 |
Di tích Tân Sở tại Cam Ranh, Cam Lộ, Quảng Trị Ảnh từ bachhoaxanh.com
|
TẢN MẠN VỀ CAM LỘ
Lê Quang Thái
Bước vào thềm năm
mới, tôi nhớ lại câu:
Mã đề dương cước
anh hùng tận, Thân Dậu niên lai khiết thái bình
Đất nước đã thống
nhất và hòa bình. Bây giờ cầu gì hơn là cầu thái bình, nghĩa cầu cho nước giàu
dân mạnh, dân giàu nước mạnh. Những tháng ngày giáp Tết, người dân Cam Lộ khấp
khởi mừng vui khi được biết huyện nhà lập lại và đang bắt tay vào việc tiếp tục
khai phá một vùng đất trù phú, đầy triển vọng theo đúng quy hoạch đất có bề dày
văn hóa lâu đời.
Thật thế, có một
nền văn minh Cam Lộ, không nói ngoa theo lối đao to búa lớn đâu. Một số nhà khảo
cổ, nhà sử học, nhà nhân chủng học, nhà địa chất đã chỉ rõ từ lâu rồi. Đó là:
Linh mục L. Cadière, Khâm sứ Trung kỳ A. Laborde, Linh mục A. Delvaux (cố Vân),
ký giả Henri Le Grauclande, R.P.H de Pirey; gần đây là Linh mục La Fontaine, học
giả Hàn lâm viện Pháp Trần Minh Tiết (người Cam Lộ), Giáo sư Thái Công Tụng,
Giáo sư Lê Trọng Vinh, giáo sư Sơn Hồng Đức, nhà ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy.
1.Lịch sử hình thành đất Cam Lộ (một chút sử liệu)
Từ đời Lê cho đến
đời Nguyễn, Cam Lộ có một quá khứ vàng lụa. Xa xưa lắm, đất này không dính líu
nhiều đến chuyện tình của công chúa Huyền Trân. Người Cam Lộ không thừa hưởng
sính lễ của Chế Mân dâng hai châu Ô - Lý để nàng công chúa nước Việt về thành Đồ
Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Tuy vậy, Cam Lộ vẫn nhận hệ quả ít nhiều của mối
tình Chiêm - Việt. Hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng mới là đất Ô châu.
Nguyên xưa đất
Cam Lộ là của người Man. Bờ cõi biên cương nước ta tiếp giáp với nước Xiêm, nước
Vạn Tượng…
Theo sách Đại
Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), nguồn Cam Lộ xưa gồm hai châu: Sa Bôi
và Thuận Bình. Châu Sa Bôi có 11 trang, 60 sách và châu Thuận Bình có 19 sách,
10 động. Đất Cam Lộ ngày xưa bao gồm cả đất Hướng Hóa ngày nay. Giáo sư Phan
Khoang, tác giả sách Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, lại nói châu
Sa-bôi và châu Thuận Bình. Châu Sa-bôi gồm 10 tổng, 68 xã; châu Thuận Bình có 6
tổng, 26 xã theo bản đồ Thiên Nam dư hạ tập. Ở phần chú tác giả ghi đậm
nét: “Xa-bôi [Sa-bôi], Thuận Bình là đất thượng nguồn Cam Lộ, nguồn Sái, huyện
Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ngày nay, dân cư là người Man”¹. Do phiên âm tiếng người
Man, người nói Sa Bôi, người nói Sa-bôi.
Các triều Lê,
Nguyễn có chính sách cai trị riêng đối với người dân tộc. Người Man gọi người
Kinh là Cà-lơ chợ và họ tự xưng Cà-lơ động. Cà-lơ là danh từ chung có nghĩa là
người (tiếng Pháp để nguyên là Les Ca-lơ). Người Man có tâm hồn chất
phác. Buổi ban sơ người Man (tiền thân của người dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều, Pa
Hy) rất chơn chất. Sau này vì giao tiếp trong thương trường mà giữ “ngón nghề”
và cũng biết “sơn quét” nên dần dần trở thành “lịch lãm”, giảm tính chân thật
cho khỏi thiệt thòi quyền lợi trong buôn bán, giao tiếp.
Người bản địa biết
giữ lễ nghĩa đối với triều đình và vua quan. Hàng năm họ giữ lễ cống trang trọng.
Sách Đại Nam thực lục chép:
“Tháng Hai năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807), bảy sách Man ở đạo Cam Lộ vào cống.
Bộ Lễ tâu xin cho Thổ tù làm Sách trưởng các sách để thống nhiếp nhau và giữ việc
tuế cống hàng năm”.
