Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 16, 2026

ÁNH SÁNG GIỮA TUYẾT - Tác giả: Trần Thị Lan Anh,


 ÁNH SÁNG GIỮA TUYẾT

Trần Thị Lan Anh,   

Aschaffenburg, Germany

 

Mùa đông năm ấy, tuyết phủ kín từng lối đi. Những dấu chân cũ trên hè phố bị xóa trắng. Chị đứng trước cửa sổ, trán chạm vào lớp kính lạnh, hít sâu hơi sương của Aschaffenburg, một thành phố nhỏ nằm ở phía tây nam nước Đức . Ngoài kia, đèn Noel đã sáng, những vòng tay ấm đang đi qua nhau, còn chị – lặng lẽ – đối diện với một đời đã đi qua.

Hai mươi lăm năm trước, chị gặp anh cũng vào một mùa đông như thế. Chị khi ấy là một người phụ nữ trầm tĩnh, sáng từ bên trong, đẹp không phô trương nhưng đầy sức hút. Xung quanh chị không thiếu những người thành đạt: tiến sĩ, kỹ sư, giáo sư trẻ, giàu có, danh vọng, những lời hẹn hò đẹp đẽ và viễn cảnh vững vàng. Nhưng ánh mắt hoang hoải của anh – một kẻ lạc loài giữa thành phố xa lạ – đã khiến chị không thể quay đi.

Anh tốt nghiệp tiến sĩ hạng ưu, nhưng gia đình nghèo, áo quần cũ nhàu, đôi giày bong đế, nỗi cô độc lấp đầy ánh mắt. Căn bệnh hoang tưởng kéo anh ra khỏi quỹ đạo bình thường, những người yêu rời đi sau mỗi lần bệnh tái phát. Chị nhìn thấy một con người bị bỏ rơi, một linh hồn vừa rơi khỏi quỹ đạo đời mình, và chị không thể ngoảnh mặt.

Chị đưa anh vào viện. Một tháng dài giữa mùi thuốc sát trùng, những cơn mê sảng, lời nói không đầu không cuối. Có lúc anh xua đuổi chị, có lúc anh nắm chặt tay chị như kẻ sắp chìm. Khi ra viện, anh hỏi: “Em có dám lấy anh không?” Chị gật đầu, như bước vào một canh bạc mà ngay từ đầu đã biết phần thua nhiều hơn. Không đám cưới, chỉ một buổi sáng lạnh ngắt ở Berlin, ký tờ giấy hôn thú mỏng manh như chính số phận.

Thuốc giữ anh lại với thực tại. Nhưng cũng chính thuốc lấy đi phần đàn ông trong anh. Cuộc hôn nhân trôi đi trong nhịp sống khô cằn: anh ăn, rồi ngủ, thức dậy, lại ăn. Nhưng trời thương, một lần gần gũi hiếm hoi, ngắn như một hơi thở, chị mang thai. Rồi thêm lần nữa. Hai đứa trẻ lớn lên giữa những vỉ thuốc im lặng của cha và đôi vai còng của mẹ.

Chị đi làm, kiếm tiền, xây nhà cho gia đình bên chồng, nuôi em chồng ăn học. Sau đó, chị mở văn phòng thuế, kế toán, tài chính, gây dựng từ con số không. Đồng tiền chị kiếm được đều đổ vào hai chữ: gia đình. Chị còn cùng anh dựng nên một công ty phần mềm, để anh đứng tên, nắm toàn quyền – như cách chị đã trao cả cuộc đời mình vào tay anh.

Bệnh trong anh lùi dần, nhưng nghi kỵ, ghen tuông, kiểm soát và bạo lực lớn lên. Những trận cãi vã nối tiếp, lời chửi rủa, cú đánh. Chị ngồi co mình trong góc tối, lắng nghe tiếng thở của con để chắc rằng chúng còn bình yên. Hai mươi năm. Một văn phòng thuế. Một công ty phần mềm. Hàng trăm khách hàng. Một đời người dựng lên bằng mồ hôi, nhẫn nhịn và sợ hãi.

