có nhiều bài thơ ký bút danh Phương Hoa Sử như Về khơi (Bách khoa, số 297, ngày 15-5-1969), Đá buồn đỉnh núi (Bách khoa, số 301, ngày 15-7-1969), Tình ca cuối cùng (Bách khoa, số 318, 1-4-1970), Tình ca (Bách khoa, số 320, ngày 1-05-1970), Hữu ngạn (Bách khoa, số 325, ngày 15-07-1970). Những bài thơ ký bút hiệu Phương Hoa Sử... vẫn là niềm thương nỗi nhớ về quê hương, về xứ bắc, về những chân cầu sóng vỗ trong thơ, trong đời, về:  

 

Mai mình xa nhau như sóng chân đèo

Lòng heo hút từng vùng mây dang dở

Trời tháng giêng sao thoáng buồn như thế !

                                   (Tình ca cuối cùng)

 

Trước sau, thơ Chu Vương Miện vẫn là tiếng nói trữ tình, tha thiết về tình quê, tình người, về xứ Quảng bão giông, nghèo khó, ân nghĩa:

 

- Mai này rưng rưng nhớ về Trung Phước

Buồn mênh mông

Hỡi người tôi yêu còn dạy học trò ở Hiếu Nhơn, Hiếu Đức ...

 

 

- Dăm cơn bão lại chợt về mái lá

Phố xá làng thôn một vùng biển cả

Trời chưa mưa sao lòng mắt nhạt nhòa.

                                          (Quê người)

 Huỳnh Văn Hoa

                                                    hvhoadn@gmail.com

 

[1] Bài đăng trên tạp chí Bách Khoa, số 301, ngày 15-07-1969. 

[2] Cao Thế Dung, Văn học hiện đại - Thi ca và thi nhân, NXB Quần Chúng, Sài Gòn, 1969, trang 353, 354.

&&&

Bài đăng trên Trang Thông tin Điện tử Tổng hợp VĂN NGHỆ ĐÀ NẴNG ngày 6/8/2025.

https://www.vannghedanang.org.vn/chu-vuong-mien-va-tho-ve-xu-quang-12728.html


READ MORE - CHU VƯƠNG MIỆN VÀ THƠ VỀ XỨ QUẢNG - Huỳnh Văn Hoa

Sunday, November 18, 2012

NHỮNG VẦN THƠ "NGƯỜI CHÈO ĐÒ" THẦM LẶNG – Huỳnh Văn Hoa

Tác giả HUỲNH VĂN HOA - nguyên Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo  TP Đà Nẵng


     Ở thơ ca hiện đại Việt Nam, ngoài hình tượng người mẹ, người lính, thì người thầy được đề cập nhiều hơn cả. Điều này không lạ đối với truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc ta. Nếu lập được thống kê, chắc sẽ đến hàng nghìn bài thơ như thế. Chỉ riêng mùa nhớ ơn thầy cô 20/11 hằng năm, trên những trang báo học trò, đã thấy bao lời hay ý đẹp viết về " người gặp hàng ngày " trên bục giảng này.

    Tiếc rằng cho đến nay, khi nhiều tuyển tập thơ ca ra đời, từ tuyển tập thơ tình, tuyển thơ tác giả, tuyển thơ nước ngoài, đến tuyển tập thơ thế kỷ, vẫn thiếu vắng một tuyển thơ đầy đặn và có chất lượng về người thầy.

    Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam, ta thử đi một vòng qua vườn hoa khá nhiều hương sắc của mảng thơ viết về thầy, cô giáo.

***

    Người thầy đầu tiên của mỗi con người là những cô mẫu giáo. Thơ viết về các cô thường hồn nhiên. Có lẽ do chi phối bởi đối tượng giảng dạy.

    Khánh Chi trong tập Gửi gió về cho nội, có hai bài thơ viết về cô giáo. Cô giáo em là bài thơ viết theo thể tự do với nhiều so sánh lạ. Cô học trò nhỏ làm thơ này đã lấy các thời khắc của một ngày : buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối, để qua đó, nói lên những suy nghĩ đẹp đẽ về cô. Cô là buổi sáng khi ánh mai chưa lên, nhìn vào mắt cô, em thấy em, thấy các bạn. Buổi chiều, đó là bàn tay phấn trắng như người gieo hạt. Và, trong buổi tối, trong giấc mơ, em thấy cô đi ra trong chiếc bông sen đẹp, cô hiền như lá lúa tháng ba. Bài thơ Khánh Chi viết năm lên 9 tuổi. Ý tứ tinh tươm, mới mẻ.