Trong quá khứ rất
gần quan dân Cam Lộ đánh trả quân Xiêm (năm 1941 đổi thành Thái Lan) sang gây hấn,
xâm phạm bờ cõi của châu Tầm Bôn dưới triều vua Minh Mạng. Thống chế binh Tượng
Phạm Văn Điển, Vệ úy đạo Cam Lộ là Lê Văn Thụy đã chỉ huy cuộc đánh trả vào các
năm 1828 và 1834 (sách Quốc triều chánh biên).
¹ Phan Khoang, Việt
sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, (Sài Gòn, 1969), 115.
Cam Lộ trở thành
đạo từ đầu niên hiệu Gia Long (1802). Đứng đầu có Quan đạo, giúp việc có Hiệp
thủ. Theo Thực lục, tháng 11 năm Gia Long thứ 7 (1808) lấy Tri bá Nguyễn
Văn Ngôn làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ. Cùng thời điểm này triều đình Huế cũng đặt chức
Hiệp thủ Cửa Eo tức là cửa Thuận An ngày nay. Nói thế để mà thấy rõ tầm quan trọng
về mặt quốc phòng của đất Cam Lộ. Từ nơi đây có đường đi thông ra bốn phương,
tám hướng, ra Bắc vào Nam, đi khắp cùng Đông Nam Á.
Khoảng đầu thập kỷ
50 của thế kỷ XIX, Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện
Triệu Phong đã giữ chức Tri huyện Thành Hóa, tức huyện Cam Lộ ngày nay. Đến năm
1867, Nguyễn Văn Tường lại được triều đình Huế giao lãnh chức Bang biện Cam Lộ,
sang chức Khâm sai Kinh lý Cam Lộ.
Bang biện là lưu
quan (chức quan do nhà nước cử đến) do vua sai phái để làm nhiệm vụ quan trọng
về quốc phòng và ngoại giao.
2. Từ Nha sơn
phòng Quảng Trị đến chiến khu Tân Sở Quảng Trị
Vì tính cách trọng
yếu về mặt quốc phòng, năm 1867 triều đình Huế thiết lập Nha sơn phòng Quảng
Trị.
Theo biên chế nhà
nước, cơ sở cấp nha là thuộc quyền quản nhiệm của trung ương. Nha sơn phòng Quảng
Trị được lập năm 1867 trước sơn phòng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Bình và Hà
Tĩnh. Vẫn theo sách Đại Nam nhất thống chí, nguyên Khâm sai Kinh lý Cam
Lộ là Nguyễn Văn Tường xin đặt Nha Kinh lý ở xứ Đồng Mão. Năm Tự Đức thứ 29
(1876) cải làm Sơn phòng nha quản hạt Cam Lộ, gồm hai huyện Thành Hóa (nay là
Cam Lộ) và Hướng Hóa.
Sách Đại Nam
thực lục (đệ ngũ kỷ, quyển 11) cho biết rõ về chiến khu Tân Sở hình thành từ
tháng Chạp năm Quý Mùi (1883) như sau:
“Di chuyển Nha đóng ở sơn phòng Quảng Trị cùng với Nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên Nha
sơn phòng và phủ Cam Lộ trước đặt ở địa phận xứ Đồng Ngang, huyện Thành Hóa.
Quan mật viện lý chỉ ông Nguyễn Văn Tường tâu rằng: ‘Sơn phòng của Quảng Trị có
thể làm hậu lộ cho kinh đô. Chuẩn cho quan sơn phòng này xem xét tường tận lại,
tăng thêm kinh lý. Quan nói theo coi sơn phòng này cho rằng, địa thế ở đây chật
hẹp, đã khảo sát được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xã Bảng
Sơn”.
Vua chuẩn lời ý tấu
của vị đạo thần. Tương truyền từ trong dân gian rằng xưa kia ở địa điểm mới, có
con cầu hoạt động. Cầu là một loại rồng có hai ngà nên gọi là lang cầu. Địa thế
nơi đây rộng rãi, có thể thiết lập thành một căn cứ quân sự chuẩn bị phòng khi
kinh thành Huế hữu sự.
Một nhiệm vụ khác
không kém phần quan trọng của sơn phòng là lo khai hoang lập ấp theo chính sách
đồn điền đã có từ thời chúa Nguyễn.
Ban đầu, Nha sơn
phòng Quảng Trị vào năm Tự Đức thứ 29 (1876) có đặt Chánh phó sứ, Nha thuộc,
viên dịch và cơ lính Đinh Man (10 đội; 456 viên danh). Năm Giáp Thân (1884) lại
đặt thêm Tham biện và quan Lãnh binh. Như thế mới biết tầm quan trọng về quân sự,
quốc phòng của Tân Sở lớn lao như thế nào. Theo quan chức chế thì chỉ ở bộ mới
có chức Tham biện, ở tỉnh mới có chức Lãnh binh hoặc Đề đốc.