Chị giao tất cả cho anh bằng lòng tin của một người vợ, và anh đe dọa xóa sạch tất cả. Chị sợ, và nhẫn. Cho đến khi các con lớn, ra nước ngoài học thạc sĩ và giờ đều thành tài. Chính lúc này, trong chị xuất hiện một khe sáng nhỏ mà chính chị cũng không ngờ. Chị thuê nhà, mở văn phòng mới, nhờ con trai lớn lấy lại dữ liệu, rồi dắt con út rời đi trong một buổi sáng tuyết phủ trắng lối. Anh không giữ chị lại – anh giữ tài sản.

Hai năm sau, chị sống một đời khác. Không yên bình, nhưng không còn đòn roi, không còn nhục mạ. Chỉ còn một nỗi đau câm lặng: đứa con út không còn cha. Hai năm không cuộc gọi, không quà, không tiền nuôi dưỡng. Một lần đứa bé sốt mê man mười ngày, chị gọi trong tuyệt vọng, số bị chặn, email không hồi đáp. Như thể đứa trẻ ấy chưa từng tồn tại. Còn anh, khỏe mạnh, sẵn công ty, nhà to, tiền bạc, người đàn bà mới. Quá khứ nghèo hèn, bệnh tật của anh được gấp lại gọn gàng như tờ giấy cũ.

Giờ đây, mùa đông lại đến. Chị đứng trước cửa sổ. Tuyết rơi dày. Sau lưng chị, đứa con út ngồi học, cúi đầu giải một bài toán khó, đôi mắt trong veo. “Mẹ ơi, tuyết rơi dày quá…” – chị quay lại, mỉm cười. Ừ, mùa đông đó con. Chị không kể về người cha đã biến mất trong tuyết. Có những điều, nói ra chỉ làm lòng trẻ con lạnh thêm. Ngoài kia, Noel đang đến, đoàn tụ, nhưng trong căn phòng nhỏ này, chỉ có bàn tay bé xíu nằm gọn trong tay chị. Tuyết vẫn rơi, trắng và lạnh.

Nhưng trong căn phòng ấy, có một ánh sáng rất yếu mà bền bỉ – ánh sáng của một đứa trẻ vẫn tin vào ngày mai. Chị khép cửa sổ lại. Ngoài kia là mùa đông. Ở đây, là hai mẹ con. Chị không còn trẻ nữa, nhưng ở tuổi năm mươi hai, chị vẫn đẹp – không phải vẻ đẹp của thanh xuân, mà là vẻ đẹp của một người đã đi qua tận cùng đổ nát mà vẫn giữ được lòng nhân hậu.

Trần Thị Lan Anh

 From: Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 

READ MORE - ÁNH SÁNG GIỮA TUYẾT - Tác giả: Trần Thị Lan Anh,

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

Di tích Tân Sở tại Cam Ranh, Cam Lộ, Quảng Trị

Ảnh từ bachhoaxanh.com


 

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ

Lê Quang Thái 


Bước vào thềm năm mới, tôi nhớ lại câu:

Mã đề dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai khiết thái bình

Đất nước đã thống nhất và hòa bình. Bây giờ cầu gì hơn là cầu thái bình, nghĩa cầu cho nước giàu dân mạnh, dân giàu nước mạnh. Những tháng ngày giáp Tết, người dân Cam Lộ khấp khởi mừng vui khi được biết huyện nhà lập lại và đang bắt tay vào việc tiếp tục khai phá một vùng đất trù phú, đầy triển vọng theo đúng quy hoạch đất có bề dày văn hóa lâu đời.

Thật thế, có một nền văn minh Cam Lộ, không nói ngoa theo lối đao to búa lớn đâu. Một số nhà khảo cổ, nhà sử học, nhà nhân chủng học, nhà địa chất đã chỉ rõ từ lâu rồi. Đó là: Linh mục L. Cadière, Khâm sứ Trung kỳ A. Laborde, Linh mục A. Delvaux (cố Vân), ký giả Henri Le Grauclande, R.P.H de Pirey; gần đây là Linh mục La Fontaine, học giả Hàn lâm viện Pháp Trần Minh Tiết (người Cam Lộ), Giáo sư Thái Công Tụng, Giáo sư Lê Trọng Vinh, giáo sư Sơn Hồng Đức, nhà ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy.