    Ở một góc độ khác, cũng viết về cô mẫu giáo, Vũ Quần Phương thiên trọng về phía công ơn dạy dỗ. Cô hát, cô dạy, cô thức, cô ru ... Trong bài Trường con, nhà thơ như hoá thân vào thế giới trẻ con để viết. Nơi thế giới ấy, có bàn ghế bé lại như con, có chữ C :  trăng khuyết, chữ O : tròn, có mái trường trong phố như nôi nhỏ, có làn môi chóp chép, nét mi thưa. Thông qua những hình ảnh thân quen đó, nhà thơ  thổi vào ước vọng và tình yêu rộng lớn về quê hương, đất nước. Từ đỉnh núi, dòng sông, khúc hát, đêm trăng đến Tổ quốc, cuộc đời,… như không còn khoảng cách nữa, cả đến những suy nghĩ lớn lao, cao cả :

        Cô dắt con đi giữa phố đông
        Tưởng như dắt mãi đến không cùng
        Mai sau bay giữa vòm tinh tú
        Cô vẫn cầm tay, con biết không ?

    Trần Quốc Toàn lại nghĩ và thương cô mẫu giáo, người luôn muốn tạo niềm vui cho học trò, nên gấp giấy thành chim, thành thuyền, nhặt những quả thông, quả chò, về làm con nhím, con thỏ, để dạy bao người lớn lên.

***

     Thường thơ viết về người thầy là những hồi ức trong trẻo, sáng đẹp. Điều này cũng dễ hiểu. Tuổi trẻ gắn bó với trường lớp, thầy bạn, chưa hoen lấm cát bụi đời thường, tâm hồn còn trong trắng; vì thế, khi nhớ về ngày xưa, kỷ niệm bao giờ cũng lung linh, kỳ diệu. Ngô Văn Phú quay trở lại Tuổi học trò, nhớ về ngôi trường ở thị xã trung du. Nơi ấy, một thời, dăm cậu học trò nghèo, ăn cơm độn, canh rau, mơ làm thi sĩ :

        Tuổi học trò của thị xã trung du
        Hàng long não ủ hương vào trang vở
        Sông Thao chảy như tâm hồn tuổi trẻ
        Cứ đi hoài, không tính phút dừng chân…

    Sông Thao, những quả đồi Phú Thọ, gió Bến Đoan, trăng Trù Mật đã nuôi dưỡng tâm hồn một thế hệ. Và, nơi ấy, có người thầy giáo già, mái tóc bạc bao năm rồi, chưa hết lo toan, vẫn cứ nhớ hoài.
       
    Có người đã ví người thầy giáo như kẻ đưa đò, hết chuyến này đến chuyến khác.  Đành vậy. Có điều trên con đò - tri thức đó, khi cập bến, kẻ ở người đi khó quên nhau. Trong hoài niệm của mỗi người, nơi góc trái tim, chúng ta nhớ về thầy, cô cũ với bao tình cảm đậm đà, sâu nặng. Lớn lên, ta hiểu ra bao điều lớn lao từ lời giảng ngày xưa :
   
        Thầy đã giáng cho con về đất nước, nhân dân
        Để lúc mặc lành không quên người áo vá
        Ăn miếng ngon nhớ bàn tay người trồng khoai, dỡ củ
        Câu ca dao đau đáu một thời ...
                                 (Phạm Khoa Văn - Thăm thầy giáo cũ)

    Trong những năm đạn lửa Trường Sơn, mùa thu - khai trường, vẫn nôn nao nhớ về tiếng trống, nhớ về người thầy, người cô. Trong bài thơ Chẳng thế nào nói hết được đâu, người học trò làm thơ Nguyễn Văn Thắng của vùng chiêm trũng Nam Hà, cứ thương nhớ mãi bóng hình người cô giáo năm xưa, giã từ miền quê quan họ : Nơi con sông Cầu bên bồi bên lở - Con sông Thương nghe tiếng hát giao duyên đến với vùng chiêm lầy lội, rồi những ngày sơ tán, những bữa cơm sắn độn khoai. Chiến tranh, người học trò lên đường. Trong cái ác liệt của đạn bom, vẫn nhớ, vẫn ghi :

