Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, November 27, 2021

QUAY VỀ - Nhạc và lời: Nguyễn Tâm Hàn - Giọng ca: Hà Thanh





Quay về


Nguyễn Tâm Hàn

 (Chép từ hopamviet.vn.)


1. Dòng [Em] người [B7] như nước [D] lũ
Kéo [B7] nhau [C] lầm lũi quay [Em] về
Nhớ ngày nao bước [Am] đi
Chôn lòng đau rời [D] quê dấu [G] yêu.

Mộng [C] đời thoát trầm luân
Nhưng khốn cùng [Em] vẫn không [B7] rời
Thôi [Am] đành [C] dẫu đói [B7] no
Tìm bình [Am] yên giữa [C] nơi [B7] thôn [Em] làng.

ĐK:
[Em] Tha [C] hương [B7] nổi [Em] trôi
Đời [G] sống quá khốn [Em] khó
Nhưng lòng [B7] cố vượt [Am] bao cam [D] go
Mong ngày [Am] sau thoát qua cơ [B7] hàn
Thay quãng đời chỉ ngô [Am] khoai
Vui tháng [Em] ngày được no [B7] ấm cơ [Em] ngơi.

2. Nào [Em] ngờ [B7] như cơn [D] lốc
Bỗng [B7] nhiên [C] từ phương [Em] nào
Dịch bệnh lan khắp [Am] nơi
Giết người nhanh tưởng [D] trong giấc [G] mơ.

Đành [C] lòng biết gì hơn
No đói tìm [Em] lối quay [B7] về
Bước [Am] đời [C] thêm tái [B7] tê
Cuộc phù [Am] sinh khác [C] chi [B7] bọt [Em] bèo.




READ MORE - QUAY VỀ - Nhạc và lời: Nguyễn Tâm Hàn - Giọng ca: Hà Thanh

VÌ SAO GỌI LÀ “MƯA NGÂU”, “ÔNG NGÂU BÀ NGÂU” MÀ KHÔNG GỌI THEO CÁCH KHÁC? - Phiếm luận của La Thụy



Hôm nọ, anh em khi trà dư tửu hậu có người thắc mắc vì sao gọi là “mưa ngâu”, vì sao gọi là gọi là “ông ngâu bà ngâu”. Tất nhiên, truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ được đưa ra để giải thích. Người thắc mắc lại hỏi vậy sao không gọi là “mưa ngưu”, “ông ngưu bà ngưu”. Một ông bạn cho rằng “ngâu” là cách đọc chệch chữ Ngưu. Thế là một ông bạn khác cười chế nhạo: “mưa ngưu” là “mưa trâu” “ông ngưu bà ngưu” là “ông trâu bà trâu” à !?!  Vì sao có sự đọc chệch như thế ? Mà vì sao không đọc chệch theo cách khác đi ?

Ông bạn khác lại cho rằng:
Gọi là “mưa ngâu”, “ông Ngâu bà Ngâu” vì loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ từ xa xưa. Hoa ngâu mang ý nghĩa về một tình yêu thủy chung, với khát vọng tự do trong tình yêu.  Nhưng ông bạn lại không nêu được sự liên quan giữa Ngưu Lang Chức Nữ và hoa ngâu như thế nào trong truyền thuyết.


Tôi nghĩ ông bà của ta xưa gọi là “mưa ngâu”, “ông ngâu bà ngâu” chắc có lý do, mình thử tra tìm tiếng “NGÂU” trong chữ Nôm (chữ viết của ông bà ta hồi xưa) xem sao! Chữ Nôm vốn mượn âm và chữ của Hán Tự mà, nên chắc chắn có liên quan về cách viết, cách đọc thôi.

Vì thế, tôi mới mầy mò tra từ điển Hán Nôm mới biết chữ Nôm có tới 6 cách viết chữ Ngâu. Đó là âm đọc chữ Hán “ngưu” (trâu); kế tiếp là các chữ “ngưu” bộ mộc, bộ thảo; chữ “ngô” bộ mộc, bộ thảo; chữ “ngao” bộ mộc.