Đến đời vua Thành
Thái, thực dân Pháp đã “thành công” trong việc đặt nền bảo hộ, Nha sơn phòng Quảng
Trị bị bãi bỏ. Còn ai phá chiến khu Tân Sở lần đầu tiên? Đại úy Le Pepit phá hủy
san bằng vào tháng Chín năm Ất Dậu (1885). Pepit là quan cấp thấp nhưng dám triệt
hạ Tân Sở theo De Courcy, không làm thì lột loong quan ba Tây như chơi.
Ôi! Xứ Cùa “ngọt
mít thơm dầu”, nơi có chiến khu Tân Sở, ngày nay thuộc xã Cam Chính, huyện Cam
Lộ. Tết này, tôi đăng ký trước xin xã cho ăn Tết để đi tắm làng Tân Sở, Tân
Lâm, Tân Trúc, Tân Trại… May ra tìm được sắc phong của ông Nguyễn Văn Tường làm
khai khẩn. Nơi đây dân có lập đền thờ Kỳ Vĩ bá quận công – Quận công tước vị
cao nhất vì:
Tước hữu ngũ
(công, hầu, bá, tử, nam) sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ (sĩ,
nông, công, thương) sĩ vi chi tiên
3. Quê hương
là rừng mít ngọt!
Từ miệt đồng bằng
phủ Triệu Phong, ở Cửa Việt, Cửa Tùng nông dân, hào kiệt, sĩ phu vọng về Tân Sở,
hướng đến Cùa, đến nguồn Cam Lộ:
Ai lên nhắn với
họ nguồn
Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên
Cam Lộ có măng
giang, có mít nài. Đặc sản thì nhiều xin kể dọn món mít rất ngọt ngào tình
thương. Cây mít có từ xứ Tây Trúc bên Ấn Độ. Chữ madhu là cây mít lan tỏa
khắp năm châu thế giới.
Năm 1967, tôi tìm
thăm học giả thượng thặng về ngữ học là Giáo sư Lê Ngọc Trụ. Thầy Trụ nói về từ
mít. Nào là Việt Nam có tiếp vị ngữ “ít” như (bọ) xít, (nước) xít, (chăn)
rít, xa (tít). Riêng từ mít thì gốc gác nó như sau: “Tiếng cổ Slave là MEDU,
cổ Anh ngữ là ME(O)DU, cổ Đức ngữ miền Nam là METU, tiếng Ái Nhĩ
Lan là MID, và do gốc MELI của Hy Lạp và MEL, MEDLIS của
La Tinh mà tiếng Pháp có MEIL (mật ong), MEILLÉ (pha mật), MIELLEUX
(ngọt ngào, lời đường mật) và tiếng MÉLASSE (mật mía); tiếng Ý có MEILLE,
MELASSE, tiếng I Pha Nho có MIEL, MILOZA, tiếng Cao Ly có MIL,
tiếng Nhật có MITU.
Tàu có MẬT,
tiếng Quảng Đông là MẠCH; giọng Quan Thoại là MÍ, giọng HAKKA
(tức nước Hẹ) là MÍT. MẬT tiếng Hán Việt được Việt hóa, âm thanh và có ý
nghĩa không biến đổi” (Cour ngữ học của thầy Lê Ngọc Trụ).
Ngày Tết thì có
thêm chàng, thêm cả xơ mít, nước mắm mít, cộ mít. Cộ mít là loại bánh có
bỏ mít múi khô vào bột, đường mỡ rồi nén cho thành khúc bánh, xong đem cắt
thành từng lát. Nếu đem chiêu đãi khách đến mừng tuổi sau khi đã cúng ông bà rồi
thì tuyệt. Lẽ tất nhiên, đó chỉ mới một món, còn nhiều món nữa mặn lạt đều có.
Người Cam Lộ hiếu khách lắm.
Viết cả đề kể
ngông, lời quê chắp nhặt quá nhiều, làm độc giả mất thời gian du xuân, hưởng
xuân bất tận. Cầu cho quốc thái dân an và đầu xuân Nhâm Thân như lời trích từ
Kinh Thi:
Lạc thổ lạc thổ
Viên đắc ngã sở
Dịch là:
Đất đạo đức, đất
yên vui Là nơi ta đã được thích lòng
(Nguyễn Văn Mại)
Khí vận mới đã về
với đất Cam Lộ, cho hay trời phải chiều người vì DÂN LÀ GỐC NƯỚC. Việc còn lại
là làm sao cho huyện Cam Lộ giàu mạnh.
(Tạp chí Văn hóa
Quảng Trị. Số 04.1992)