1.Lịch sử hình thành đất Cam Lộ (một chút sử liệu)

Từ đời Lê cho đến đời Nguyễn, Cam Lộ có một quá khứ vàng lụa. Xa xưa lắm, đất này không dính líu nhiều đến chuyện tình của công chúa Huyền Trân. Người Cam Lộ không thừa hưởng sính lễ của Chế Mân dâng hai châu Ô - Lý để nàng công chúa nước Việt về thành Đồ Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Tuy vậy, Cam Lộ vẫn nhận hệ quả ít nhiều của mối tình Chiêm - Việt. Hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng mới là đất Ô châu.

Nguyên xưa đất Cam Lộ là của người Man. Bờ cõi biên cương nước ta tiếp giáp với nước Xiêm, nước Vạn Tượng…

Theo sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), nguồn Cam Lộ xưa gồm hai châu: Sa Bôi và Thuận Bình. Châu Sa Bôi có 11 trang, 60 sách và châu Thuận Bình có 19 sách, 10 động. Đất Cam Lộ ngày xưa bao gồm cả đất Hướng Hóa ngày nay. Giáo sư Phan Khoang, tác giả sách Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, lại nói châu Sa-bôi và châu Thuận Bình. Châu Sa-bôi gồm 10 tổng, 68 xã; châu Thuận Bình có 6 tổng, 26 xã theo bản đồ Thiên Nam dư hạ tập. Ở phần chú tác giả ghi đậm nét: “Xa-bôi [Sa-bôi], Thuận Bình là đất thượng nguồn Cam Lộ, nguồn Sái, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ngày nay, dân cư là người Man”¹. Do phiên âm tiếng người Man, người nói Sa Bôi, người nói Sa-bôi.

Các triều Lê, Nguyễn có chính sách cai trị riêng đối với người dân tộc. Người Man gọi người Kinh là Cà-lơ chợ và họ tự xưng Cà-lơ động. Cà-lơ là danh từ chung có nghĩa là người (tiếng Pháp để nguyên là Les Ca-lơ). Người Man có tâm hồn chất phác. Buổi ban sơ người Man (tiền thân của người dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều, Pa Hy) rất chơn chất. Sau này vì giao tiếp trong thương trường mà giữ “ngón nghề” và cũng biết “sơn quét” nên dần dần trở thành “lịch lãm”, giảm tính chân thật cho khỏi thiệt thòi quyền lợi trong buôn bán, giao tiếp.

Người bản địa biết giữ lễ nghĩa đối với triều đình và vua quan. Hàng năm họ giữ lễ cống trang trọng. Sách Đại Nam thực lục chép:
“Tháng Hai năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807), bảy sách Man ở đạo Cam Lộ vào cống. Bộ Lễ tâu xin cho Thổ tù làm Sách trưởng các sách để thống nhiếp nhau và giữ việc tuế cống hàng năm”.

Trong quá khứ rất gần quan dân Cam Lộ đánh trả quân Xiêm (năm 1941 đổi thành Thái Lan) sang gây hấn, xâm phạm bờ cõi của châu Tầm Bôn dưới triều vua Minh Mạng. Thống chế binh Tượng Phạm Văn Điển, Vệ úy đạo Cam Lộ là Lê Văn Thụy đã chỉ huy cuộc đánh trả vào các năm 1828 và 1834 (sách Quốc triều chánh biên).


¹ Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, (Sài Gòn, 1969), 115.

 

Cam Lộ trở thành đạo từ đầu niên hiệu Gia Long (1802). Đứng đầu có Quan đạo, giúp việc có Hiệp thủ. Theo Thực lục, tháng 11 năm Gia Long thứ 7 (1808) lấy Tri bá Nguyễn Văn Ngôn làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ. Cùng thời điểm này triều đình Huế cũng đặt chức Hiệp thủ Cửa Eo tức là cửa Thuận An ngày nay. Nói thế để mà thấy rõ tầm quan trọng về mặt quốc phòng của đất Cam Lộ. Từ nơi đây có đường đi thông ra bốn phương, tám hướng, ra Bắc vào Nam, đi khắp cùng Đông Nam Á.

Khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XIX, Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong đã giữ chức Tri huyện Thành Hóa, tức huyện Cam Lộ ngày nay. Đến năm 1867, Nguyễn Văn Tường lại được triều đình Huế giao lãnh chức Bang biện Cam Lộ, sang chức Khâm sai Kinh lý Cam Lộ.

Bang biện là lưu quan (chức quan do nhà nước cử đến) do vua sai phái để làm nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng và ngoại giao.

2. Từ Nha sơn phòng Quảng Trị đến chiến khu Tân Sở Quảng Trị

Vì tính cách trọng yếu về mặt quốc phòng, năm 1867 triều đình Huế thiết lập Nha sơn phòng Quảng Trị.

Theo biên chế nhà nước, cơ sở cấp nha là thuộc quyền quản nhiệm của trung ương. Nha sơn phòng Quảng Trị được lập năm 1867 trước sơn phòng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Vẫn theo sách Đại Nam nhất thống chí, nguyên Khâm sai Kinh lý Cam Lộ là Nguyễn Văn Tường xin đặt Nha Kinh lý ở xứ Đồng Mão. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) cải làm Sơn phòng nha quản hạt Cam Lộ, gồm hai huyện Thành Hóa (nay là Cam Lộ) và Hướng Hóa.

Sách Đại Nam thực lục (đệ ngũ kỷ, quyển 11) cho biết rõ về chiến khu Tân Sở hình thành từ tháng Chạp năm Quý Mùi (1883) như sau:
“Di chuyển Nha đóng ở sơn phòng Quảng Trị cùng với Nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên Nha sơn phòng và phủ Cam Lộ trước đặt ở địa phận xứ Đồng Ngang, huyện Thành Hóa. Quan mật viện lý chỉ ông Nguyễn Văn Tường tâu rằng: ‘Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô. Chuẩn cho quan sơn phòng này xem xét tường tận lại, tăng thêm kinh lý. Quan nói theo coi sơn phòng này cho rằng, địa thế ở đây chật hẹp, đã khảo sát được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xã Bảng Sơn”.

Vua chuẩn lời ý tấu của vị đạo thần. Tương truyền từ trong dân gian rằng xưa kia ở địa điểm mới, có con cầu hoạt động. Cầu là một loại rồng có hai ngà nên gọi là lang cầu. Địa thế nơi đây rộng rãi, có thể thiết lập thành một căn cứ quân sự chuẩn bị phòng khi kinh thành Huế hữu sự.

Một nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng của sơn phòng là lo khai hoang lập ấp theo chính sách đồn điền đã có từ thời chúa Nguyễn.

Ban đầu, Nha sơn phòng Quảng Trị vào năm Tự Đức thứ 29 (1876) có đặt Chánh phó sứ, Nha thuộc, viên dịch và cơ lính Đinh Man (10 đội; 456 viên danh). Năm Giáp Thân (1884) lại đặt thêm Tham biện và quan Lãnh binh. Như thế mới biết tầm quan trọng về quân sự, quốc phòng của Tân Sở lớn lao như thế nào. Theo quan chức chế thì chỉ ở bộ mới có chức Tham biện, ở tỉnh mới có chức Lãnh binh hoặc Đề đốc.

Đến đời vua Thành Thái, thực dân Pháp đã “thành công” trong việc đặt nền bảo hộ, Nha sơn phòng Quảng Trị bị bãi bỏ. Còn ai phá chiến khu Tân Sở lần đầu tiên? Đại úy Le Pepit phá hủy san bằng vào tháng Chín năm Ất Dậu (1885). Pepit là quan cấp thấp nhưng dám triệt hạ Tân Sở theo De Courcy, không làm thì lột loong quan ba Tây như chơi.