        Chúng em đi đánh giặc ở Trường Sơn
        Mang lời cô thắp sáng rừng lá đỏ ....
        Em nghĩ về cô như nghĩ về quê hương thân thuộc
        Chẳng thế nào nói hết được đâu

    Một khía cạnh khác, Nguyễn Đình Ảnh ghi lại những xúc cảm khi nhận được thư thầy cũ. Ba mươi năm là quãng thời gian không ngắn trong đời mỗi người. Vậy mà, suốt chiều dài đằng đẳng ấy, thầy giáo ngày nào vẫn dõi theo từng bước đường của người học trò. Bài thơ có những dòng trĩu nặng yêu thương :

        Ba mươi hai năm chưa gặp lại lần nào
        Bỗng hôm nay nhận được thư thầy gửi ...
        Đọc xong rồi cứ cầm mãi trong tay
        Phong thư nhỏ của người thầy giáo cũ
        Ngỡ còn ấm trên từng nét chữ
        Tấm lòng thầy qua bao tháng, năm
                                           (Đọc thư thầy)

***

    Sẽ thiếu sót, nếu không nhìn thấy một mảng thơ do chính những người cầm phấn sáng tạo. Và, tưởng như có điều nghịch lý chăng, khi người thầy quay về với bao học trò của mình, cũng sâu nặng, ấm áp nghĩa tình. Qua nhiều năm giảng dạy    , tiếp xúc với bao lứa học trò, gặp những cảnh đời éo le, bất hạnh, người thầy sẻ chia vui buồn, mất mát như chính những người thân mình vậy. Một người cha ra đi, không về. Một người mẹ bao năm cách mặt. Nỗi đời hiu quạnh như cứ dào lên trong lòng thầy những thương cảm khôn nguôi :

        Đã bao lần thầy lau kính
        Mà mắt vẫn cứ nhoà đi
        Các em viết về nỗi đau tử biệt
        Các em kể về nỗi khổ sinh ly ...
                                 (Đặng Hiển - Đọc hồi ức tuổi thơ học trò)

    Đặng Hiển là nhà giáo, làm thơ, quê Nam Định, sống và công tác tại Hà Tây (cũ). Bài Viếng thầy nói lên tình cảm, tấm lòng của người học trò, kính trọng thầy:

        Bài thơ con mới viết
        Chưa kịp dâng thầy xem

    Vậy mà, thầy đã ra đi, bùi ngùi thương tiếc, với “Hương khói trào nước mắt/ Lệ nến giọt vắn dài”, mong “Cúi xin thầy tha tội/ Sự đời lệ chảy xuôi”.     

    Lê Huy Hoà cho ta nhận diện chân dung một người học trò. Người học trò ấy giã từ tán bàng xanh, sân trường nắng ngập, tiếng ve mùa hè, theo tiếng gọi của Rẻo đất biên cương trầm mặc cánh rừng già. Trở lại trường xưa với cánh tay gửi lại chiến trường: Lặng lẽ ở dãy bàn cuối lớp, áo quân nhân, một tay áo buông chùng. Nhưng từ nay, lớp học ấm cúng hơn, em hoá thành tấm gương soi cả lớp. Và, đối với người thầy cũng thế :

        Lời tôi giảng thật hơn khi tôi nói đến ước mơ
        Khi mắt tôi dừng lại ở tay áo buông chùng của em -
                                                                      người học trò ấy
        Niềm tin yêu lớn dậy
        Những chân trời sau nét phấn xôn xao…                   
                                                 (Người học trò ấy)

    Trần Đăng Khoa có một bài thơ viết về người thầy giáo thương binh rất cảm động. Năm ấy, chiến tranh đến. Một buổi sáng bom dội, cây phượng già đổ ngổn ngang, ngôi trường thân yêu tốc mái, chiếc bảng đen lỗ chỗ dấu bom, người thầy cầm súng ra đi. Năm sau, thầy trở về, một bàn chân không còn nữa. Bàn chân thầy gửi lại nơi đâu, Khe Sanh, Tây Ninh, Đồng Tháp, học trò thơ trẻ không biết. Nhưng điều rõ ràng, sâu xa nhất, những chiều giá buốt, những đêm mưa dầm, dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo :

        Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo
        Như nhận ra cái gì chưa hoàn hảo
        Của cả cuộc đời mình ...
        Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất
        Vẫn dắt chúng em đi trọn vẹn cuộc đời
                                    (Bàn chân thầy giáo)

    Hữu Thỉnh có một bài thơ khá hay viết về người thầy, có tên Thưa thầy. Hình tượng chiếc thước kẻ, vật quen thuộc của người đi dạy như vẽ ra con đường cho người học trò vin vào đấy, bước qua cay đắng cuộc đời, đứng lên trước mọi vấp ngã, đi tới tương lai, vững tin:

        Đã vấp ngã
                thưa thầy
                    nhiều vấp ngã
        Chẳng đâu xa, ở ngay giữa con người
        Em bước đi lặng lẽ nghĩ về thầy
        Đời mau quá, vui buồn chưa kịp cũ

    Trong nghĩ suy của người học trò, với thầy, đó là nơi gửi gắm của niềm tin, chốn đi về sau bao thất bại, là bông hoa cho thơm mát bình yên, là ngọn suối tan đi nhọc nhằn. Bao giờ cũng vậy, ngồi bên thầy, chúng ta trở thành bé bỏng, như đứa con bên cạnh mẹ hiền. Thương thầy, qua thời gian, tóc bạc dần. Trang giáo án mỏng manh không chịu nổi những bão giật của đời thường:

        Cây trước cửa, gió ở ngoài trang vở
        Thầy một mình vật vã với văn chương
        …
        Đang mưa bão đường về sông nước ngập
        Giở trang Kiều thầy giảng chạnh lòng đau.
               
    Thầy giáo, như có người so sánh, là cành hoa đào ngày xuân, tự cháy đỏ đời mình để cho mùa xuân rực rỡ. Bao thế hệ qua đi, trên bến sông xưa, người thầy kính yêu của chúng ta vẫn còn đứng đó, cần mẫn dìu dắt bao lớp học trò :

        Con tằm rút ruột mang tơ óng
        Cây được vun trồng nở rộ hoa
                                   (Bài xướng - Doãn Mậu Côn)

                       
                            HUỲNH VĂN HOA         
READ MORE - NHỮNG VẦN THƠ "NGƯỜI CHÈO ĐÒ" THẦM LẶNG – Huỳnh Văn Hoa

Tuesday, November 13, 2012

Đến với bài thơ hay: MÙA THU – HOA CÚC - CỔNG TRƯỜNG (Đỗ Trung Quân) - Huỳnh Văn Hoa

Tác giả HUỲNH VĂN HOA - nguyên Giám đốc Sở Giáo dục - Đào Tạo TP Đà Nẵng



MÙA THU – HOA CÚC - CỔNG TRƯỜNG


Anh đứng hân hoan bên hè phố
Nhìn các em bé nhỏ đến trường
Mùa thu... mùa thu… hoa cúc nở
Phải chăng mà cặp sách thơm hương?

Thu ở phố phường thu không lạnh
Heo may ngọn gió trốn nơi nào
Lá me rụng xuống đường đi học
Lòng anh bất chợt cũng xôn xao

Lòng anh rủ hết mười phương bụi
Áo lại tinh khôi tuổi học trò
Nhưng nay quá tuổi đi vào lớp
Anh thành chú bé đứng buồn xo

Không lên bục giảng làm Thầy giáo
Thì đứng làm cây phượng góc trường
Già cỗi nhưng còn xoè bóng mát
Che cho hoa cúc chẳng phai hương

Sáng nay anh đứng trên hè phố
Ngoan ngoãn và lòng như nắng mai
Sáng nay thèm thuốc mà không đốt
Khói thuốc cổng trường - không được bay…


Đỗ Trung Quân


Có nhiều bài thơ viết về ngày khai trường, song, trong số đó, Mùa thu-Hoa cúc-Cổng trường của Đỗ Trung Quân là bài thơ được nhiều người yêu thích nhất. Điều làm cho người đọc đến với bài thơ, trước tiên là sự trong trẻo của tâm hồn gã học trò trở về với mùa thu, với hoa cúc và sân trường mỗi khi bắt đầu một năm học mới.