(Ảnh chụp một phần trang của quyển từ điển Hán Nôm của Vũ Văn Kính)

Xét 6 cách viết tiếng NGÂU theo tự dạng chữ Nôm, ta có:
 
1/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu”   
NGƯU   chữ  Hán, còn có nghĩa là con bò, là sao Ngưu hay là họ Ngưu.
Trong truyện kiếm hiệp ‘Lục Tiểu Phụng’ của Cổ Long có nhân vật Ngưu Nhục Thang nghĩa nôm na là ‘canh thịt bò’. Người ta gọi con trâu là thủy ngưu để phân biệt với con bò là hoàng ngưu

2/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu” có bộ thảo  䒜 : hoa ngâu.     
   
3/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngô” có bộ thảo   : hoa ngâu.   
      
4/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngô” có bộ mộc  𫉎 : hoa ngâu.

5/  NGÂU là  âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngưu” có bộ mộc: Hoa ngâu

(Mời xem ảnh chụp một phần trang của quyển từ điển Hán Nôm của Vũ Văn Kính)

Hoa ngâu còn có tên là “mộc ngưu” ( )     
                        
6/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngao” có bộ mộc: Hoa ngâu

(Mời xem ảnh chụp một phần trang của quyển từ điển Hán Nôm của Vũ Văn Kính)
       
* Ta thấy “vợ chồng Ngâu”, “mưa ngâu” đều viết bằng tự dạng chữ Nôm là  牛 (âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu”)
- Riêng “hoa ngâu” đều được viết với âm Nôm có 5 tự dạng chữ Hán khác nhau: “ngưu” bộ mộc, chữ “ngưu” bộ thảo; chữ “ngô” bộ mộc, chữ “ngô” bộ thảo; chữ “ngao” bộ mộc
(Bộ thảo, bộ mộc dùng để chỉ về cây cỏ, nên viết về hoa ngâu là đúng quá)
 
* Thế thì tại sao NGÂU trong tự dạng chữ Nôm không có cách viết với chữ “ngưu” với bộ thủy (để có thể chỉ cơn mưa ngâu)?
 
Theo tôi nghĩ, đơn giản “mưa ngâu” có nghĩa là “mưa của vợ chồng ngâu”. Mưa rơi bắt nguồn truyền thuyết những giọt nước  mắt của “ông Ngâu bà Ngâu” rơi. Loại mưa này phụ thuộc về nhân vật trong truyền thuyết nên chữ viết phải theo tên nhân vật thôi. Và, Hán tự đã sẵn có chữ 水牛 (thủy ngưu) có nghĩa là con trâu (trâu nước), để phân biệt với hoàng ngưu là con bò.
Đã có chữ thủy ngưu là con trâu rồi thì mưa ngâu (‘chữ ngưu có bộ thủy’ làm chi có chỗ chen chân vào đây được!) khác với hoa ngâu viết với chữ ngưu” bộ mộc, hơn nữa hoa ngâu có tên Hán Việt là mộc ngưu

*
Như thế, xét theo chữ Nôm thì “NGÂU” trong các từ ngữ “mưa ngâu” và “ông Ngâu bà Ngâu” là do nói theo âm Nôm của từ Hán “ngưu” về nhân vật “Ngưu Lang”, 1 trong 2 nhân vật chính trong truyền thuyết Ngưu Lang - Chức Nữ. Hầu như ai cũng biết về truyền thuyết này - một chuyện tình cổ tích, trong đó, ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm là ngày họ gặp nhau (qua chiếc cầu Ô thước - do đàn quạ nối đuôi nhau tạo thành chiếc cầu cho 2 người đến với nhau). Thật ra, Ngưu Lang (牛郎) và Chức Nữ (織女) không phải là họ tên (họ Ngưu, họ Chức; tên Lang, tên Nữ; cho dù trong xã hội có 2 họ này) mà là cách gọi căn cứ vào nghề nghiệp của họ. Ngưu Lang là chàng trai chăn trâu; Chức Nữ là cô gái dệt vải.

Nên, không phải như sự chế nhạo của ông bạn kia, “mưa ngưu” là “mưa trâu”“ông ngưu bà ngưu” là “ông trâu bà trâu”. Vì Ngưu Lang là chàng chăn trâu (chứ không phải là “chàng trâu”) nên “ông ngâu bà ngâu” là ông bà nhà chăn trâu (chứ không phải là “ông trâu bà trâu”), “vợ chồng Ngâu” là “vợ chồng nhà Ngưu Lang”
 

MƯA NGÂU là một loại mưa xuất hiện vào đầu tháng 7 Âm lịch ở Việt Nam hàng năm. Trong dân gian Việt Nam có câu tục ngữ: “vào mùng 3, ra mùng 7”, nghĩa là mưa sẽ có vào các ngày mùng 3 đến mùng 7; 13 đến 17 và 23 đến 27 âm lịch. Các cơn mưa thường không liên tục, rả rích, do vậy mới có cụm từ “trời mưa sụt sùi” để chỉ mưa ngâu.
 
