Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Cáp Xuân Tú. Show all posts
Showing posts with label Cáp Xuân Tú. Show all posts

Saturday, July 3, 2021

CÁ TRÀU KHO KHÔ - Cáp Xuân Tú


Về với quê hương, yêu quê hương và những kỷ niệm gắn bó không chỉ là cảnh vật dung dị, con người chất phác mà các món ăn quê đậm đà cũng là dấu ấn sâu sắc. Chính thế mà ông cha mình vẫn nói rằng: “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Cái ẩm thực làm nên phong vị quê nhà, nó bình thường mà cao cả biết bao. Đó là quê hương cụ thể nhất, gần gũi nhất. 


Quê tôi cũng có những đặc sản nổi tiêng một vùng. Dù không sinh ra và lớn lên trên miền đất thiêng liêng này nhưng hương vị ẩm thực ăn sâu trong tôi. Hương vị đó là máu, là thịt trong tôi. Hương vị đó là mạch ngầm trầm tích ngàn ngày khổ cực của quê hương đang cuộn chảy trong tôi. Ấy là kỷ niệm của những ngày về với quê hương.


Một món ăn dân dã, món ăn từ điền đất ao ruộng, một món ăn tưởng như đơn giản nhưng qua quy trình chế biến nó trở nên một mỹ vị không thể thiếu trong  những dịp đám đình, kỵ giỗ. Đó là món cá tràu (cá lóc) kho khô. Người quê tôi vẫn gọi theo cái tên mộc mạc là “cá tràu bắt quanh” hoặc “cá quéo”.


Còn khoảng 10, 15 ngày nữa là đến ngày kỵ giỗ, bác gái đi chợ Trà Lộc mua gom khoảng chục con cá tràu bắt ở ruộng hoặc ao sông. Con cá không bé mà cũng không được lớn. Cá chỉ dài khoảng 25 đến 30 xăng ti mét, khoanh ngang to hơn cán rựa. Cá như vậy mới có thịt, kho được khô chứ to quá thì nhão thịt mà bé quá thì chỉ còn xương. Có bữa khan hiếm cá bác phải sang chợ Phương Lang hoặc lên tận chợ Kẻ Diên (Chợ Diên Sanh – thị trấn Hải Lăng) mới mua được.


Cá mua về làm sạch mang, sạch vảy để nguyên cả ruột rồi đem bỏ vào rổ đi ướp muối gầm hai tiếng đồng hồ. Muối thấm vào cá, nước trong cá chảy bớt ra ngoài làm cho cá cứng và săn chắc. Sau khi rửa sạch muối, bác mới lấy dây lạt tre buộc cong cá cho đuôi đầu vào với nhau. Cá xếp vào nồi đất lớn, đổ nước mắm ngon cho xấp xấp con cá và kho nhỏ lửa, lửa than càng tốt. Khi nước gần ráo, thêm gia vị vào nhưng đường, mì chính, tiêu… và thêm ít mỡ heo. Nước cạn, cá thấm gia vị thì ngưng kho. Cá lửa đầu chưa khô thịt nên chưa ăn được.


Hôm sau, nồi cá được đem ra đặt lên bếp than kho tiếp tục. Cá muốn ngon thì phải kho qua nhiều lần lửa ít nhất cũng bảy lần. Nếu được mười đến mười lăn lần lửa thì con cá mới đạt đến tuyệt đỉnh.
Mâm cỗ được bày ra để cúng, lúc đó bác mới tháo lạt gắp cá bỏ vào đĩa. Con cá quanh mình tròn gọn gàng trong đĩa đất màu xanh chàm với hoa văn thô sơ. Mình phủ màu nâu nâu đậm đậm trông thèm mà chảy nước dãi. Mỗi mâm có hai đĩa đặt hai đầu. Bác khéo bày biện mâm cỗ sao cho thật hấp dẫn. Cái màu nâu của cá tràu kho khô nổi bật lên giữa những sắc màu khác của các món ăn: màu trắng của cơm, màu xanh của đĩa rau xào, màu vàng của món mít chín gỏi nộm, màu đỏ của đĩa xôi gấc… 


Cúng xong, cả nhà quây quần bên mâm cỗ. Bác trai là người đầu tiên được dùng đũa để xắn con cá tràu ra thành từng miếng nhỏ rồi chia đều cho mọi người. Cá kho lâu nên thịt cá khô nên tơi  thành sợi. Cắn một miếng nghe trong miệng chút mằn mặn thơm thơm của nước mắm, beo béo của chút mỡ, ngọt của đường, cay nồng thơm tiêu sọ, hăng hăng cay cay của ớt trái… Thịt cá khô mà quyện dính với nhau hoà với cơm trắng gạo dẽo nóng hôi hổi. Một cảm giác tuyệt vời…


Viết đến đây, bổng nhiên mình có suy nghĩ là ngày mai chắc phải gọi điện về quê, nhờ bác kho giúp chục con cá để Tết này khoe đặc sản với bạn bè ở Đông Hà. Thường thường, ngày 27 Tết tôi về làng giỗ bà và mang lễ vật về cùng tổ tiên. 


Cáp Xuân Tú 
14.01.2012 - 21 Chạp Tân Mão
capxuantu@gmail.com
READ MORE - CÁ TRÀU KHO KHÔ - Cáp Xuân Tú

Monday, February 6, 2012

Cáp Xuân Tú - ĐẶC SẢN QUÊ TÔI: BÁNH ĐÚC



Nếu món cá tràu kho khô là đặc sản của vùng đất này thì món bánh đúc là đặc sản của riêng quê tôi. Bởi vì nhiều nơi làm bánh đúc ngon, thậm chí nổi tiếng khắp nước nhưng bánh đúc quê tôi là đặc sản của riêng mỗi người dân ở vùng này. Dù già hay trẻ, dù đang ở trong làng hay xa quê hương vị bánh đúc ấy vẫn mãi không quên.

Dù là loại bánh dân dã nhưng chỉ đến khi có giỗ chạy, cúng kỵ mới được ăn bánh đúc. Mỗi lần trong nhà có việc, khi gà gáy canh ba bác gái trở dậy để nấu nướng. Bếp thổi rơm đỏ hừng hực. Gạo chọn để làm bánh là loại gạo mới, vừa thơm vừa dẻo, được đánh tơi, nấu nhuyễn. Phải thật khéo trông và giữ lửa, nước sao cho không được khô mà không ướt nhảo nhoét. Phần cơm nhuyễn được trộn thêm đậu phụng. Đôi khi bác còn thêm da heo hoặc tóp mỡ heo gia tăng thêm vị béo cho bánh. Sau đó, đổ ra mâm hoặc cái mẹt có trải lá chuối. Bác dùng vá múc cơm có thấm mỡ heo vừa chầy vừa nén cho cái bánh thật chặt săn nhưng vẫn dẽo dai. Tiếp theo là một lớp mè rang được rải lên bề mặt. Các chị dùng dao nhỏ cắt bánh thành những miếng nhỏ hình bình hành, sắp lên đĩa. Tôi lúc nào cũng muốn tự tay mình bưng đĩa bánh đúc đặt lên mâm cúng.
Bánh đúc phải ăn với nước lèo. Nước lèo quyết định độ ngon của bánh. Nước lèo phải được chế biến thật khéo vừa ngọt ngọt, chua chua, béo béo. Tôi chỉ nhớ là các chị thường giã nhỏ gan heo hay gan vịt với đậu phụng làm nước lèo. 

Sau này đi ăn bánh đúc nhiều nơi, thấy người ta xay gạo thành bột rồi đúc thành bánh nên khi ăn không cảm giác cái lộm cộm của gạo, không thấy mùi gạo thơm quyện mùi lá chuối, vị mặn béo ngầy ngậy của mỡ heo lẫn trong bánh. Với bánh đúc quê tôi có những cảm nhận riêng. Bánh đúc như sự kết tinh của trời và đất, một sản vật từ bùn đất quê hương, từ công lao vất vả của những cuộc đời gian khổ. Bánh đúc cũng là thể hiện lòng thảo hiếu của con cháu với tổ tiên, là văn hoá, là hồn quê, là văn minh nhỏ trong nền văn minh lúa nước.

Cáp Xuân Tú
capxuantu@gmail.com
READ MORE - Cáp Xuân Tú - ĐẶC SẢN QUÊ TÔI: BÁNH ĐÚC

Wednesday, January 11, 2012

Cáp Xuân Tú - CHẠP MÃ


Chạp mã là cách gọi dân dã của người làng tôi – Làng Trà Lộc. Theo tiếng phổ thông hay văn hoa một tý gọi là tảo mộ. Hàng năm vào rằm tháng Chạp, lúc đã xong việc cấy lúa vụ đông xuân, thời gian nông nhàn thì các họ tộc, chi phái trong làng tập trung con cháu đi chạp mã. 


Đây là nghĩa vụ thiêng liêng mà con dân trong làng phải thực hiện. Đây cũng là dịp để con cháu sau một năm làm lụng vất vả quay về tụ hội. Đây cũng là dịp anh em có thể gặp nhau đông nhất chứ đến ngày Tết ai cũng bận rộn những công việc riêng, mỗi người mỗi đường.


Những người đang ở trong làng đi làm ăn nơi khác, đến dịp này phải sắp xếp công việc dành ra vài ba ngày. Kẻ ở xa quê cũng lặn lội trở về; không những người ở các địa phương xung quanh tỉnh Quảng Trị luôn nhớ ngày chạp mã mà những người tha phương tận miền Nam như Xuyên Mộc, Long Khánh, Bắc Ruộng… cũng tìm về thăm quê trong dịp này. Vì vậy mà những ngày chạp mã cả làng vui hơn cả ngày Tết. Nhà nào cũng có bà con ở xa về, anh em trong gia đình hàn huyên tâm sự, bà con lâu ngày có dịp hỏi han chuyện nhà, những người đồng trang đồng lứa mở thêm mấy bữa nhậu rôm rang khắp làng.




CHẠP MÃ HỌ
 

Đối với họ Cáp của tôi, đi chạp mã họ bao giờ cũng vào sáng Mười bốn tháng Chạp. Họ có 3 ngôi mộ tổ nên cả họ làm chốc lát là xong. Hơn nữa mộ tổ được xây cất thành lăng rất lớn nên việc đắp đất, làm cỏ không còn vất vả như xưa.

Ngày xưa khi tôi còn niên thiếu, được về làng theo cha đi chạp mã họ là một điều vinh hạnh vì chạp mã tổ họ chỉ dành cho những người trung niên trở lên.

Tôi phải thức dậy từ sớm, đêm trước phải đạp xe đạp về ở lại. Trời mùa Đông, không quen dậy sớm nên thấy rét và cay xè con mắt nhưng vì thích thú nên tôi tỉnh táo ngay, lục đục ra bể nước đánh răng rửa mặt. Nhà bác chưa có điện chỉ có đèn dầu tù mù cùng với ánh lửa hắt ra từ bếp đun rơm mà bác gái đang ngồi nấu cơm. Bác gái dậy từ lâu rồi, bác nấu xong cám cho heo, làm mâm bánh đúc rồi quay sang nấu cơm để chúng tôi ăn sáng.


Tôi vác cái trang. Cha và bác vác cuốc. Bác trưởng họ mới được cầm rựa để phát cây và bác cầm thêm ba thẻ hương. Đạp xe từ làng đến mộ tổ họ gần 3 cây số. Mộ tổ nằm bên bờ trằm, trong rú Giàng. Sương sớm chưa tan. Gió bắc thổi nhẹ đem theo hơi nước lạnh buốt. Bầy le le vịt nước đang ăn sớm ngoài trằm tiếng kêu ríu rít. Tôi đến nơi đã thấy các chú, các bác có mặt khá đầy đủ. Bác trưởng họ vào thắp hương rồi ra lệnh cho mọi người cùng làm. Người thì lên nấm làm cỏ rồi vớt đất ở dưới chân đắp lên nấm. Người thì làm sạch cỏ xung quanh mộ và đường đi. Mộ tổ to đường kính 8 đến 9 mét, cao gần một mét nên việc đắp cát lên hơi khó. Nhưng mỗi người một tay, làm nhanh lắm. Vừa làm, các bác vừa nói chuyện râm ram. Chuyện nhiều nhất vẫn là những chuyện của quá khứ.


Công đoạn dùng trang là công đoạn sau cùng. Lúc đó tôi dùng trang để làm bằng mặt cát trên mộ, trên đường đi. Tôi là dân cầm bút, cày đường nhựa nên làm không thể nào phẳng đuợc. Bác để cho tôi trang qua rồi bác trang lại. Mặt cát phẳng lỳ như ủi.


Dạm trưa thì tất cả đinh họ quay về nhà thờ để cúng tế. Các bác lên hương đèn, khấn vái đúng theo nghi lễ. Tiếng trống tiếng chiên gióng lên vang động cả làng. 


Ba bàn hương án đặt ở ba gian nhà. Nhà thờ họ làm theo kiểu nhà bánh ít, 3 gian 2 chái. Cột lim láng bóng. Kèo cột được khắc chạm rồng phượng, hoa văn rất tinh vi.


Một không khí trang nghiêm khó tả. Khói hương trầm nghi ngút. Các bác lạy nhiều lắm, tôi không thể đếm hết.


Lễ cúng xong là con cháu hưởng lộc. Chiếu hoa trải thành ba hàng. Mọi người ngồi mâm theo thứ bậc. Chính giữa gian thờ là các bậc cao niên và cao chức. Có lần tôi cũng được ngồi với các bác ở đó. Mâm cỗ lúc nào cũng đơn giản là đồ xôi và thịt heo. Mấy o (cô) khéo xáo xôi thật. Xôi khô mà dẻo và thơm lại ăn kèm với thịt heo chắm nước mắm biển mặn mặm cay cay của ớt nữa, thật tuyệt vời. Cái cảm giác ấy làm tôi luôn nhớ mãi, mong được về vào ngày chạp mã họ để được thưởng thức món dân dã ấy. Thêm vài tép rượu gạo, câu chuyện các bác, các chú, các anh cứ xoay quanh. Từ chuyện làm ăn, học hành, đến chuyện góp tiền xây dựng nhà thờ hoặc xây lăng… 




CHẠP MÃ PHÁI


...Đó là chuyện chạp mã họ. Còn chạp mã phái có nhiều chuyện để nói nữa. 


Những năm trước đây, các gia đình trong làng chủ yếu làm nông, trồng lúa nên thanh niên trai tráng nhiều, đã định từ xưa chạp mã phái là ngày Mười Ba tháng Chạp – tức là trước chạp mã họ một ngày. Nhưng bây giờ, con cháu đi làm công chức, cán bộ Nhà nước, đi ra khỏi làng làm ăn khá nhiều nên các bác phải chọn ngày Chủ nhật gần ngày Rằm nhất để chạp mã. Như vậy mới có nhiều con cháu trở về.


Mồ mã trong phái thì nhiều lắm, nằm rải khắp rú làng. Nhưng tất cả cũng quy lại bám xung quanh bờ trằm, kéo từ bên phía Đông cho đến bên phía Tây. Ngày xưa, các cụ tổ lo giữ đất làng nên mộ của ông tổ phái hoặc cao tằng cố tổ đều nằm biên giới với các làng xã khác như chôn lên tận động Cát Tiên, sát xã Hải Vĩnh. Đi xe máy phải gửi lại ở xóm Phường – sát với truông cát, sau đó đi bộ vào tận sâu phía trong. Từ đó lên đến đám mộ xa nhất cũng gần 4 cây số, đi theo đường mòn chỉ có cát và cây bụi lúp xúp. Mùa này mà trời nắng thì còn dễ đi chứ trời mưa như mấy hôm nay thì khá vất vả. Đi chen qua bụi cây nước mưa đọng trên là rơi cả vào người ướt hết.


Những năm sau này kinh tế khá giả nên các nóc nhà con cháu về xây lăng hoặc cuốn nấm mộ nên công việc đở vất vả hơn. Mộ chôn truông cát, về mùa nắng gió Lào thổi cho cát bay cát chạy hết làm nấm mộ lệch về phía dưới gió. Nên trước khi đắp lại nấm mộ thì phải đo lại tâm. Theo thói quen, làng tôi ngoài việc chôn bia ở đầu, người ta còn trồng thêm một cây chổi hay cây gió ở phía dưới chân. Đây chính là 2 mốc chuẩn của nấm mộ.


Trời mưa không mang áo mưa thì ướt, mà mang vào thì lại nóng. Khi đi trời lạnh mang nhiều áo, cuốc vài nhát cả người nóng lên. Mồ hôi đổ ra không thoát được cứ thấm chặt vào trong các lớp áo quần. Rồi cát lại bán lên cuốc, lên quần, lên áo. Thực ra, không có ai phàn nàn điều này.


Các bác lớn tuổi cầm con rựa, cầm thêm mấy bó hương và con cúi rơm để giữ lửa thắp hương thắp thuốc lá. Lũ trẻ con mang vác trang. Còn lại mang cuốc. Rú truông dạo này kiểm lâm huyện không cho chặt tỉa nên càng năm càng um tùm. Một năm về được một lần nên không cẩn thận thì lạc ngay.


Xen kẻ giữa công việc là những câu chuyện, những lời thăm hỏi. Đặc biệt là những câu chuyện về người đã khuất. Chuyện tốt cũng có, chuyện xấu cũng có. Các bác luôn nhắc nhở cẩn thận từng ngôi mộ, mộ này của ai, con cháu họ thế nào… có lẽ như vậy con cháu mới nhớ hết từng ngôi mộ của dòng họ mình. Các bác luôn nhắc đến những ngôi mộ nằm tách biệt, riêng lẻ, bởi vì dễ quên và con cháu cũng ít về.


Số mộ nhiều nên thường phải làm hết một ngày. Xong phần làm mộ con cháu quay về nhà thờ phái để làm lễ và tất nhiên là ăn cổ. So với mâm cổ nhà thờ họ, thì mâm cổ phái sung túc hơn, rôm rả hơn. Kinh phí mỗi trai phái phải nộp. Anh em chúng tôi ở xa về bao giờ cũng có thêm tiền cúng phái ngoài khoản tiền nghĩa vụ phải nộp. Cũng vì thường là muốn cho câu chuyện rộn rả, lâu một chút thì phải có chất xúc tác. Ngày xưa kham khổ uống rượu gạo do bà con trong làng nấu, bây giờ thì dùng toàn bia Huda thôi. Mâm ngày xưa rau củ nhiều bây giờ thì thịt tràn mâm. Có một món truyền thống không hề vắng là cá lóc kho khô bắt cong. Cá lóc được kho với nước mắm biển và gia vị qua ít nhất 10 lần lửa, một ngày được đem ra kho một lần. Thịt cá khô xơ thành sợi ăn riêng với cơm trắng thì ngon tuyệt.


Anh em cùng phái mới xa mấy đời nên thân nhau lắm. Thấy cảnh con cháu sum vầy, vui vẻ các bác vui mừng ra mặt. Các bác luôn động viên con cháu học hành, làm ăn và không quên bày tỏ ước nguyện của mình muốn làm cái gì đó cho ông bà tiên tổ như xây lại nhà thờ, quy tập mộ… Tất nhiên kết thúc lúc nào cũng bằng một cuộc họp toàn trai phái để hoạch định cho các ông việc sắp tới.
Riêng tôi cứ mỗi mùa chạp mã tôi càng thấy yêu lắm quê mình dù nơi ấy tôi không sinh ra và không lớn lên, vì nơi ấy là quê cha đất tổ, nơi tổ ấm tràn đầy tình thương bà con cô bác họ hàng. Ôi quê tôi…


09.01.2012
Cáp Xuân Tú
capxuantu@gmail.com


READ MORE - Cáp Xuân Tú - CHẠP MÃ

Sunday, January 1, 2012

MÙI NGÒ RÍ - Cáp Xuân Tú



Tết trong tôi với những năm tháng tuổi thơ, thiếu thốn, nghèo khó còn đậm in những kỷ niệm khó phai. Những năm sống trong thời hậu chiến, của kinh tế bao cấp mọi vật dụng dành cho Tết rất hiếm hoi. Hợp tác xã mua bán của phường phân phối mỗi gia đình 1 lít dầu hỏa, một chai rượu chanh Hà Nội, nửa cân kẹo Hải Hà, 2 gói trà Kim Anh. Khấm khá hon là phong pháo tép Hải Hưng hoặc Hà Sơn Bình. Riêng mỗi một gia đình thì nhu cầu lớn lắm, chủ yếu tập trung vào cái ăn. Thưở ấy trông Tết để được ăn sướng, có thịt, có mỡ...

Trong nhà tôi, sau Rằm tháng Chạp, mẹ đã bắt đầu chuẩn bị mọi thứ. Nào là miến, gạo nếp, đậu xanh, trứng gà, đường cát, mỳ chính... những thứ hàng thiết yếu này thời bao cấp khó khăn lắm hơn nữa nhà không có nhiều tiền để mua  một lúc. Nhưng cái chuẩn bị của mẹ làm cho cái Tết đang về xôn xao rồi.

Những phong pháo nổ đì đẹt ấy đã thúc giục mùa Xuân đến sớm, đón Tết về trong náo nức. Hai Mươi  Ba Tết, đưa ông Táo về trời, nhiều nhà làm lễ Tất niên, tất nhiên là đốt pháo. Lũ trẻ chúng tôi nghe tiếng pháo là chạy nhào tới để nhặt những viên pháo rụng, pháo xì đốt chơi. Có thằng chụp lấy quả pháo tống nổ chậm làm cho nó toác cả tay. Trò chơi pháo vẫn không làm cho lũ trẻ sợ sệt. Lác đác từ hôm đó cho đến đêm giao thừa, pháo liên tục nổ ran, chúng tôi dọn dẹp nhà cửa, hay giúp mẹ đánh trứng đổ bánh thuẫn không yên lòng chút nào. Những năm sau xuất hiện lọai pháo Nam Ô nổ như súng đại bác, tiểu liên, nên chúng tôi cũng phân biệt được nhà nào đốt pháo gì. Đêm Ba Mươi, pháo nổ rền hơn, phút giao thừa thực sự làm cho trời đất như sống dậy trong giá rét, tôi cảm thấy như mùa Xuân bừng tỉnh sau cơn ngủ đông. Sáng Mồng Một, lại vang tiếng pháo cúng đầu năm, sang Mồng Ba lại vang tiếng pháo cúng đưa tiển ông bà... cho đến Rằm Tháng Giêng vẫn có nhà đốt pháo cúng đầu năm hay mở hàng. Tiếng pháo cho ta cảm giác như cái Tết kéo dài hơn.

Đó là chuyện pháo, chuyện mứt bánh ngày Tết cũng đáng chú ý. Nhà nào cũng mua một vài cân hạt dưa. Nhà nào cũng có gói bánh chưng , bánh tét. Nhà nào cũng có làm bánh thuẫn. Nhà nào cũng tự rim mứt gừng, mứt dừa. Ngày Hai Bảy, Hai Tám Tết được nghỉ học ngồi ở nhà quạt than làm mứt, hay dùng đũa đánh trứng cho dậy quả là một kỳ công. Đánh trứng phải liên tục, mạnh, đều tay thì trứng mới dậy, bánh mới đẹp.

Lũ trẻ chúng tôi lại rủ nhau quét tước nhà cửa, vườn tược và con đường đất trước nhà. Nhà nào cũng sạch tưng. Đêm Ba Mươi trước khi Giao Thừa, chúng tôi phải tắm sạch sẽ không để bẩn 2 năm. Gian bếp chật hẹp làm mùi thơm bánh chưng, bánh tét ngào ngạt không thoát đi được.

Và cái mâm cỗ Tất Niên mẹ làm nhiều món: thịt gà bóp, gà rô-ti, miến xào lòng gà, la-gu, đậu cô-ve với cà rốt, su hào xào thịt heo... Gần như các món mẹ rắc tiêu và bỏ thêm mấy cọng ngò rí, thơm ơi là thơm. Chúng tôi nhìn khi cha bày mâm cổ đã rỏ dãi rồi... thèm lắm, cái này chờ mấy tháng nay. Tôi nghĩ một mình mình ăn hết cả mâm cỗ.

Cha thắp hương trên bàn thờ, bếp và cổng. Cha quay lại khấn vái lầm rầm. Cha bảo tôi rót rượu cúng vào ly, phải rót đúng 3 tuần đúng với 3 lần khấn vái của cha. Tôi đứng cạnh, mùi thức ăn xông lên mũi, đặt biệt cái mùi ngò rí quyện với hương vị hạt tiêu, chao ôi là thèm. Tôi nuốt nước bọt.

Cúng xong, cả nhà quây quần bên mâm cơm cuối năm. Chúng tôi được ăn uống thỏa thích. Mẹ nói cả năm kham khổ rồi, Tết cho ăn một bữa cho sướng. Vẫn mùi thơm thơm của ngò, bây giờ tôi được nếm thêm vị cay thanh thanh nhè nhẹ của ngò rí, quyện với vị cay hăng hăng của tiêu. Tôi cố ăn nhiều thứ trên bàn cỗ. Tôi lại hay nghĩ về những ngày sau Tết, lại vất vả. Mẹ hay than: "Giêng Hai cắn máu tay không chảy". Cái đói cái thiếu sẽ đến.

Cuộc sống hôm nay khá đủ. Cái Tết không làm háo hức như thưở ấy. Nhưng trong cái se lạnh của đêm Ba Mươi, cái mùi ngò rí ấy làm thức dậy trong tôi bao kỷ niệm về thời khốn khó. Tôi nhớ về cái Tết xưa, nhớ tiếng pháo rộn ràng đánh thức đất trời. Nhớ ánh lửa bập bùng nồi bán tét reo réo sôi. Lũ trẻ thơ chúng tôi khoe nhau áo quần mới. Tiếng loa phát thanh vang lên những khúc nhạc xuân: "Em ơi, mùa xuân đến rồi đó, giang rộng vòng tay đón cuộc đời..." hoặc là "lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người....đôi lứa tình yêu, mùa xuân...". Tất cả đã thành kỷ niệm.

Cáp Xuân Tú
Trường THPT Đông Hà
capxuantu@gmail.com
READ MORE - MÙI NGÒ RÍ - Cáp Xuân Tú

Friday, November 18, 2011

CÁP XUÂN TÚ – TÀ RỤT XA XÔI


Ai chưa đến đó

Tà Rụt, tôi đã từng nghe nhiều người đến đó, thậm chí có những người đã sống ở đó kể lại về một vùng đất heo hút. Tôi chỉ mường tượng, không định hình được nó như thế nào, con đường đến đó ra sao. Và Tà Rụt trở thành ước mong của tôi là một ngày sẽ đến.

Tôi tâm đắc câu thơ của Tố Hữu: Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình. Thật vậy, Tà Rụt chưa đến thì chưa hiểu được Tà Rụt, và mình chưa hiểu được chính mình.

Đầu tháng 8, Đông Hà vẫn còn nắng rát với gió Lào khô khốc. Tôi được điều lên Tà Rụt công tác ba ngày - tập huấn chương trình dạy học của Intel ITGS. Vui lắm. Chạy xe máy từ Đông Hà lên đến cầu treo Đakrông, cảm giác bình thường với nóng trong khung cảnh quen thuộc, đồi tiếp đồi, núi tiếp núi cao dần cao dần. Dừng chân nghỉ ở quán nước ven đường Đường 9 tại ngã rẽ ngay chân cầu treo tôi lại bắt đầu đi theo Đường 14 - là đường Hồ Chí Minh đi vào phía Nam .



Chập chùng đại ngàn

Con đường quanh co, khúc khuỷu, uốn lượn theo sườn núi, bám theo dòng sông Đakrông. Nuớc sông mùa này không nhiều, thậm chí cạn ráo để trơ những lèn đá liêu xiêu hay những bãi cuội vàng ươm xen kẻ cây bụi lúp xúp. Hai bên sườn núi dựng đứng cao vút, bỗng thấy mình lọt thỏm giữa đại ngàn trùng điệp, núi tiếp núi lô nhô, sừng sững. Con đường sáng lên màu xám bạc tựa như con rồng con rắn uốn mình, lúc lên, lúc xuống. Có những đoạn đường nằm chênh vênh tưởng như đang treo bên sườn núi, sườn đổ xuống phiá sông dốc sâu thăm thẵm.



Bây giờ hơn 4 giờ chiều, tôi biết được từ Cầu treo Đakrông vào đến Tà Rụt là 50 km nên phải làm sao đến nơi trước 6 giờ tối. Lạ đường, đường quanh co hiểm trở nên không giám chạy nhanh dù rằng đường rất vắng xe. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe máy đi ngược chiều hoặc ai đó quen đường phóng nhanh chạy vượt lên - đặc biệt là mấy thanh niên người Pakô, Vân Kiều chở ba không đội mũ bảo hiểm. Phải vào Tà Rụt trước lúc trời tối cũng do sợ giữa đường trời mưa. Đuờng 14 nằm phía Tây Trường Sơn rồi nên khí hậu giống đất bạn Lào có nghĩa là nếu Đông Hà mùa nắng thì đó là mùa mưa. Mà mưa rừng nhiệt đời thì xối xả, chạy xe trong mưa thì như ai ném đá vào mặt. Hơn nửa phiá bên núi bạt taluy dốc quá nên dễ sụt đất.



Đi mấy cây số vắng ngắt mới có một bản  người dân tộc. Bản nằm trên sườn núi gần bờ sông. Cũng có vài bản thức thời hơn làm nhà dọc theo Đường 14. Qua một vài trung tâm xã như Tà Liêng, Tà Long, Húc Nghì , Pa Hy... cũng có trường, có trạm y tế, có điểm giao dịch của ngân hàng chính sách... và bóng dáng người Kinh.

Dọc đường cầu nhiều lắm, tên cầu cũng là điều cần phải nói. Ngoài một vài cầu có tên riêng như Cầu Tà Liêng, Cầu Húc Nghì.... còn phần lớn có hai cái tên được gọi nhiều nhất là CẦU BẢN - có lẽ do gần một bản làng nào đó, hoặc CẦU BTCT (tôi đoán là CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP). Cứ nghĩ rằng nếu gọi điện cho ai đó nói là mình đang đến cầu BTCT thì chắc người Tà Rụt cũng không thể biết mình đang ở chỗ nào đâu nếu không nói rõ vị trí.



Phần lo sợ trời tôi, đường quanh co lo giữ vững tay lái nên cái lưng mỏi cứng mà không dám nghĩ, chỉ mong sao đến được Tà Rụt. Xung quanh toàn núi bao quanh, khoảng trời thu nhỏ lại cùng mấy đám mây đen bay lững thửng. Gió núi mát lạnh. Tôi miên man suy nghĩ về những đồng nghiệp của mình đã gắn bó với mảnh đất này. Tôi tự hỏi vì sao họ có thể bám trụ ở đây hay ngày đầu tiên họ lên nhiệm sở thì họ có suy nghĩ gì và có ý định bỏ về không, nếu có thì cái gì níu giữ họ lại cho đến hôm nay...

Cái vẻ đẹp hùng vĩ của đại ngàn Trường Sơn làm tôi nhớ đến câu thơ của Quang Dũng trong Tây Tiến: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời... Tôi ngắm như cố thu hết tất cả vào trong tâm trí mình. Có dừng lại chụp mấy cái ảnh nhưng sau phải cúi đầu chạy cho kịp về trước khi trời tối.


Thị tứ

Rồi Tà Rụt cũng hiện phía bên kia sườn núi. Lác đác mấy cái nhà xây hai tầng, một cột ăng-ten của viễn thông có vẻ ra dáng thị thành. Ah, mà Tà Rụt là một thị tứ mà. Hai bên đường có nhiều quán xá: quán nhậu, quán café, quán karaoke, quán bán tạp hoá, bán hàng điện tử, tiệm may... đủ cả. Giữa đường, mấy chú dê vẫn chạy nghênh ngang, miệng gọi nhau be be... Mấy sơn nữ Pakô vẫn mang achói, miệng ngậm tẩu thuốc nhưng áo và xấn cũng bằng vải người Kinh đưa lên, cũng có mấy mé mang xấn thổ cẩm. Có những chiếc xe Wave Tàu lao vun vút do hai hoặc ba thanh niên dân tộc phóng đi vẫn đầu trần không mũ bảo hiểm.



Bao quanh thị tứ vẫn là núi, là mây. Có lẽ quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng trên đất này. Sau này tôi biết có một miếng đất rộng 10 mét sâu 25 mét nằm trên đường nhánh đi vào trường THPT Tà Rụt mà giá hơn 180 triệu. Oái, không biết người ta dự đoán nơi đây diễn ra những gì trong tương lai gần mà hét giá đất lên cao như vậy, cao hơn giá trị thực tại quá nhiều lần.

Hai bên đường nhánh rẽ vào từ Đường 14, nhà ở của đồng  bào dân tộc xen lẫn quán xá của người Kinh. Nhà sàn cũng đổi thay theo, vật liệu bê tông cốt thép, ván tráp xung quanh, mái lợp tôn thép hoặc tôn xi măng. Lâu lâu mới có được nhà sàn lợp tranh, vách nứa. Dù sao họ vẫn giữ lại nếp xưa đó là cái bậc thanh lên nhà vẫn bằng gỗ rừng, khung cửa sổ mặt trước vẫn là nơi để mọi người ngồi trầm lặng nhìn ra bên ngoài. Tôi có cảm giác như ngôi nhà bó buộc họ như rừng núi bó buộc họ cho dù cuộc sống hiện đại đang phát triển và lan dần đến đây và họ ngồi nhìn sự thay đổi và xem mình không phải là chủ thể của sự thay đổi đó.



Giữa bãi đất rộng sau trường THPT Tà Rụt còn những cây nêu bỏ lại sau ngày lễ hội đâm trâu tế Giàng của người Pakô. Chúng đã ngã mục vì nắng mưa lâu ngày bên gốc cây gạo cao vút lá réo với gió rừng lộng lộng. Không ai dám đến đó vì những đồ vật tế Giàng mà sờ vào thì bị phạt trâu, phạt bò cho cả bản. Ở đó chỉ có mấy con dê lẩn thẩn gặm cỏ, rồi tung tăng rượt đuổi nhau và cất lên be be be...



Nét nguyên sơ

Dù tại thị tứ, thay đổi diễn ra là vậy, nhưng đi về phiá A Bung cách 10 km về phiá Nam, cứ gọi là "Ngoại ô của Thị tứ" ta bắt gặp nét hoang sơ giữa núi rừng. Mái nhà sàn lợp tranh tre vẫn giữ gìn ngọn lửa ở cái bếp chính giữa gian nhà. Cô gái Pakô cười duyên mến khách,  trọ trẹ tiếng Kinh chào hỏi. Có gái chắc tuổi không nhiều nhưng những nếp nhăn đã hằn lên gương mặt và tấm lưng cong lại như gánh gồng khổ cực, ba bốn đứa trẻ đen nhẻm chạy đùa lung tung. Ngôi nhà với mái tranh toe tua, phên nứa xộc xệch, gầm sàn chất đầy đầy củi rừng. Củi rừng được lấy về bằng gùi chứ không gồng gánh như người Kinh. Gùi (achói) là loại công cụ lao động của người dân tộc dùng để mang vác. Gùi đan bằng mây song rất chắc chắn, được đặt trên bếp để hun khói và quét một lớp nhựa cây. Mùa này mới hái bắp xong, bắp phơi đầy sân.



Rất may mắn, tôi bắt gặp một cái nhà dài bị bỏ hoang. Nhà dài vốn là nơi bảo lưu rất rõ nét cơ cấu đại gia đình phụ quyền. Con trai lấy vợ, cháu trai lấy vợ làm thêm một gian nhà, thế rồi nhà cứ dài ra. Hiện nay bà con dân tộc làm nhà riêng ứng với một gia đình nhỏ. Quá trình phát triển xã hội và hiện đại cũng đồng thời là quá trình hủy diệt văn hóa cổ truyền chăng??? Như máy bơm nước thâm nhập làm cho gàu sòng, guồng đạp nước bị bỏ nát hay tivi, máy hát băng đĩa, karaoke làm xa dần những nhạc cụ mộc mạc của người dân tộc và những câu hát lý lơi ... chính đó là nguyên nhân làm rạn nứt các tập tục cổ truyền.


Mái tranh của ngôi nhà sàn vẫn còn, chiếc mõ gỗ phát ra lách cách của chú bò gặm cỏ, cái gùi vẫn đen màu khói, làn da cô gái Pakô vẫn rám nắng... bên cạnh là chiếc xe máy Tàu, chiếc áo pull phơi bên cạnh cái chảo bắt sóng vệ tinh VTV hay VTC...

Rồi cái nguyên sơ kia sẽ mất theo tháng năm, quá trình hiện đại hoá, đô thị hoá đang diễn ra ở đại ngàn Trường Sơn phiá Tây Quảng Trị vốn xưa là lam sơn chướng khí.



Tôi gặp biển báo khu vục biên giới. Nơi đây vẫn vậy, những thay đổi không khác mấy so với thị tứ Tà Rụt. Đầu nguồn dòng sông Đakrông vẫn cạn để trơ những bãi đá lô xô. Phiá bên kia bờ xa xa, mấy cô gái đang tắm mình trong dòng nước đục ngầu. Mấy hôm nay Tà Rụt mưa...

 

Xin hát về bạn bè tôi...

Bà con ở đây là vậy, nên những đồng nghiệp của tôi ở Trường THPT Đakrông II (Tà Rụt) cũng gặp không ít khó khăn. Trường mới được xây một dãy nhà ba tầng, dáng tạc vào dáng núi. Thị tứ chỉ có toà nhà này là cao tầng nhất. Học sinh ở đây gần 90% là người dân tộc. Tiếng Kinh là ngoại ngữ nên chắc chắn thầy cô mình sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tôi đến trường khi nhà trường đang tổ chức học sinh thi lại. Nhìn danh sách gọi tên, từ đầu đến cuối toàn là họ HỒ. Các em ngồi làm bài nghiêm túc, không ai hỏi ai.





Nhiều thầy cô cho biết, nhà trường yêu cầu các em nên sử dụng tiếng Kinh trong giao tiếp, nhưng mà học sinh dân tộc nhiều quá nên mấy em học sinh người Kinh cũng nói tiếng dân tộc luôn. Các em thường theo bố mẹ lên rừng làm rẫy, hay nghỉ học. Mùa mưa này, khi nước ở con sông, con suối lên cao các em không thể đến trường được. Các em thiếu sách, vở, dụng cụ học tập. Cái nghèo khổ còn đó, trông chờ vào cái rẫy, cái nương, không đủ ăn, đủ mặc lấy gì mà sắm sửa cho việc học. Hàng năm Sở GD-ĐT Quảng Trị vẫn đề nghị các trường ở đồng bằng quyên góp giúp đỡ, nhưng biết mấy cho đủ... Đầu năm học, chưa có trợ giúp, các em không có sách học. Các thầy cô có ý định bỏ tiền ra mua sách cho các em rồi thu tiền lại sau. Chà, biết khi nào mà thu lại được, các em còn thiếu cái ăn, cái mặc, không có tiền mua sách vở thì lấy đâu ra tiền mà trả lại cho các thầy...


Khu tập thể giáo viên được xây mới thêm mấy phòng, còn chủ yếu ở 2 dãy nhà cũ. Các thầy cô đề rất trẻ, nhiều thầy cô ra trường mới 1 năm, 2 năm. Cả thầy Hiệu trưởng cũng xa vợ (vợ dạy ở Triệu Phong) cũng sống chung với anh em. 



Bể nước tập thể buổi sáng, mọi người ra đánh răng, rửa mặt, giặt giũ như khu tập thể sinh viên. Họ nấu ăn chung, bếp tập thể tềnh toàng cũng có đủ bát đĩa soong nồi.



Mỗi ngày cắt bốn giáo viên không có tiết phụ trách cơm nước, cứ luân phiên nhau. Giữa rừng núi xa xôi nên giá cả đắt đỏ, nhưng mà hàng hoá ở đây khá đầy đủ.



Chiều, các thầy cô cùng nhau đánh bóng chuyền. Sinh hoạt thường nhật. Món ăn tinh thần của anh em. Tôi cảm nhận được những tình cảm thương yêu, gắn bó sâu sắc, những mối đồng cam cộng khổ để cùng vượt qua khó khăn. Những ngày sống ở đây, tôi mới hiểu được và trả lời được câu hỏi mà mình day dứt trong suốt chặng đường lên với Tà Rụt: Vì sao họ có thể bám trụ được ở đây để dạy dỗ? Có phải chăng trong khó khăn gian khổ con người sống chan hoà yêu thương nhau hơn là khi họ được một điều kiện sống sung túc thuận lợi. Chốn đô thị phồn hoa lấp lành ánh đèn màu, những người chưng diện phấn son áo dài lả lướt đã khoả lấp và làm mờ nhạt những tình cảm gắn bó yêu thương và chen lẫn vào đó là những đố kỵ, ganh ghét, tỵ nạnh, nham hiểm và thủ đoạn...

Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ về phần ai
Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình
Phải đâu may nhờ rủi chịu, phải đâu trong đục cũng đành
...
Xin hát về bạn bé tôi những người sống vì mọi người
Ngày đêm canh giữ đất trời, rạng rỡ như cành mai chiều xuân.

Ngày trở về Đông Hà. Năm giờ chiều bắt đầu rời Tà Rụt. Suốt chặng đường 100 km tôi hát thầm bài Một đời người một rừng cây không biết bao nhiêu lần. Bên tai vẫn văng vẳng lời dặn: "Thầy về đến Đông Hà thì nhắn tin cho em nghe!"

Cáp Xuân Tú

Bài và ảnh của Cáp Xuân Tú từ trang
vn.360plus.yahoo.com/capxuan-tu và  trang dayhocintel.net

Email: capxuantu@gmail.com, 
ĐT: 0914 061 428, 0944 944 648.
READ MORE - CÁP XUÂN TÚ – TÀ RỤT XA XÔI