Độ vào thu, khi trời trong, ít gợn mây, nói như Hữu Thỉnh: “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”, khi mà cái nắng nóng của mùa hè dần lui, thì cũng là lúc tựu trường. Thanh Tịnh đã tả rất hay cảnh sắc này: “ Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường “.

Bài thơ của Đỗ Trung Quân có hai nhân vật: nhân vật thứ nhất-tác giả-cậu học trò ngày cũ trở về “đứng làm cây phượng góc trường“ và nhân vật thứ hai-“các em bé nhỏ đến trường“ . Hình ảnh các em là hình ảnh thu nhỏ của nhà thơ, của năm tháng thiếu thời, cắp sách đến trường, vì vậy, mới có cái cảm giác “hân hoan bên hè phố”, ngắm mùa thu hoa cúc, mới nghe mùi “cặp sách thơm hương”, mới thấy lòng chùng xuống và “bất chợt xôn xao”.

Chút u hoài, chút nhung nhớ, sâu lắng như nỗi niềm day dứt của hoa cúc ngày thu và bâng khuâng như Tế Hanh viết: “Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa”. Tại sao tựu trường lại gây nên những cảm giác đó, ấy là vì không ai không bước qua ngưỡng cửa của trường học, không ai không có cảm giác ngày đầu tiên đến lớp, rời tay mẹ, đến với thế giới rộng mở phia trước.

Nhìn các em nhỏ đến trường, lòng tác giả bỗng trào dâng xao xuyến. Và, cũng từ đây, khi một khoảng trời mới mở ra, đồng hành với nó, những gì thơ dại cũng dần mất đi.  

Tựu trường của phố thị không có cái se lạnh của mùa thu, ngọn gió heo may của những năm nào như trốn đi nơi đâu ! Một chút lạnh, một chút gió mơ hồ qua tâm tưởng ! Ở đây, phương nam nắng gió, lá me bay bay, rụng đầy các ngã phố, khiến lòng cũng nao nao !

Đại từ “anh” rất thân mật, tha thiết, hiện diện ở mọi khổ thơ. Nó như lời tâm tình, nhắn gửi. Có hai câu thơ thật hay và chân thành:

Lòng anh rủ hêt mười phương bụi
Áo lại tinh khôi tuổi học trò…

Quay về thuở ấu thơ, giũ đi những bụi đường, gác lại những hệ luỵ cuộc đời, với tâm hồn trắng trong như màu áo tinh khôi của tuổi học trò, nhà thơ thành chú bé vừa nhớ ngày hôm qua vừa thương ngày hôm nay.

Không được vào lớp học, không được lên bục giảng làm thầy giáo, tác giả tự nguyện “làm cây phượng góc trường”, “già cỗi nhưng còn xoè bóng mát/ che cho hoa cúc chẳng phai hương”. Sao nhà thơ-gã học trò ngày xưa-muốn làm cây phượng góc trường, à, thì ra, ngày ấy, gã học trò cũng là gã làm thơ, từng thương nhớ:

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu ?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng-mối tình đầu…

Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
Mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ lên cây
Người con gái mùa sau biết có còn gặp lại
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay …

(Chút tình đầu)

Thanh Tịnh là người phát hiện ra “một mùi hương lạ xông lên trong lớp” của ngày đầu tiên đến trường. Mùi ấy đi theo suốt bao năm tháng của đời người, nhất là mỗi khi đến mùa tựu trường. Đỗ Trung Quân là nhà thơ của “mùa thu-hoa cúc-cổng trường”, lòng như nắng mai, đứng bên hè phố, xôn xao “nhìn các em bé nhỏ đến trường”, nhớ về thuở áo trắng với bao bồi hồi, tiếc nhớ khôn nguôi !


Đà Nẵng, tháng 8 năm 2011

HUỲNH VĂN HOA 


Nguồn: Trang Tri Âm Các của Võ Văn Hoa   
READ MORE - Đến với bài thơ hay: MÙA THU – HOA CÚC - CỔNG TRƯỜNG (Đỗ Trung Quân) - Huỳnh Văn Hoa