Theo truyền thuyết thì Ngưu Lang và Chức Nữ chỉ gặp nhau một năm một lần vào ngày 7 tháng 7 Âm lịch. Vào ngày ấy, bao giờ cũng mưa dầm dề, đó là nước mắt của cả Ngưu Lang lẫn Chức Nữ, sau khi hàn huyên tâm sự, họ lại khóc cho nên các cơn mưa mới không liên tục, lúc mưa, lúc tạnh. Nước mắt của họ rơi xuống trần gian hoá thành cơn mưa, đó chính là “mưa Ngâu”. Do vậy, người ta còn gọi Ngưu Lang Chức Nữ là “ông Ngâu bà Ngâu”.
 
Với lời giải thích: Gọi là “mưa ngâu”, “ông Ngâu bà Ngâu” vì loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ từ xa xưa. Hoa ngâu mang ý nghĩa về một tình yêu thủy chung, với khát vọng tự do trong tình yêu. 
 
Tôi đã ra sức tìm trên mạng internet, tra cứu sách vở, thấy có lời giải thích giống như thế. Nội dung như sau:
“Hoa ngâu mang ý nghĩa về một tình yêu thủy chung, với khát vọng tự do trong tình yêu. Loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ từ xa xưa. Là biểu tượng của một tình yêu chân thành, vĩnh hằng hoa ngâu khiến người ta khó có thể quên.”

Tuy nhiên, tôi hoàn toàn chưa thấy tình tiết cụ thể nào cho biết loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình yêu chung thủy của Ngưu Lang – Chức Nữ cả. Ví dụ như giọt nước mắt của ông bà Ngâu thấm vào đất làm mọc lên loài hoa ngâu chẳng hạn...

Tra cứu tự dạng chữ Nôm về hoa ngâu, thì có 2 cách viết chữ NGÂU có gốc Hán tự là “ngưu”. Đó là NGÂU có chữ “ngưu” bộ mộc  NGÂU có chữ “ngưu” bộ thảo. Không rõ với tự dạng hai chữ Nôm này thì hoa ngâu có liên quan với Ngưu Lang Chức Nữ thế nào?



TÓM LẠI:
 
Những giọt nước mắt của Ngưu Lang - Chức Nữ rơi xuống trần thế trong đêm Thất Tịch ấy, dân gian chúng ta gọi là mưa Ngâu.
NGÂU trong cụm từ “ông Ngâu bà Ngâu”, “mưa ngâu” được viết theo tự dạng chữ nôm là   như NGƯU của Hán tự, Tiếng NGÂU này chính là nói theo âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu”  牛 của nhân vật Ngưu Lang (牛郎) mà ra.
Vì “mưa ngâu” có nghĩa là “mưa của vợ chồng ngâu”. Mưa rơi bắt nguồn truyền thuyết những giọt nước mắt của “ông Ngâu bà Ngâu” rơi. Loại mưa này phụ thuộc về nhân vật trong truyền thuyết nên chữ viết phải theo tên nhân vật thôi. Các cơn mưa ngâu thường là loại mưa nhỏ nhưng rả rích suốt trong vài ngày.



Mưa Ngâu đã đi vào thơ ca, âm nhạc Việt Nam với hình ảnh đẹp và buồn. Mưa Ngâu có trong ca dao Việt Nam như:
 
Tục truyền tháng bảy mưa ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền
...Tháng sáu lo chửa kịp tiền
Bước sang tháng bảy lại liền mưa Ngâu
Tháng bảy là tháng mưa Ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu...

Tháng năm tháng sáu mưa dài
Bước sang tháng bảy tiết trời mưa Ngâu
Nhớ ai như vợ chồng Ngâu
Một năm mới gặp mặt nhau một lần.
                                           (Ca dao)
 
Nhà thơ Trần Tế Xương có bài “Mưa tháng bảy” được làm theo thể thất ngôn bát cú:
 
Sang tuần tháng bảy tiết mưa ngâu
Nắng mãi thì mưa cũng phải lâu.
Vạc nọ cầm canh thay trống mõ,
Rồng kia phun nước tưới hoa màu.
Ỳ ào tiếng học nghe không rõ
Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu.
Ông lão nhà quê tang tảng dậy
Bảo con mang đó chớ mang gầu.

Hay bài thơ song thất lục bát “Vợ chồng ngâu”
 
Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.

Một là duyên, hai thời là nợ,
Sợi xích thằng ai gỡ cho ra?
Vụng về cũng thể cung nga,
Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.
Hay là sợ muộn chồng chăng tá?
Hơi đâu mà kén cá chọn canh!
Lấy ai, ai lấy cũng đành,
Rể trời đâu cả đến anh áo buồm.
                          Trần Tế Xương

  Nhà thơ Lưu Trọng Lư từng viết:
 
“Đây là dải ngân hà
Anh là chim Ô Thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Mỗi đêm một lần qua”

Trong tân nhạc, nhạc sĩ Lam Phương cũng mượn câu chuyện này để viết ca khúc “Thu Sầu”, ông viết “Người từ nghìn dặm về mang nỗi sầu, nhịp cầu Ô Thước tìm đến mai sau...”

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong cũng nhắc tới “mưa ngâu” trong nhạc phẩm nổi tiếng “Giọt mưa thu”:
“Đến bao năm nữa trời, vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu...”
Mưa Ngâu cũng đã được lấy làm tên cho một bài hát của nhạc sĩ Thanh Tùng, bài Mưa Ngâu“...giọt mưa Ngâu hay là nước mắt ai nhớ nhau...”
 
Cũng giống như ngày lễ Valentine của Phương Tây, ngày thất tịch (mồng 7 tháng 7) cũng là ngày dành cho những người yêu nhau ở một số nước Á Đông


Tuy nhiên, đi kèm theo đó là nhiều lễ hội mang ý nghĩa tâm linh nhiều hơn. Ngày này tại Việt Nam được gọi là ngày “ông Ngâu bà Ngâu”.
Đêm Thất tịch, chòm sao Chức Nữ sẽ sáng vô cùng và người ta tin rằng hai người yêu nhau nếu cùng ngắm sao Ngưu Lang-Chức Nữ trong đêm 7/7 âm lịch thì sẽ mãi ở bên nhau.
Thông tin trên báo Thanh Niên cho biết, ngày 7/7 âm lịch hàng năm tại các nước Châu Á được chọn làm ngày Tình Yêu.
Tại Trung Quốc, ngày này được gọi là Lễ hội Qixi, Nhật Bản có Tanabata, Lễ hội Chilseok ở Hàn Quốc thì khi du nhập vào Việt Nam nó thành Ngày Thất tịch.
 
Mùa dịch Covid, suốt ngày chỉ ngồi bó gối ở nhà vì hạn chế ra đường, đi lại. “Rảnh rổi sinh nông nổi”, nên tôi viết lếu láo đôi dòng lạm bàn, nếu có gì sai sót xin quý bác bỏ qua.
 
La Thụy 

READ MORE - VÌ SAO GỌI LÀ “MƯA NGÂU”, “ÔNG NGÂU BÀ NGÂU” MÀ KHÔNG GỌI THEO CÁCH KHÁC? - Phiếm luận của La Thụy

ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI - Hồ Sĩ Khang

 


ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI

 Hồ Sĩ Khang


        Những ngày này, trên facebook của một “ông lão rất thân’’ 78 tuổi , tôi thấy xuất hiện nhiều bài thơ. Các bài này, ông đã tự mình ngồi gõ lại trên máy tính. Tôi cũng đã phát hiện một lỗi chính tả trong khi đọc, và kín đáo nhắc ông.

 Đó là những bài thơ của em trai ông làm cách đây lâu lắm rồi.

 Trong tập thơ của người em, ông đã tự mình lựa ra và lần lượt chép lại.

Hình ảnh một ông lão cặm cụi gõ chữ như “mổ cò”, chậm chạp từng dòng một mới thấy thương cảm làm sao!

Lần trước mỗi lần nhớ em, ông chỉ đăng những tấm hình thôi.

Nhưng lần này, tự nhiên thấy ông lần mò ngồi gõ lại. Tôi linh cảm một điều gì đó.

Và chăm chú xem mấy câu thơ mở đầu:                                       

      “Có một đêm

       Giữa mùa quỳ vàng Đalat    

       Tôi thức giấc giữa khuya sâu                                        

       Và bỗng nhiên              

       Tôi nghĩ đến cái chết của mình…”

       

Tự nhiên khi đọc đến đây, tôi nghẹn lại. Chung quanh tôi, không gian như chùng xuống. Có một cảm giác rất lạ trong tôi.

Những bài thơ này, em trai ông: anh Đỗ Tư Nghĩa sáng tác năm 1983, nhưng cũng có bài làm từ năm 1972.

Tôi cũng không nhớ đây là lần thứ mấy, tôi đọc tập thơ này. Vì cứ mỗi lần đọc, tôi lại bị các câu chữ trong thơ anh níu chặt tâm hồn.

Hương vị của Triết học phảng phất gần hết tập thơ.

Cứ mỗi bài, tôi lại nhận ra một suy nghiệm mới rất minh triết mà không phải tự nhiên ai cũng cảm nhận được trong đời thường. Nó là kết tinh của những trải nghiệm và trí tuệ lắng sâu trong mỗi lần nhắm mắt thiền niệm.

 Người đọc ngoài việc được mở ra một tầm trí huệ, còn được đánh thức trái tim đã lỡ để ngủ quên.

Tác giả đã nhìn thấu mọi khía cạnh các sự việc trong đời.

Có lần tôi nghĩ về những quả bong bóng với nhiều sắc màu cuốn hút trong bài thơ anh viết. Quả bóng rồi sẽ đến lúc bị vỡ, nhà thơ đã ngộ ra những điều đơn giản sâu sắc nhất: tính vô thường của vạn vật, câu kết thúc bài thơ, anh viết như một lời khuyên trong kinh sách: hãy buông xả mọi ham muốn dục vọng trên đời.

          “…Thôi đừng tiếc những gì em sẽ mất

         Em hãy biết mỉm cười

         Khi bóng vỡ

        Trên tay..”

Hôm nay, thấy “ông lão “ ngồi chép thơ của người em, chép cả những lời vọng lại của bạn bè, người thân.

Tôi lặng lẽ đi tìm tập thơ …

****


Nỗi đau trong tháng ngày tâm linh khủng hoảng đã vô tình giúp cho nhà thơ viết nên những câu thơ xoáy sâu vào tận lòng người.

Đó là những bài thơ anh phải trả giá bằng một sự đọa đày tâm hồn bị tổn thương rỉ máu. Vì có ai biết rằng:

          “ có khi viết xong một bài thơ

             hồn tôi như thân cây trụi lá

            đứng chơ vơ lạnh dưới sương chiều

            Có khi viết xong một bài thơ

            tôi như người say

            như người chết đuối

            như bóng ma

           trở lại dương trần…” 

(Có khi viết xong một bài thơ).

Trong thơ anh, luôn là một sự khắc khoải, ray rứt về cuộc đời, số phận và bao điều đang xảy ra.

Với anh, tất cả đều đáng được suy nghĩ.

Cứ tưởng những mẫu chuyện, những hình ảnh ấy rất đỗi bình thường, nhưng rồi khi đọc thơ anh, ta mới nhận ra đằng sau đó là một bài học triết lý cao cả.

Bài học ấy khuyên ta buông bỏ các ham muốn trên đời.

Bài học ấy giúp ta nhìn được nhưng lẫn khuất mà mắt người bị vùng u tối che mất. Bài học ấy có khi nhắc một đôi tình nhân nhận ra những nụ hôn không còn mang hương vị tình yêu.

Bài học ấy cũng bày cho ta biết phải làm gì khi một ngày trái tim “gõ nhầm một căn nhà kín cửa”,

và còn rất nhiều bài học nữa…

Cứ mỗi bài thơ, chúng ta lại được tỉnh thức và chiêm nghiệm lại cuộc đời…

* Một cây quỳ vàng trên lối về giáo đường quen thuộc, chiều nay bị ai đó đốn ngã, anh chợt thấy đớn đau, xót xa vì nhận ra cuộc đời “đâu cần cái đẹp”, đâu cần những “bông hoa vàng vô dụng”. Chỉ anh mới có những cảm thức rất từ bi, khi nghĩ rằng một loài cây cũng là một linh hồn cần được nói lời vĩnh biệt trước lúc chết.

(Vĩnh biệt cây hoa quỳ vàng)

*Khi nhìn một người con gái đi lấy chồng có mấy ai nghĩ: họ lấy chồng vì điều gì? Tự bản thân nhà thơ đã trở thành một người “thống kê nguyên nhân” trong câu chuyện này. Và cái bất ngờ là một kết quả:

             “Đã có bao nàng con gái đi lấy chồng

             Vì đã chọn Tình Yêu”

                 (Có những nàng con gái đi lấy chồng)

*Có một lần nhà thơ ngồi uống cà phê trên dốc cao trước cổng chợ Đà Lạt, nhìn dòng người tất bật ra vào chợ để mưu sinh, tất cả những khuôn mặt thể hiện sự căng thẳng của họ trong cuộc sống. Tự nhiên anh chợt nghĩ: “Phải chăng đời chỉ có những bữa ăn.” Liệu có ai còn chút thời gian “để cười, để khóc, để lắng nghe tiếng đập trái tim mình.” Vậy là bài thơ “Có ai đủ thời gian để sống” ra đời. Chỉ đơn giản vậy thôi, mà cho đến hôm nay, tôi vẫn thấy bao nhiêu người còn lam lũ, gấp gáp cả ngày đêm, kiếm tìm tiền bạc, cơm áo. Họ đã không kịp lắng nghe nhịp đập của trái tim và quên luôn cả phần hồn của chính mình.

*Có bài thơ như là một giai đoạn đắng cay cùng cực của anh. Nhà thơ phải đem bán những tác phẩm của mình để có tiền ăn cho những ngày đang sống. Nhưng nhà thơ không bán được bài thơ nào để mua nổi một ổ bánh mì.

Người đọc cảm thấy sự chua xót cho những năm tháng ấy, khi nhà thơ thốt lên trong tuyệt vọng:

             “Nhà thơ ơi

              Thời vàng son của anh đã mất

               Như dấu chân trên cát đã phai rồi”

                            (Nhà thơ và mẫu bánh mì )

* Đôi mắt Đỗ Tư Nghĩa không chỉ là một chiếc máy ảnh phản ánh lại y nguyên sự vật mà còn mang ánh sáng đến cho những điều còn tăm tối. Đôi mắt ấy có khi như một tia chiếu tiên tri số phận con người. Trong bài thơ “khi tôi nhìn một nàng con gái đẹp”, anh đã có một câu kết thúc rất độc đáo. Câu kết thúc mà tất cả các người con gái đẹp phải nhíu mày suy nghĩ: sắc đẹp hay tình yêu mới là hạnh phúc vĩnh viễn trên đời .

               “Hỡi nàng con gái đẹp

                nụ hoa hồng bạc mệnh của trần gian

                em biết chăng

                dù trái tim em thiết tha

                em vẫn phải khổ đau

                vì khó gặp Tình yêu

                giữa cuộc đời này”

* Một lần nữa ta lại thấy đôi mắt của nhà thơ thật sáng suốt, bao dung khi anh quan sát những giọt nước mắt của nhiều con người. Với anh, nước mắt biểu hiện cho nhiều trạng thái: có những giọt nước mắt tủi buồn, thất vọng và có những giọt nước mắt mừng vui, hạnh phúc. Nhưng thật lạ khi anh nhận ra:

Nỗi sợ hãi lớn nhất là khi con người biến thành vô cảm, khi không còn nước mắt để rơi.

          “Tôi vẫn sợ hãi những giọt nước mắt

            của sự chết

            của nỗi sầu

            của những trái tim tan vỡ.

            Nhưng tôi càng sợ hãi

            những đôi mi khô

            những trái tim đá lạnh…”


50 bài trong tập thơ là năm mươi trạng thái, khoảnh khắc, trải nghiệm .

Những buồn đau, cô đơn và biến động cuộc sống;

Những hình ảnh, câu chuyện, sự kiện đọng lại trong cuộc đời;

Những nơi anh từng lang thang : ngôi chùa có chú tiểu chờ cửa trong đêm vắng, căn phòng người bạn dưới chân cầu thang tối tăm…

Và còn rất nhiều điều khác nữa…

Tất cả tạo nên một thứ “nguyên liệu cảm xúc” được anh khắc họa một cách rất riêng, in dấu di chứng tâm linh khủng hoảng của anh trong những ngày tháng ấy .

Tinh hoa của những bài thơ đó là màu sắc cùa Phật giáo, của Triết học, của những suy niệm về cuộc đời, và của một bề dày kiến thức uyên sâu.

Tôi là một hậu sinh, một đứa em đọc thơ anh và chỉ viết lại những cảm nhận yêu thương về một người mà tôi rất quý mến từ khi còn nhỏ.

Thơ anh là máu thịt, là hơi thở của anh.

Vậy mà mỗi lần đọc nó, tôi luôn nghe được nhịp đập trái tim mình.

*****


Nhưng chưa hết, trong tập thơ có một điều gì đó cứ ám ảnh suy nghĩ của tôi.

Liệu có phải đây là lời di ngôn viết sớm. Vì rất nhiều lần trong thơ, anh nhắc đến cái chết.

Những ngày gần đây, dịch bệnh đã trở thành thảm họa, trên một trang facebook của một người không quen, viết về những masoeur có tấm lòng từ tâm, đến các bệnh viện giúp người bị nhiễm dịch, phụ việc cho các hộ lý, y tá , bác sĩ…Họ đã làm mọi thứ để xoa dịu nỗi đau.

Nhưng có một công việc tôi xúc động nhất là lúc họ lần chuỗi hạt Mân côi nguyện cầu cho những sinh linh đang hấp hối giữa cô đơn tuyệt vọng.

Trong thơ anh, tôi nghe như có tiếng người sắp sửa từ biệt cuộc sống, chờ được nghe lời kinh phó tâm hồn.

          “Ôi! một ngày ai khóc mộ ta xanh?” (Bi Khúc IV)

      Và còn một điểm nữa, đó là có nhiều loài chim được nhắc trong thơ anh: có khi là chim họa mi hót trong đêm, khi là một loài chim đứng co ro lặng im trong tuyết trắng, khi là một con chim “điên” hót trên cành cây khô giữa buổi trưa nắng cháy, có khi chính là người nhạc sĩ thiên tài Beethoven mà anh gọi là con chim họa mi vĩ đại…

Riêng anh ví mình như con chim “hót một lần, trước khi vỡ cổ”. Đây là loài chim Thorn chỉ có trong truyền thuyết. Nước Úc có bà văn sĩ dựa vào truyền thuyết này đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình: Tiếng chim hót trong bụi mận gai. (The Thorn Birds).

Ta hãy lắng nghe lời giã từ vĩnh biệt:

        “Xin gởi lại cho Người

         Tiếng hát của tôi

         như một loài chim

         hót lên một lần trước khi vỡ cổ…

         Này đây, những bài thơ

         mai này tôi chết đi

         xin gởi lại Tình Yêu

         xin gởi lại Cuộc Đời”


Tôi nhìn tập thơ: “Gởi tình yêu- Gởi cuộc đời” trên tay, những tờ giấy in trắng đen bắt đầu úa màu. Tập thơ này do một người cháu đánh máy bằng vi tính, ấn loát đơn giản, chân chất như chính tâm hồn anh. Nó chỉ dành để tặng người thân, bạn bè và được tôi cất hơn 20 năm rồi.

“Gia tài sách” của anh, tôi may mắn còn giữ nhiều. Đó phần lớn là những quyển sách nổi tiếng mà anh đã dịch. Những quyển đó đã trở thành thương phẩm trên thị trường, được trình bày và in ấn rất đẹp. Nhưng với tôi, tập thơ này mới là một kỷ vật xa xưa tôi trân quý nhất.

Bỗng tôi chợt nghĩ: tại sao không in lại tập thơ để lại này cho thật đẹp, để nhớ mãi “tiếng hát” lẻ loi của anh rung ngân trên dòng sông tâm thức.

Trong giây phút ấy, tôi liên tưởng hình ảnh một người đàn ông trên giường bệnh, nén cơn đau, ôm ấp tập thơ vào lồng ngực, như đang lắng nghe hơi thở của chính mình…

                                                                 Hồ Sĩ Khang


READ MORE - ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI - Hồ Sĩ Khang