Ôi! Xứ Cùa “ngọt mít thơm dầu”, nơi có chiến khu Tân Sở, ngày nay thuộc xã Cam Chính, huyện Cam Lộ. Tết này, tôi đăng ký trước xin xã cho ăn Tết để đi tắm làng Tân Sở, Tân Lâm, Tân Trúc, Tân Trại… May ra tìm được sắc phong của ông Nguyễn Văn Tường làm khai khẩn. Nơi đây dân có lập đền thờ Kỳ Vĩ bá quận công – Quận công tước vị cao nhất vì:

Tước hữu ngũ (công, hầu, bá, tử, nam) sĩ cư kỳ liệt

Dân hữu tứ (sĩ, nông, công, thương) sĩ vi chi tiên

 

3. Quê hương là rừng mít ngọt!

Từ miệt đồng bằng phủ Triệu Phong, ở Cửa Việt, Cửa Tùng nông dân, hào kiệt, sĩ phu vọng về Tân Sở, hướng đến Cùa, đến nguồn Cam Lộ:

         Ai lên nhắn với họ nguồn
          Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

Cam Lộ có măng giang, có mít nài. Đặc sản thì nhiều xin kể dọn món mít rất ngọt ngào tình thương. Cây mít có từ xứ Tây Trúc bên Ấn Độ. Chữ madhu là cây mít lan tỏa khắp năm châu thế giới.

Năm 1967, tôi tìm thăm học giả thượng thặng về ngữ học là Giáo sư Lê Ngọc Trụ. Thầy Trụ nói về từ mít. Nào là Việt Nam có tiếp vị ngữ “ít” như (bọ) xít, (nước) xít, (chăn) rít, xa (tít). Riêng từ mít thì gốc gác nó như sau: “Tiếng cổ Slave là MEDU, cổ Anh ngữ là ME(O)DU, cổ Đức ngữ miền Nam là METU, tiếng Ái Nhĩ Lan là MID, và do gốc MELI của Hy Lạp và MEL, MEDLIS của La Tinh mà tiếng Pháp có MEIL (mật ong), MEILLÉ (pha mật), MIELLEUX (ngọt ngào, lời đường mật) và tiếng MÉLASSE (mật mía); tiếng Ý có MEILLE, MELASSE, tiếng I Pha Nho có MIEL, MILOZA, tiếng Cao Ly có MIL, tiếng Nhật có MITU.

Tàu có MẬT, tiếng Quảng Đông là MẠCH; giọng Quan Thoại là , giọng HAKKA (tức nước Hẹ) là MÍT. MẬT tiếng Hán Việt được Việt hóa, âm thanh và có ý nghĩa không biến đổi” (Cour ngữ học của thầy Lê Ngọc Trụ).

Ngày Tết thì có thêm chàng, thêm cả xơ mít, nước mắm mít, cộ mít. Cộ mít là loại bánh có bỏ mít múi khô vào bột, đường mỡ rồi nén cho thành khúc bánh, xong đem cắt thành từng lát. Nếu đem chiêu đãi khách đến mừng tuổi sau khi đã cúng ông bà rồi thì tuyệt. Lẽ tất nhiên, đó chỉ mới một món, còn nhiều món nữa mặn lạt đều có. Người Cam Lộ hiếu khách lắm.

Viết cả đề kể ngông, lời quê chắp nhặt quá nhiều, làm độc giả mất thời gian du xuân, hưởng xuân bất tận. Cầu cho quốc thái dân an và đầu xuân Nhâm Thân như lời trích từ Kinh Thi:

Lạc thổ lạc thổ Viên đắc ngã sở

Dịch là:

Đất đạo đức, đất yên vui Là nơi ta đã được thích lòng

(Nguyễn Văn Mại)

Khí vận mới đã về với đất Cam Lộ, cho hay trời phải chiều người vì DÂN LÀ GỐC NƯỚC. Việc còn lại là làm sao cho huyện Cam Lộ giàu mạnh.

(Tạp chí Văn hóa Quảng Trị. Số 04.1992)

 

 

 

READ MORE - TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái