Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Tản văn. Show all posts
Showing posts with label Tản văn. Show all posts

Tuesday, October 6, 2026

KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn



Ký ức mùa bần

Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn


Tôi về quê trong một buổi sớm cuối thu, khi những ngọn gió heo may khẽ lướt qua. Bến sông quê vẫn đó, hiền hòa gợn sóng như đang chờ đợi tôi. Và ngay bên bến sông ấy, tôi gặp lại mấy người bạn cũ. Bên cây cừa cổ thụ, họ đang thả hồn vào ly cà phê sáng trong không khí thanh bình nơi góc quán quê nhà. Tay nâng ly cà phê bạn mời mà lòng cứ xốn xang nhìn về rặng bần cuối làng. Sau những giọt cà phê đăng đắng như ghi vào ký ức một dấu lặng, chúng tôi cùng nhau lên chiếc xuồng máy của bạn đi về phía bãi bần sau xóm Sáo. Càng đến gần bãi bần,  mùi thơm chua ngọt của bần chín, mùi thơm thanh khiết của hoa bần đang nở, tất cả quyện vào trong làn gió thoảng nhẹ, phảng phất đầu sóng mũi như hương quê nhà. Con sông Long Đại vẫn êm trôi; rặng bần vẫn rậm rì bên sông. Nhưng gương mặt mấy đứa bạn bây giờ đã in hằn những vết chai sạn sương gió của thời gian.

Dòng sông Long Đại quê tôi vào mùa này sau những cơn mưa không còn xanh ngắt như mùa hè. Nước sông đục một màu phù sa trên nguồn Côộc đổ về mang theo những đám lục bình rung rinh chùm hoa tím. Dọc theo bờ sông phía cuối đuồi làng là những rặng bần mọc ken dày, gốc cắm sâu xuống lớp bùn non, cành lá rậm rì tỏa bóng mát như cất dấu những ký ức tuổi thơ.

Bao nhiêu năm xa quê, đi qua biết bao miền đất, tôi vẫn không quên được mùi hương ngai ngái của mùa bần chín bên sông. Cái mùi vừa ngọt vừa chua, lẫn trong gió sông và mùi bùn đất quê nghèo, cứ âm thầm bám riết lấy ký ức như một phần máu thịt.

Ngày ấy, lũ trẻ chúng tôi coi rặng bần ven sông như cả một thế giới riêng. Mỗi mùa nước lên, những gốc bần già lại đâm bộ rễ khí tua tủa như chông. Mùa nước ròng, dưới gốc bần là vô số hang hốc cho cua, cá, tôm trú ngụ. Thường vào độ giữa thu là bần chín rộ. Những buổi trưa sau khi trốn ngủ, chúng tôi rủ nhau ra sông hái bần. Trái bần chín vàng lẫn trong màu lá xanh, chen lẫn bông hoa màu trắng ngà đang nở. Chỉ cần rung mạnh cành là quả rơi lộp bộp xuống nước.

Thân bần sần sùi, như chính cuộc đời người quê. Nhưng cái vị chua thanh pha chút ngọt dịu của trái bần lại khiến đứa nào cũng mê. Có hôm tôi hái nhiều quả đã già, mẹ đem nấu canh cá lóc, cá ngạnh…mùi thơm lan khắp bếp quyện với mùi khói rơm cay xè. Có những món ăn dân dã mà người dân quê tôi thường hay dùng là: bần xắt lát hoặc xẻ tư kho chung với cá, vị chua ngọt của bần thấm vào thịt cá giúp thịt săn chắc và bớt tanh; bần sống xắt lát chấm ruốc biển hay mắm cáy ăn kèm cơm nóng; thịt heo luộc bóp bần non và rau thơm. Những món ăn xưa ấy chừng như ngon hơn cả sơn hào hải vị bây giờ.

Dưới những gốc bần um tùm còn là thiên đường của lũ cua dèm nhỏ như quả trứng ngỗng bò lổm ngổm. Mỗi lần nước ròng, bọn trẻ chúng tôi lại lom khom mò ngao, bắt ốc… Có đứa lấm cát bùn tới tận đầu gối vẫn cười toe toét vì vừa thò tay vào hang đã túm được con cá bống to như cán dao. Tuổi thơ quê nghèo, chiến tranh thiếu thốn đủ điều, nhưng niềm vui cứ theo chúng tôi bằng những ngày bình yên như thế.

Ký ức về rặng bần không những là nơi lưu giữ tiếng cười trẻ nhỏ, mà còn là nơi cất giấu cả một thời bom đạn đau thương mà hào hùng. Những năm chiến tranh, dòng sông Long Đại là mạch máu giao thông quan trọng. Máy bay Mỹ thường quần thảo suốt ngày đêm. Mỗi khi nghe tiếng động cơ gầm rú từ phía xa, cả xóm lại hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn. Lũ trẻ chúng tôi khi ấy còn nhỏ, chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghe tiếng bom máy bay Mỹ dội xuống, tiếng đạn pháo cao xạ của bộ đội bủa vây quạ sắt; chỉ biết lao xuống những chiếc hầm chữ A để ẩn nấp. Rồi tiếp đó là tiếng hét nhà cháy, tiếng rên la của người bị thương, tiếng khóc thảm thiết của ai đó khi có người thân vừa mất… thật tàn khốc và ác liệt.

Những tán bần rậm rì che kín mặt sông, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh um tùm. Nhờ vậy mà máy bay địch không phát hiện thuyền bè vận tải, ca nô chở lương thực, đạn dược của bộ đội đang ẩn náu dưới bãi bần bên sông, âm thầm chờ đợi đêm về xuất bến...

Lũ trẻ chúng tôi nhiều khi đi hái bần, lượm củi bần xong lại tò mò, mon men lại gần xem những chiếc ca nô trên sông được phủ một lớp vải dù hoa. Gặp các chú bộ đội, ai cũng gầy nhưng ánh mắt sáng và nụ cười hiền lắm. Có chú còn chia cho bọn tôi vài chiếc kẹo Hải Châu ngon không tưởng.

Tôi vẫn nhớ như in một lần khi cả mấy đứa bạn đang trèo hái bần thì máy bay nhào xuống thả bom. Chúng tôi không tuột xuống kịp, chỉ biết ôm chặt thân bần, miệng lẩm bẩm: “Lạy trời”. Một đứa trong bọn khi tuột xuống khóc nức nở. Mấy đứa xúm lại tưởng nó bị thương. Nhưng không phải, là vì sợ quá mà nó tè dầm ướt cả chiếc quần đùi đang mặc. Mấy đứa nhìn bạn, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lúc ấy, mặt đứa nào đứa nấy lem luốc bùn và vỏ bần chín. Bây giờ nhắc lại không đứa nào còn cười mà nét mặt hằn lên bao ký ức năm tháng của một thời con nít.

Chiến tranh đi qua đã lâu. Dòng sông Long Đại hôm nay đã yên bình trong không khí vui tươi. Những chiếc ca nô quân sự năm nào không còn nữa. Tiếng bom đạn cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng rặng bần ven sông vẫn còn đó, âm thầm soi bóng xuống mặt nước như đang giữ nét đẹp cho hồn quê.

Tôi cùng đám bạn già đi dọc bờ sông. Đứa tóc đã bạc, đứa lưng đã còng, vậy mà vừa nhìn thấy trái bần chín là lại chỉ trỏ, xuýt xoa như đánh thức những kỷ niệm thời trẻ nhỏ. Chúng tôi không còn trèo bần như ngày xưa, vì không dám. Đã U70 cả rồi lỡ rời tay ngã xuống thì chỉ khổ thân, khổ con cháu. Chúng tôi chỉ nhặt mấy quả chín rụng, đưa lên mũi hít hà như đánh thức những hoài niệm.

Tôi đứng lặng dưới rặng bần già, nhìn bóng nắng trưa loang xuống mặt sông. Gió nhẹ thổi lên mang theo mùi quen thuộc của  hương bần và mùi bùn đất. Với tôi, mùa bần quê Long Đại chính là một phần ký ức như thế. Một mùa của tuổi thơ, của tình bạn, của quê hương và của những năm tháng không bao giờ có thể quên.

Hôm nay, những rặng bần bên dòng Long Đại không chỉ còn là ký ức của tuổi thơ hay dấu tích của chiến tranh năm xưa. Chúng đang ngày ngày âm thầm giữ đất, giữ làng cho quê hương. Sau bao mùa mưa lũ dữ dội của miền Trung, tôi càng hiểu giá trị của những gốc bần già ven sông. Bộ rễ của chúng cắm sâu và tỏa rộng dưới lòng bùn như những cánh tay bền bỉ níu giữ bờ đất cho quê nhà. Mỗi khi nước lũ dâng cao, sóng đánh ầm ào vào mép sông, chính những rặng bần ấy đã che chắn và làm dịu dòng nước dữ, ngăn cho bờ sông khỏi bị xói lở.

Trời đã trưa, mấy người bạn lại lên xuồng ngược dòng. Tôi quay đầu lặng nhìn hàng bần, bỗng thấy chúng giống như những người lính già lặng lẽ suốt bao năm tháng để che chở cho xóm làng. Có lẽ vì thế mà người quê tôi biết trồng thêm bần, và bảo vệ chúng.

Chiếc xuồng máy chạy chậm lại. Chúng tôi cùng ngồi  im lặng bên nhau, để mặc cho làn gió sông phả nhẹ vào mặt; đang âm thầm góp nhặt lại từng kỷ niệm tuổi thơ - nơi bến sông này đã từng chứng kiến biết bao ước mơ, bao kỷ niệm hồn nhiên của một thời tuổi trẻ. 

 

 

Nguyễn Đại Duẫn (Hội viên Hội VHNT Quảng Tri)

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

 

READ MORE - KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn

Friday, September 25, 2026

TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn



TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA:

 NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ 

ĐỖ TƯ NHƠN

 

Mỗi khi tưởng nhớ những người bạn trân quý một thời dưới mái trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã sớm lìa cõi tạm về chốn vĩnh hằng, lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động. Điều đó khiến tôi tìm lại trong ký ức từng khuôn mặt,dáng hình, mượng tượng từng cử chỉ, nụ cười…nhằm phác thảo bức chân dung tinh thần của bằng hữu.Tôi đã thắp nén tâm hương mỗi độ xuân về để thương tiếc các anh Phan Phụng Thạch, Trần Thương Bá, Đặng Sĩ Tịnh, Trần Đình Bé trong từng giai phẩm Hương Quê Nhà (SG) đặc san Nguyễn Hoàng (Huế) . 

Giờ đây, cùng với những trang Di cảo của anh Trần Văn Lữ, do người em trai là Trần Thiện Tài công bố, tôi xin gợi lại đôi nét về anh.

Trần Văn Lữ (tức Thạch) sinh năm 1942, xuất thân trong một gia đình nhà giáo, quê nội ở làng Quảng Lượng, Triệu Phong, Quảng Trị.Thân mẫu của anh thuộc dòng tộc lớn của làng Thạch Hãn. Khu vườn nhà anh rộng rãi với cây trái sum suê nằm cạnh con đường thẳng tắp, hai bên là những bức tường gạch dài, chiếc cổng bằng gỗ thường khép kín của một đại điền chủ giàu có. Con đường này rất đẹp, ban đêm mùi hoa dạ lan hương từ các sân vườn tỏa ra thơm ngát, phảng phất trên mái tóc những cô gái, chàng trai từng bước chân chầm chậm thầm thì câu chuyện trăng sao. Những anh em họ Đoàn có truyền thống học giỏi, mấy chị em họ Trần hiền thục duyên dáng đáng yêu cùng từ con đường này đến trường Nguyễn Hoàng. Gần đây, con đường này được mang tên của ngôi làng xưa, có biển đề Thạch Hãn, một chứng tích lưu giữ hồn quê giữa phố thị. Hồi đó, tôi học sau anh Trần Văn Lữ hai lớp nên chưa quen anh, chỉ biết cô em gái Dạ Hương ngày ngày đi học cùng các bạn. Anh theo học ở Viện Hán học - Huế khóa 1960-1965, đồng thời với Lý Văn Nghiên, Hoàng Đằng, Trần Văn Dật. Lúc mới ra trường, anh dạy ở trung học Quảng Phước, Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1969, thuyên chuyển về Nguyễn Hoàng. 

Năm 1970, tôi về dạy cùng trường, kết bạn với anh và Phan Phụng Thạch.Tính anh rất hiền lành và khiêm tốn, trên môi thường nở nụ cười, bạn bè và học sinh rất thương mến. Hằng ngày anh đi qua con đường trước ngõ nhà tôi để đến trường. Chúng tôi trao đổi cho nhau những sáng tác, các tài liệu văn học, tham gia Đặc san Xuân 1971, Hội mùa xuân 1972. Ngoài ra, với bút danh Trần Lãng Tử, anh đã góp mặt trên tạp chí Chim Việt do anh Hồ Thế Vĩnh chủ biên. Còn nhớ những ngày chuẩn bị giai phẩm HỘI MÙA XUÂN (HMX), chúng tôi đã chia nhau đọc bài của học sinh gửi đến thật phong phú, đa dạng. Các thầy cô Phạm Sữu, Phan Phụng Thạch, Trần Văn Lữ, Văn Chương, Trần Kiêm Đoàn, Võ Thị Hồng, Nguyễn Thiện…đã viết bài và giúp trưởng ban biên tập rất nhiều để chọn lựa những tinh hoa đưa vào vườn thơ văn HMX, đó là những ngòi bút tài năng đầy triễn vọng như Nguyễn Tùng, Thái Đào, Võ Thị Quỳnh, Nguyễn Đặng Mừng,Võ Văn Hoa, Đỗ Huy Sanh, Hoàng Văn Chẫm…, mà đến nay, ít nhiều đã khẳng định được vóc dáng của mình qua tác phẩm. Bên cạnh các đồng nghiệp, anh Trần Văn Lữ gởi đăng bài “Mùa xuân, hoa đào và ông đồ già trong thơ Vũ Đình Liên". Hãy lần giở giai phẩm H M X của 52 năm trước để nghe thầy giáo văn chương bình thơ thật tâm huyết :

‘’Nho học dần dần được thay thế bằng Tây học…Người ta quên “ông đồ”, trời đất dường như ngậm ngùi cho nhân thế. Vũ Đình Liên lại bày tỏ niềm thương cảm đầy bâng khuâng,lưu luyến ,băn khoăn về “cái di tích tiều tụy đáng thương một thời tàn” (Hoài Thanh- Thi nhân VN ).

"Năm nay hoa đào nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ? ‘’

Từ "Ông đồ già” của Vũ Đình Liên, anh Trần Văn Lữ đã liên tưởng tới những người đồng nghiệp trong sự cảm thông sâu sắc và ngậm ngùi xót xa: “Ngày nay, trong những năm dài chinh chiến, nhiều vị giáo viên, giáo sư đã âm thầm nằm xuống sau những năm tháng đem hết sức, tâm huyết giảng huấn, truyền đạt, hy sinh. Có người chết ngay cả khi đang làm “sứ mệnh” giảng dạy. Họ chết đi, không hiểu linh hồn họ có được thảnh thơi siêu thoát hay còn dật dờ đây đó buồn thương, chán ngán cho thế sự nhân tâm, "Hồn ở đâu bây giờ".  Họ đã chết đi để cho những mầm non do họ chăm sóc, lo lắng,uốn nắn từng ngày,từng giờ sẽ sống vươn cao nơi xứ mình, xứ người."

Cuối cùng là điều băn khoăn day dứt từ tâm khảm của thầy Trần Văn Lữ vô cùng chân thành thiết tha,nói hộ cho đồng nghiệp muôn đời.

"Có còn ai nghĩ tưởng về những vị ân sư trẻ trung hay già nữa không đây?!"

Tấm lòng đối với thầy cô NH năm xưa đã được các cựu học sinh thể hiện trong cuộc sống,trên trang viết tri ân thắm đậm tình nghĩa thầy trò của báo Nguyễn Hoàng khắp nơi.Xin quý thầy cô, anh chị yên lòng về truyền thống nhân văn cao đẹp ấy của đại gia đình mang tên Chúa Tiên.

Năm 1972, sau hội mùa xuân rộn ràng diễn ra trên sân trường Nguyễn Hoàng, lửa đạn chiến tranh đã ập vào Quảng Trị, người dân bỏ quê vượt đèo Hải Vân tỵ nạn, thầy trò bỏ lại ngôi trường thân yêu. Lúc này, hai địa điểm tạm thời để học sinh tiếp tục trau dồi kiến thức là trại tạm cư Hòa Khánh và Non Nước, thuộc Đà Nẵng. Làm sao diễn tả hết nỗi lòng của con người Quảng Trị khi nhìn về quê nhà xa xôi đang bị bom đạn cày xới. Không thể vô tư, nhà thơ Trần Lãng Tử, ngày đêm bồn chồn tiếc nhớ từng con đường, hàng cây, giáo đường, ngôi chùa, quán ca fe, góc chợ, hiệu sách, dòng sông, bến nước, cây cầu … Trong Di cảo của anh Trần Văn Lữ có hai bài viết dạng tùy bút-hồi ký, bây giờ chúng ta đọc lại, vẫn không tránh được niềm xúc động dâng lên trong lòng! Trước tiên, hãy cùng thưởng thức bài tản văn có nhan đề "Thương về Quảng Trị" được viết vào tháng 7-1972, sau ba tháng lìa xa quê nhà. Này đây hãy lắng nghe dòng cảm xúc tuôn trào trong từng câu chữ, để cùng ôn lại những hình ảnh, nơi chốn, kỷ niệm một thời dấu yêu:

"Thế là tôi xa xứ Quảng thân yêu ba tháng trời. Quảng Trị giờ đây mờ mịt lửa đạn. Đêm đêm nhìn về hướng Bắc xa xôi , tôi nghe nhiều nhớ thương dâng tràn.‘’…

‘’ Con đường Quang Trung thẳng tắp trong tháng ngày qua, mưa về sũng nước nhưng sao láng lẫy thế! Còn đâu những ngày đi ngang qua giáo đường Thạch Hãn, nhìn hàng cây bàng khoác áo màu xanh đầy hy vọng vươn cao….Nào đâu những chiều ngồi trong quán Văn, quán Quyên, quán Gió… thả hồn trong khói thuốc. Bún tai mụ Dư trong đình chợ, bún cô Ba, bún Nông Tín ngon thật là ngon khi chiều chiều ghé lại… Tìm đâu những lúc đứng ở quán sách Tùng Sơn, Lương Giang…

"Con đường, quán chợ, dòng sông, bến nước, chiếc cầu, cái gì cũng quá quý, cầu cho nó được còn mãi. Quảng Trị nho nhỏ như một chiếc áo ấm, nhưng nó che chở ta tháng ngày qua trong giá lạnh.

"Con sông Thạch Hãn nước vơi đầy, rồi lần mùa mưa lũ đến, nước đục ngầu lềnh bềnh củi rều… Khi mùa hạ về, nó trải lòng cho người ta chiêm ngưỡng. Lòng dân người Quảng Trị cũng chân chất như dòng sông Thạch Hãn trong mùa nước cạn.

"Nhà thờ La Vang, chùa Sư Nữ, hết rồi những ngày đại hội, rằm mồng một. Chắc giờ đây chỉ là đống gạch vụn vì chinh chiến.‘’

Đó là một bài tùy bút có giọng văn ngọt ngào, thấm đẫm tình yêu quê nhà, dẫn chúng ta về với thị xã Quảng Trị xưa thân thuộc đang quằn quại đau xót giữa bom đạn mịt mù! Ước mong được trở về Quảng Trị luôn cháy bỏng trong tâm hồn mọi người con của Non Mai, Sông Hãn, trở thành điệp khúc nguyện cầu thiêng liêng tha thiết trong từng câu văn ngân vang trong không gian,trong tâm hồn mọi người:

"Mong sao được trở về Quảng Trị sớm để nhìn lại thành phố thân yêu, mảnh vườn xanh lá cây, nương chè, lũy tre, ruộng lúa, chiếc cầu ao loáng nước, mồ mả cha ông.

Bà con xóm giềng còn bị kẹt, con chó quấn quit bên nhà không hiểu ra sao?...

Quảng Trị ơi, ta chờ mong ngày trở về…Ta sẽ trở về cúi hôn mặt đất xứ Quảng của ta.Từng kỷ niệm sống động trong ta khắc khoải từng ngày từng giờ nếu còn xa Quảng Trị. Nguyễn Hoàng, Bồ Đề, Thánh Tâm, Phước Môn… hay chờ dân Quảng Trị về xây dựng lại.

Quảng Trị ơi, muôn người đang rưng rưng lệ nhớ thương về người.‘’

Bên cạnh con người nặng tình với quê hương, còn có một con người luôn gắn bó thân thiết với bạn bè. Cho nên, khi cùng vào ở trại tạm cư Đà Nẵng, anh Phan Phụng Thạch đã viết  "Bài Thơ Làm Khi Say Rượu"  đề tặng nhóm bạn chí thân, anh chọn hình ảnh anh Trần Văn Lữ để khắc họa đầu tiên vì đã hiểu rõ nhau, chia sẻ cùng nhau những buồn vui trong phận người:

"Buổi tối tiêu sầu-chai rượu đắng/Tri âm !Này hãy uống cho say

‘’Lỡ mai có chết- không ân hận,/ Vì đã ngồi chung một chiếu này!

"Thằng bạn chưa già nhưng tóc bạc/ Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư

"Chuyện đời hư ảo xin mày gác/ Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?"

Mấy câu thơ trên đã giới thiệu khá rõ nét về người bạn với lối so sánh có chút đùa tếu khi nhắc đến “bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư”. “Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?” Bởi anh Trần Văn Lữ xuất thân từ Viện Hán học, kiến thức về Nho giáo, sách sử xưa phong phú.Thêm vào đó là giống nhân vật Ngũ Tử Tư: “Một đêm suy nghĩ tóc bạc trắng!’’

Đây là nhóm bạn tham gia Hội Hồng Thập Tự, làm công tác xã hội từ thiện giúp nhân dân các vùng bị thiên tai, bom đạn, cho nên như anh em ruột thịt một nhà. Trong những ngày sống trong trại tạm cư Đà Nẵng, căn bệnh ác tính của anh Phan Phụng Thạch đến hồi trầm trọng, bạn bè cùng gia đình thay nhau săn sóc cho đến khi anh từ trần.Trong đó, anh Trần Văn Lữ, Lê Lợi là bằng hữu luôn ở bên cạnh nhà thơ họ Phan, cho nên anh đã ghi lại những giây phút cuối cùng của Gs Phan Phụng Thạch và đọc tại Lễ tưởng niệm một năm nhà thơ Phan Phụng Thạch về cõi thiên thu, gồm gia đình, nhà trường, thân hữu, đại diện học sinh. (Tôi được phân công giới thiệu thơ PPT).Trên tờ giấy A.4 gấp hai, viết trọn bốn mặt, anh Phan Ngọc Bích (em trai PPT) trao cho tôi là bút tích của anh Trần Văn Lữ kể lại từng chi tiết cuối cùng ở Bệnh viện Việt Đức của người bạn họ Phan, có đoạn như sau :

"Rạng ngày thứ bảy 24-2-1973, độ 4-5 giờ sáng, chúng tôi tự nhiên thấy bồn chồn xao xuyến.Từ trại Hòa Long, chúng tôi đi bộ lên trại 5 để rủ Lợi qua anh. Cũng vừa khi đó, một thân nhân của anh sang tin cho hay là anh đang hấp hối. Chúng tôi qua đến nơi thì anh đã yếu lắm.Thở đã cách khoảng. Đôi mắt đã trăng trắng và kéo sụp mi nhiều. Đêm qua anh đã chuyện trò cùng thân mẫu anh, không nói ra được nên anh đã lấy sổ ra để bút đàm cùng bà. Nghẹn ngào đau đớn, anh trút hơi thở cuối cùng lúc 7 giờ 25. Tiếng khóc của thân mẫu anh làm chúng tôi se thắt. Bào đệ của anh, Lợi và tôi cũng không cầm được sự xúc cảm tột cùng. Sau đó trên chiếc xe HTT của bệnh viện Đức, thân mấu anh và tôi đưa thi hài anh về trại 5. Ngồi trên xe giữ chiếc băng ca, tự nhiên nước mắt tuôn trào…’’

Trong lễ truy điệu nhà thơ Phan Phụng Thạch, cùng với bạn bè viết điếu văn, khóc bạn, anh Trần Văn Lữ nghẹn ngào đọc bài thơ Tiếc Thương: 

“Đại dương, sóng vỗ xôn xao/ Thạch ơi mầy chết biết bao đau buồn

Mây trời vẫn cứ bay luôn/ Bóng mầy đâu nữa những hôm chuyện trò

Nhạc còn huệ vẫn thơm tho/ Trà đây rượu đó nào giờ cụng ly…

Lá bay bay mãi im lìm / Mầy đi, đi biệt như chim tách đàn.

Hết rồi giây phút liên hoan / Yêu đời nghe hát dư vang đêm nào."

Bài thơ thể 6/8 dung dị, ngôn ngữ xưng hô thân mật, không khách sáo, hình ảnh gần gũi đã thể hiện tình bạn chân thành, sự tiếc thương vô hạn, nỗi mất mát lớn lao!

Để hiểu thêm tấm lòng của anh đối với bạn, chúng ta đọc hồi ký của anh Hoàng Đằng đăng trong Đặc san 60 NĂM NGUYỄN HOÀNG (- 2012): “Trần Văn Lữ rất quan tâm đến bằng hữu. Năm 1974, biết tin tôi sẽ đi vào Sở Học chánh Bình Tuy,Trần Văn Lữ đã sốt sắng tìm tôi, trao lá thư giới thiệu với anh Nguyễn Như Lộc, nguyên Hiệu trưởng trường Quảng Phước mới vào nhận chức Chánh sự vụ sở này. Trần Văn Lữ hy vọng nơi đất khách quê người, tôi sẽ có người che chở. Sau đó ít lâu, Trần Văn Lữ qua đời. Đến bây giờ, mỗi lần nghe nhắc đến tên Trần Văn Lữ, tim tôi lại rung động, mắt tôi lại rươm rướm!“

Nhìn lại bức chân dung tinh thần của anh hiện lên qua lời kể, cùng trang văn, câu thơ còn lại, chúng ta đều hiểu được tâm hồn anh giàu tình nghĩa, đa cảm, thật đáng trân trọng, mến yêu!

. Nhưng chắc không ít bằng hữu và học sinh cũ cảm thấy thiếu sót nếu bài viết này không nói đến một góc nhỏ của tình yêu trong thơ Trần Lãng Tử. Qua mấy lần giới thiệu thơ Trần Thương Bá, Phan Phụng Thạch, Triệu Phong, Đặng Sĩ Tịnh, chúng tôi đã cùng xao xuyến với nhiều cung bậc, giai âm của ái tình. Nhưng lần nầy lại khác. Có chút ái ngại khi nói về niềm đau, nỗi buồn, xót xa trong tận cùng của tâm hồn người bạn khả kính, cam chịu trong éo le của tình duyên. Tuy khá thân tình nhưng tôi cũng tránh né, không hỏi han chuyện riêng tư tế nhị của bạn. Hôm nay, đọc những bài thơ của anh - Trần Lãng Tử trên Chân Dung Và Kỷ Niệm, chúng ta sẽ mở cánh cửa lâu nay khép chặt đó để cảm thông và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín cùng anh. Đây là những bài thơ có lẽ được sáng tác sau khi Chúa Trời đã xua đuổi anh ra khỏi căn vườn mang tên Hạnh Phúc vào năm 1969. Những câu hát đâu đây còn vọng lại: "Em đang tâm xé nát tim tôi…’’ như lời trong Niệm Khúc Cuối của Ngô Thụy Miên. Anh sáng tác bài LỜI NÀY CHO EM‘ trong thời gian bi kịch tình yêu đang gây bão tố quay cuồng. Hai khổ thơ hiện ra sự đối lập giữa hạnh phúc êm ấm với tan vỡ chia xa, nhưng giọng điệu dường như vẫn du dương vì tác giả dùng nhiều từ có thanh bằng. Bốn câu đầu là kỷ niệm đẹp, tháng ngày tay trong tay, tình nồng lên khơi:

‘’Qua bao tháng ngày / Trong đôi vai gầy /Tình ơi lên khơi/Trong đôi tay này.

Lại diễn ra sự khác biệt, mâu thuẫn giữa thiên nhiên bên ngoài với nội tâm nhà thơ, nắng ấm không sưởi được cõi lòng giá lạnh cô đơn vì đột nhiên bị xa cách ngàn trùng:

‘’Nắng lên khắp trời/Nắng lên chơi vơi/Nhưng tôi vẫn gào:Tôi xa em rồi.Tiếp theo tiếng gào thảng thốt đó là trạng thái tâm lý điên dại vì đau khổ trước nghịch cảnh phũ phàng, tan nát bao thề nguyền.

Câu thơ cuồng nộ như không thể chịu đựng được nữa: ‘’Xé nát mặt trời/Xé cả mặt trăng/Xé luôn thân nàng/ Lòng không ăn năn"

Giờ đây, nhà thơ họ Trần đã về cõi vĩnh hằng nhưng còn gởi lại những câu thơ ám ảnh day dứt về nỗi cô đơn trống trải trên dương thế để tìm sự đồng cảm và sẻ chia:

‘’Chết rồi thịt nát xương tan /Hồn bơ vơ nữa ai hàn huyên đây ? ‘ ‘

Sống mãi trong lẻ loi, nhà thơ Lãng Tử đã tìm đến cõi mộng như một liệu pháp, một cách hóa giải nỗi đau buồn nhức nhối không nguôi của những người bị tình phụ. Trong bài MỘNG gồm có 6 đoản khúc, như từng trang nhật ký để mình đối thoại với mình, thầm thì an ủi chính bản thân…

"Nhớ nhung mộng mới trở về/ Tỉnh ra mộng biến não nề tấm thân!

"Nhớ em dẫn mộng vào đêm/ Cuộc đời qua mãi như rèm chiêm bao.’’

‘’Ngủ say mộng lén vào hồn/Niềm vui phủ mắt, Dậy buồn tâm tư’’

‘’Trở mình- đêm lạnh- mộng nhiều/ Ước mơ- xa cách-bao điều em ơi

‘’Người đây hồn lạc về đâu/ Gieo bao nhung nhớ u sầu mộng tan.’’

‘’Nghĩ đời kể cũng nực cười/ Đêm đêm là mộng, ngày rời mộng thôi!

Đến đây, chúng ta liên tưởng đến câu chuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và người đẹp Mộng Cầm, với bao lần hẹn hò, say đắm,gắn bó thiết tha thế nhưng kết cục thật buồn. Khi biết nhà thơ họ Hàn bị bệnh nan y, nàng đành đoạn tình, bước lên xe hoa để cho họ Hàn đau khổ khôn nguôi, có lúc tự nhủ: ‘’Làm sao giết được người trong mộng, để trả thù duyên kiếp phụ phàng!" Nhưng khi lòng lắng xuống,hồn thơ trở nên dịu dàng chịu đựng ông viết bài Những Giọt Lệ :

‘’Họ đã xa rồi khôn níu lại /Tình thương chưa đã mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất /  Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!

Và: 

Dẫu đau đớn vì điều phụ rẫy/ Nhưng mà ta không lấy làm điều

(Muôn năm sầu thảm)

Bản tính anh Trần Văn Lữ vốn hiền lành, thương người, cam chịu, cho nên tuy những cơn đau trong lòng có khi khiến anh muốn gào thét xé nát cả vũ trụ, nhưng cũng như Hàn thi sĩ, anh tìm được sự cân bằng nhờ thi ca và cuộc sống. Anh góp phần vào sự nghiệp khai nguồn trí tuệ cho thế hệ trẻ, vỗ về an ủi người dân bị thiên tai, bom đạn qua hoạt động từ thiện cùng bạn bè.Năm 1973 anh khóc thương tiễn nhà thơ Phan Phụng Thạch về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi cát trắng Non Nước, thì năm sau gia[1]đình, đồng nghiệp và học trò lại đưa anh đến chỗ nằm bên cạnh bạn thân bao ngày gắn bó. Một thời gian sau, hài cốt của hai anh về với làng quê của mình bên tổ tiên. Trong dịp cùng thầy Nguyễn Văn Thị về Bồ Bản thăm mộ thầy Lê Đình Ngân, chúng tôi đã ghé Quảng Lượng thắp hương cho anh trong khu nghĩa trang của gia đình. Hiện nay, anh Trần Thiện Tài cho biết gần đây đã cải táng toàn bộ các phần mộ nội thân về Nha Trang.Tôi thầm hứa sẽ vào viếng anh trong một ngày thuận tiện không xa. Mong anh tha thứ cho tôi vì đã chạm vào vết thương của những ngày tháng dương gian xa xưa ấy!

Viết tại làng Thạch Hãn cuối xuân Giáp Ngọ. 2014

Thắp nén tâm hương tưởng nhớ anh Trần Văn Lữ 50 năm xa đời.

ĐỖ TƯ NHƠN

.


READ MORE - TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn

Tuesday, September 1, 2026

TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn


Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ

                                 Tản văn – Nguyễn Đại Duẫn


Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ;  tiếng ồn ào của xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè, vừa muốn tìm hiểu, làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.

 Sân trường hôm nay đông vui, cờ hoa rực rỡ. Trên bục, tấm phông treo dòng chữ: “Chào năm học mới”, trang trọng. Các thầy cô giáo áo quần tề chỉnh, tươi cười. Học sinh náo nức gặp nhau sau những ngày hè. Tiếng trống khai trường vang lên từng hồi giòn giã trong ánh nắng mùa thu. Rồi tiếng trống ếch vang lên từng hồi. Âm thanh trong trẻo, rộn ràng. Tiếng loa phóng thanh cất lên những bản nhạc trầm hùng ca ngợi đất nước.

Tôi đứng giữa sân trường hôm nay mà ký ức của hơn nửa thế kỷ trước bỗng trở về nguyên vẹn. Trong khoảnh khắc ấy, lòng tôi bỗng chùng xuống. Cũng là ngày khai trường, cũng là tiếng trống gọi học trò, nhưng ngày ấy đất nước đang trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Ký ức ngày khai giảng đầu tiên của tôi chưa bao giờ thực sự im lặng trong tâm trí. Không có bố đưa đến trường, vì bố tôi đang chiến đấu ở chiến trường B. Không có cái nắm tay của mẹ, mẹ đang đi làm công điểm, xứng danh phụ nữ “hai giỏi”. Tôi nép mình đi bên bà nội, ngỡ ngàng đến lớp. Tôi mặc bộ quần áo mới vải Tô Châu, được cắt may từ bộ quần áo lót của bố, trước khi lên đường đánh giặc, bố bớt lại. Tuy vậy, tôi vẫn sung sướng và tự hào. Tối hôm trước ngày khai trường, đứa trẻ là tôi ngày ấy cứ trằn trọc mãi, nâng niu chiếc cặp sách mới may bằng tấm ni - lông cũ, để ngay ngắn đầu giường; dặn mẹ gọi dậy sớm, sợ ngủ quên mà lỡ mất khoảnh khắc trọng đại. Mùi vải mới của bộ quần áo mới, mùi giấy thơm nức từ quyển vở kẽ ô li chưa đặt nét mực nào luôn có một sức quyến rũ kỳ lạ.

Cụm trường tôi đến khai giảng là sân kho của hợp tác xã. Xung quanh đào hào giao thông. Phía sau nhà kho là hầm chữ A. Kho rộng khoảng 5 gian làm bằng gỗ phi lao, người ta bỏ lúa, khoai. Mùi ẩm mốc, mùi rơm mục nồng nặc xông lên cay cay đầu mũi. Hai gian đầu, người ta sắp bàn ghế dành cho hai lớp học. Ngoài hai lớp vở lòng của chúng tôi (lớp đầu cấp tiểu học bây giờ) đến khai giảng còn có mấy lớp anh, chị. Ngày ấy, chúng tôi không có những buổi khai giảng đông vui, rực rỡ như hôm nay. Học sinh không được mặc những chiếc áo trắng tinh tươm. Không được tụ tập đông người vì máy bay địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Ngày khai trường thường chỉ được tổ chức theo cụm trường, đơn sơ và nhanh gọn.

Tôi vẫn nhớ mãi buổi khai trường năm ấy. Sau khi học sinh tập trung xong theo vị trí đã được quy định, thầy giáo phụ trách khu vực lên tuyên bố lý do. Chúng tôi nghiêm trang chào cờ. Lời khai mạc ngày khai trường vang lên giữa một không gian vừa háo hức vừa thấp thỏm, lo âu. Rồi thầy giao nhiệm vụ năm học mới cho học sinh chúng tôi.  Xong việc, các lớp anh chị tản ra đi từng nhóm về khu vực lớp mình, chúng tôi ở lại nhanh chóng trở về lớp để tránh máy bay! Chẳng có tiếng trống dài giục giã, chẳng có những màn văn nghệ náo nức, cũng không có những bó hoa tươi trao tặng thầy cô. Ngày khai trường của chúng tôi chỉ giản dị như thế. Nhưng trong lòng mỗi đứa trẻ vẫn cháy lên một niềm vui: được đi học, được gặp thầy, gặp bạn và sẽ bước đi trên con đường học chữ giữa những ngày đất nước còn chiến tranh.

Các lớp học cũng không tập trung thành một ngôi trường lớn. Để tránh bom đạn và hạn chế học sinh phải đi xa, lớp học nằm rải rác ở từng địa bàn. Có lớp học trong những căn nhà dân, có nơi học dưới những mái tranh đơn sơ của doanh trại bộ đội để lại. Mỗi khi nghe tiếng máy bay, thầy trò lại vội vàng rời lớp, tìm nơi trú ẩn. Tiếng bom có thể làm rung chuyển mặt đất, nhưng không thể làm tắt đi khát vọng học tập của chúng tôi.

Dù năm tháng có phủ một lớp bụi mờ lên bao kỷ niệm, thì mỗi khi ngọn gió heo may đầu thu khẽ xôn xao qua từng vạt lá, cái không khí nồng nàn, háo hức của buổi tựu trường xưa cũ lại quay về, nguyên vẹn và vẹn nguyên như một khoảng trời cổ tích. Khi đã trưởng thành và bước đi trên những chặng đường đời đầy vội vã, không còn được sống trong cái nôn nao của ngày khai trường năm ấy, tôi mới nhận ra đó là một phần ký ức đẹp đẽ nhất của tuổi thơ. Ngày khai trường không chỉ lưu giữ tuổi trẻ, mà còn là chiếc neo giữ cho tâm hồn ta luôn trong sáng, để mỗi khi mùa thu đến, lòng ta lại thổn thức một nhịp đập êm đềm về mái trường xưa.

Bây giờ, đứng bên cháu trong ngày khai trường, tôi thấy cuộc sống hòa bình tươi đẹp biết nhường nào. Khi buổi khai trường kết thúc, tôi nhìn cháu hòa vào dòng học sinh đang ríu rít nói cười mà thấy lòng mình ấm áp. Tôi mừng vì cháu được sống trong những ngày bình yên, được mặc áo trắng đến trường, được dự một lễ khai giảng đông vui dưới mái trường thân yêu. Đứng giữa sân trường, nhìn cháu cùng các bạn tung tăng trong ngày khai giảng, tôi càng thấm thía giá trị của hai chữ Hòa bình. Cháu được đến trường trong một đất nước bình yên, được học tập trong những ngôi trường khang trang, được mặc áo mới, được vui chơi, được tự do ước mơ và lựa chọn con đường tương lai của mình.

Tôi vui đến nghẹn lòng. Niềm vui của người ông không chỉ là thấy cháu lớn lên từng ngày, mà còn là được chứng kiến một thế hệ trẻ được sống trong những điều mà thế hệ chúng tôi từng mơ ước.

Tiếng trống trường lại vang lên, báo hiệu vào lớp. Tôi nghe trong đó không chỉ có tiếng gọi năm học mới mà còn nghe âm vang của tiếng trống hôm nay đang nối liền với tiếng trống ngày xưa, nối một tuổi thơ trong chiến tranh với tuổi thơ trong hòa bình.

Tôi tin rằng những đứa trẻ đang đứng dưới sân trường hôm nay sẽ bước vào tương lai bằng đôi chân vững vàng và một tâm hồn rộng mở. Đất nước rồi sẽ còn đổi mới từng ngày, trường học sẽ ngày càng khang trang, cuộc sống sẽ ngày càng no đủ, và những ước mơ của các em sẽ bay xa hơn những gì thế hệ chúng tôi từng hình dung. Và tôi thầm mong cháu sẽ luôn biết trân trọng những ngày tháng bình yên ấy. Bởi phía sau tiếng trống khai trường hôm nay là biết bao mất mát hy sinh qua những năm tháng chiến tranh gian khổ mà thế hệ ông cha đã đi qua để giữ gìn cho các cháu một mái trường, một lớp học và những mùa khai giảng trọn vẹn

Tôi siết nhẹ bàn tay cháu, lòng tràn đầy hy vọng.

Một năm học mới bắt đầu.

Một thế hệ mới đang lớn lên.

Và phía trước là một tương lai ngày càng tươi sáng của quê hương, đất nước.

 

Nguyễn Đại Duẫn

Hội viên Hội VHNT Trường Sơn - Quảng Trị

ĐT: 0977194533

       nguyenduanqh@gmail.com

 

READ MORE - TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

Saturday, August 8, 2026

Khóa Tu Năm Ngày Tại Tổ Đình Thiện Tường – Chicago: Nơi Nuôi Dưỡng Đức Tin Và Tâm An - Lê Thi



Khóa Tu Năm Ngày Tại Tổ Đình Thiện Tường – Chicago: 

Nơi Nuôi Dưỡng Đức Tin Và Tâm An

 Lê Thi - PD: Minh Tánh - Ohio 


Năm ngày tham dự khóa tu tại Tổ đình Thiện Tường, Illinois (vùng Chicago) đã để lại trong lòng hàng ngàn Phật tử nhiều cảm xúc sâu lắng. Giữa nhịp sống hối hả nơi xứ người, được trở về chốn già lam thanh tịnh là cơ hội quý báu để mỗi người lắng dịu tâm hồn, hướng về những giá trị chân – thiện – mỹ và nuôi dưỡng đời sống tâm linh theo lời Đức Phật dạy.

 

Điểm đặc biệt của khóa tu năm nay là lễ cung nghinh và chiêm bái xá lợi Phật. Theo truyền thống Phật giáo, xá lợi là những di vật linh thiêng còn lại sau khi Đức Phật hoặc các bậc Thánh tăng viên tịch và được hỏa táng, là biểu tượng của giới đức, trí tuệ và sự chứng ngộ. Với lòng thành kính, đông đảo Phật tử từ nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ, Canada và một số quốc gia khác đã vân tập về Tổ đình Thiện Tường để đảnh lễ, chiêm bái và cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

 

Khóa tu quy tụ hơn 40 chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni đến từ nhiều quốc gia, tạo nên một đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh và thắm tình pháp lữ. Tiếng chuông chùa, lời kinh, tiếng kệ cùng những thời thiền hành và niệm Phật đã mang đến nguồn năng lượng bình an, giúp người tham dự tạm gác những lo toan của cuộc sống để quay về chăm sóc thân tâm.

 

Đặc biệt, đại chúng được lắng nghe những thời pháp thoại đầy ý nghĩa do Hòa thượng Sakya Minh Quang, Viện chủ Tổ đình Thiện Tường và Tu viện Thiện Tường, Viện trưởng Học viện Phật Thừa (Budhayana Academy), cùng Đại lão Hòa thượng Nguyên Hạnh ban giảng. Với hơn bốn thập niên cống hiến cho sự nghiệp giáo dục Phật học và hoằng pháp, Hòa thượng Sakya Minh Quang được nhiều Tăng Ni, Phật tử kính trọng bởi trí tuệ, đạo hạnh và tâm nguyện phụng sự Chánh pháp.

 

Không chỉ tận tâm hướng dẫn tu học, Hòa thượng còn dành nhiều năm nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh điển bằng Hán, Việt và Anh ngữ, đồng thời sáng tác nhiều tác phẩm Phật học có giá trị. Được tận mắt chiêm ngưỡng thư viện và hàng trăm đầu sách do Hòa thượng biên soạn, ấn tống với nội dung phong phú, hình thức trang nhã, người xem càng thêm khâm phục tinh thần làm việc bền bỉ, nghiêm cẩn và sự cống hiến không mệt mỏi của ngài. Mỗi tác phẩm là kết tinh của thời gian, trí tuệ và tâm huyết, góp phần lưu truyền giáo pháp, nuôi dưỡng đạo tâm cho nhiều thế hệ Phật tử trong và ngoài nước.

 

Những lời pháp giản dị nhưng sâu sắc của Hòa thượng Sakya Minh Quang và Đại lão Hòa thượng Nguyên Hạnh đã giúp đại chúng hiểu rõ hơn ý nghĩa của đời sống tỉnh thức, biết chuyển hóa khổ đau bằng lòng từ bi và trí tuệ, đồng thời khuyến khích mỗi người đem giáo pháp ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Mỗi lời giảng như dòng nước cam lồ tưới mát tâm hồn, gieo thêm niềm tin và nghị lực trên con đường tu học.

 

Khóa tu khép lại trong niềm hoan hỷ và biết ơn. Mỗi người trở về với hành trang là sự bình an, niềm tin Tam bảo và những bài học quý báu từ chư tôn đức. Từ tâm nguyện hoằng pháp không ngừng nghỉ của Hòa thượng Sakya Minh Quang cùng sự chung sức của chư Tăng Ni, Tổ đình Thiện Tường tiếp tục là ngọn đèn Chánh pháp soi sáng đời sống tâm linh của cộng đồng Phật tử Việt Nam tại hải ngoại, góp phần gìn giữ truyền thống văn hóa dân tộc và lan tỏa tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật đến với nhiều thế hệ mai sau.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Lê Thi

         thivanle1569@gmail.com

READ MORE - Khóa Tu Năm Ngày Tại Tổ Đình Thiện Tường – Chicago: Nơi Nuôi Dưỡng Đức Tin Và Tâm An - Lê Thi

Wednesday, July 29, 2026

NHÀ PHÊ BÌNH CÓ NGƯỜI "THƯƠNG" KẺ "GHÉT"- VÀ ĐÓ LÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ THẲNG THẮN - Hoàng Thị Bích Hà

 

Tác giả Hoàng Thị Bích Hà

NHÀ PHÊ BÌNH CÓ NGƯỜI "THƯƠNG" KẺ "GHÉT"

- VÀ ĐÓ LÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ THẲNG THẮN

 

Công việc của một nhà phê bình là khai thác cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Muốn hiểu sâu một tác phẩm, người phê bình không thể bỏ qua môi trường sáng tác, tiểu sử tác giả, hoàn cảnh xã hội và những tác động của lịch sử lên trang viết. Đồng thời, họ cũng có nhiệm vụ chỉ ra những điều chưa tới, những hạn chế của tác phẩm bằng tri thức, trải nghiệm và góc nhìn nghề nghiệp của mình.

Đó là công việc đòi hỏi bản lĩnh, sự trung thực, tinh thần độc lập cùng một vốn văn hóa đủ dày để bảo vệ quan điểm. Bởi vậy, một nhà phê bình làm đúng chức năng của mình không thể chỉ khen mà còn phải dám nói những điều người khác không muốn nghe. Và cũng chính vì thế, họ thường đứng ở một vị trí khá "nguy hiểm": tác giả đôi khi không thích bị phê bình, còn độc giả lại có những cách nhìn khác nhau. Nghề phê bình từ lâu vốn là nghề dễ "mang oán" trong đời sống văn chương.

Có một câu nói hài hước được truyền tụng trong giới văn học: "Tôi mong các nhà phê bình chết hết". Câu nói này thường được gán cho nhiều tác giả khác nhau, trong đó có nhà văn Ireland Samuel Beckett, nhưng đến nay vẫn khó xác định chính xác nguồn gốc.

Ở Việt Nam cũng có một giai thoại thú vị. Người ta kể rằng nhà thơ Xuân Diệu từng đùa: "Khi tôi chết, hãy chôn tôi cạnh một nhà phê bình văn học. Tôi muốn tiếp tục cuộc tranh luận với ông ta ở thế giới bên kia." Dù khó kiểm chứng từng câu chữ, nhưng câu chuyện phần nào phản ánh mối quan hệ vừa đối đầu vừa gắn bó giữa người sáng tác và người phê bình.

Thực ra, mối quan hệ ấy từ lâu đã là một đề tài thú vị của văn chương. Victor Hugo xem phê bình là cần thiết nhưng không ít lần bực bội vì bị hiểu sai. Mark Twain nổi tiếng với những lời châm biếm sắc sảo dành cho giới phê bình. Trong khi đó, Oscar Wilde lại cho rằng phê bình, khi đạt đến trình độ cao, cũng là một hình thức sáng tạo nghệ thuật.

Ông từng nói: "Phê bình là hình thức tự truyện cao nhất."

Ý của Oscar Wilde là mỗi nhà phê bình, khi đọc một tác phẩm, cũng đồng thời bộc lộ vốn sống, học vấn, thẩm mỹ và thế giới quan của chính mình. Vì vậy, một nhà phê bình giỏi không phải là người luôn đúng, mà là người có khả năng mở ra những cách đọc mới, những góc nhìn đáng suy ngẫm đối với tác phẩm.

Người đọc có thể đồng tình hoặc phản đối họ. Nhưng nếu những trang phê bình khiến người ta muốn đọc lại một tác phẩm bằng con mắt sâu sắc hơn, thì nhà phê bình ấy đã hoàn thành sứ mệnh của mình.

Văn chương cần người sáng tác để tạo ra tác phẩm. Nhưng văn chương cũng cần những nhà phê bình để đối thoại với tác phẩm ấy. Và mọi cuộc đối thoại thực sự đều có khả năng làm mất lòng ai đó. Người sáng tác cũng như người phê bình đều phải có sức chịu đựng trước mọi khen chê. Bởi vì khi tác phẩm ra đời, sự khen chê là quyền của độc giả. Chấp nhận với một thiện ý là: VÌ TÌNH YÊU VĂN CHƯƠNG.

Sài Gòn, ngày 21/6/2026

Hoàng Thị Bích Hà

          habich1963@gmail.com

        https://www.facebook.com/hoang.ha

 

READ MORE - NHÀ PHÊ BÌNH CÓ NGƯỜI "THƯƠNG" KẺ "GHÉT"- VÀ ĐÓ LÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ THẲNG THẮN - Hoàng Thị Bích Hà

Sunday, July 19, 2026

CHÁO BỘT DIÊN SANH - Trương Tam Phong

 

Tác giả Trương Tam Phong


Có lẽ, nhiều người sẽ lướt qua khi đọc tới bốn chữ "Cháo bột Diên Sanh". Có gì mà đọc. Món này báo chí viết nhiều rồi.

Tôi cũng từng nghĩ vậy.

Đến khi ngồi viết về làng Diên Sanh, viết về chợ Kẻ Diên cổ kính, thì có anh bạn nhắn tin: “Tôi mong muốn có một bài viết về cháo bột Diên Sanh. Thấy nhiều người viết mà không đúng lắm, chưa thuyết phục. Kể cả bài của giáo sư vẫn không ra được nguồn gốc của đặc sản.” Tự nhiên, thấy "món nợ" về cháo bột Diên Sanh của mình, coi bộ “khó trả” thật rồi.

Tôi sẽ không viết quán nào ngon. Cũng không phải để chỉ cách nấu. Mà tự nhiên muốn nói mấy chuyện rất vu vơ. Bởi một tô cháo quê mà hóa ra cũng có nhiều chuyện thật. Thôi thì kể theo cách của mình. Biết tới đâu kể tới đó. Không dám nói đúng hết. Chỉ mong, sau khi đọc xong, ai đó sẽ thấy một tô cháo bột không chỉ có con bột, con cá lóc với củ ném ... mà còn có cả một miền quê trong đó.

 



CHÁO BỘT DIÊN SANH

Trương Tam Phong

 

1. Cái tên của món ăn và những cuộc dịch chuyển địa lý

Nói về cái tên. Có lẽ khởi thủy, người ta gọi đơn giản là “cháo bột” thôi, gọn ghẽ như các tên gọi khác như cháo gạo, cháo nếp…

Bây giờ người ta thường gọi là “cháo bột cá lóc”. Sao lại thêm hai chữ “cá lóc”? Ờ, thì thêm cá lóc vào để biết nấu cháo bột với gì chứ. Nhưng nếu hỏi vặn lại, sao không gọi là “cháo bột cá tràu”, hay “cháo bột cá trợn”? Như người Diên Sanh xưa và nay ở vài nơi vẫn gọi con cá lóc đồng to là “cá tràu”, còn nhỏ hơn thì gọi là “cá trợn”.

Đến đây, cái tên lại gợi nhớ tính cách “trợn trạc, xớn xác” của những đứa trẻ lau chau mới lớn, nhất là trẻ trai: “Cái thằng ba trợn!”. Y như những con “cá trợn” hay cựa quậy, nhảy nhót không bao giờ chịu nằm yên vậy!

Cũng như nhiều món ăn dân dã, nếu ăn mãi một cách thì rồi cũng ngán. Cháo bột cá lóc cũng vậy. Có người thích vị ngọt đậm của cá đồng, nhưng cũng có người chê mùi tanh nên ngại ăn. Chính từ trải nghiệm ấy mà người nấu ở Diên Sanh dần tìm ra những cách xử lý rất riêng. Cá làm sạch được ướp với thật nhiều củ ném (nén/hành trắng/hành tăm) giã nhuyễn trong cối đá để tinh dầu thấm sâu vào từng thớ thịt cá, có ngườn rán sơ để giữ thịt săn chắc và khử sạch mùi tanh.

Rồi cũng như quy luật tự nhiên của ẩm thực, khi một món ăn đã quá quen thuộc, người ta lại tìm đến những biến tấu mới. Từ đó, “cháo bột vịt” xuất hiện vài chục năm trở lại đây. Vẫn là những con bột quen thuộc, vẫn là vị ném đặc trưng của Diên Sanh, nhưng vị ngọt béo của thịt vịt đã tạo nên một hương vị khác lạ, đủ để người ta đổi bữa mà vẫn thấy thân quen.

Đi xa hơn một chút, tôi lại thấy thú vị ở cách mỗi vùng đất gọi tên cùng một dòng món ăn làm từ bột gạo. Ở Hải Lăng, người ta quen gọi là cháo bột. Nhưng khi đến vùng Phú Xuân – Huế, món ăn ấy lại mang một hình hài và tên gọi khác: bánh canh Nam Phổ. Từ "cháo bột" chuyển thành "bánh canh", rồi gắn luôn với địa danh Nam Phổ, như một cách khẳng định dấu ấn của vùng đất đã tạo nên hương vị riêng bằng sự sáng tạo nguyên liệu, vẫn là con bột nấu với tôm và cua với cách nêm nếm độc bản. Còn ở Tây Ninh, lại có món “Bánh canh Trảng Bàng”, thì nấu bằng thịt heo vậy.

Quy luật dịch chuyển cái tên của tô cháo bột càng rõ ràng hơn khi nó theo chân người Hải Lăng, người Quảng Trị đi lập nghiệp khắp nơi, nhất là vào các tỉnh phía Nam.

Ở quê nhà, chỉ cần nói cháo bột là ai cũng hiểu. Người trong vùng thì gọi cháo bột Diên Sanh, bởi món ăn ấy đã gắn liền với một ngôi làng cụ thể, một thương hiệu nổi tiếng của chợ Kẻ Diên. Nhưng ra khỏi quê hương, cái tên Diên Sanh dường như quá nhỏ, không phải ai ở xa cũng biết. Đúng hơn, cũng chỉ là “ao làng”, nếu ai đó không quá tự ái để thấy mình cũng chỉ là một làng quê nhỏ bé mà thôi.

Người ta dần gọi là cháo bột Hải Lăng để người nghe dễ hình dung về tầm huyện. Rồi khi phạm vi lan tỏa rộng hơn nữa, cái tên cháo bột Quảng Trị xuất hiện và trở nên phổ biến hơn ở miền Nam. Một món ăn mang theo những lớp tên gọi khác nhau, rộng dần theo bước chân viễn xứ: từ làng lên huyện, rồi từ huyện ra đến cả một tỉnh.

-----------------------

2. Cháo bột có từ bao giờ?

Đang viết tới đây, thì một bạn ở ngay chính làng Diên Sanh cổ nhắn tin: “Có người hỏi cháo bột Diên Sanh có từ khi nào mà mình chưa có thông tin. Phong có biết thông tin này không?”

Làm sao tôi biết được. Thôi thì cũng trả lời cho anh bạn như một cách diễn giải mang tính khảo cứu: Món ăn này có từ khi tiền nhân bắt đầu khai hoang lập làng, trồng cây lúa nước. Giống như mọi miền quê, từ hạt lúa làm ra hạt gạo, rồi nấu thành cơm. Nhưng ăn cơm mãi cũng chán, người ta muốn biến chế gạo thành nhiều món ăn khác để làm phong phú thực phẩm: nào bánh đúc, bánh khoái, bánh in cho đến những sợi bột dẻo dai trong nồi cháo...

Sẽ không bao giờ có một mốc thời gian, một ngày tháng cụ thể nào trong chính sử cho sự ra đời của cháo bột. Nó không phải là sản phẩm mới, một phát kiến rõ ràng. Đó là kết quả của một quá trình tích lũy, giao thoa lâu dài từ nền văn minh lúa nước. Đôi khi, cách làm con bột ấy có thể bắt nguồn từ một làng quê khác du nhập vào, nhưng chính khi dừng chân tại Diên Sanh, với cách nấu đặc trưng của người Kẻ Diên, nó mới định hình nên bản sắc riêng và trở thành thương hiệu.

-----------------------

3. Những câu chuyện dân gian bên bếp lửa

Để lý giải cho sự ra đời của món ăn khi chính sử bỏ ngỏ, người ta thường tìm đến những câu chuyện dân gian. Về cháo bột, trong dân gian xứ Quảng Trị thường lưu truyền hai cách lý giải, hay đúng hơn là hai truyền thuyết mộc mạc.

Câu chuyện thứ nhất kể về một người vợ nghèo thương chồng đi làm đồng vất vả giữa ngày đông giá rét. Trong nhà không còn nhiều gạo để nấu một nồi cơm đầy đặn, chị bèn đem ít gạo còn sót lại đi xay giã thành bột, nhào nặn rồi xắt thành từng sợi dài, thả vào nồi nước sôi nấu cùng con cá tràu (cá lóc) chồng vừa bắt dưới ruộng, nêm thêm nắm củ ném cho ấm người. Món ăn vừa tiết kiệm gạo, vừa giàu dinh dưỡng, lại làm ấm lòng người lao động.

Câu chuyện thứ hai lại mang màu sắc của sự sáng tạo trong lúc ngặt nghèo của một bà mẹ quê. Nhìn đàn con nheo nhóc đói bụng vào mùa giáp hạt, hạt gạo trong hũ đã cạn, bà liền lấy phần bột gạo phơi khô còn sót lại, nhào với nước, xắt nhỏ ra để nấu thành một nồi cháo lỏng, bỏ thêm mớ rau, mớ cá bắt ngoài đồng để nồi cháo được nhiều hơn, đủ cho tất cả các con cùng được no bụng.

Nếu phân tích kỹ dưới góc độ văn hóa, cả hai câu chuyện trên đều chung một mô típ rất đẹp: đó là câu chuyện của tình nghĩa vợ chồng, tình mẫu tử, gắn liền với lao động, sự nghèo khó và đầu óc sáng tạo của người bình dân. Chúng ta không xem những câu chuyện này là chứng cứ lịch sử xác thực, nhưng chúng là những giá trị văn hóa dân gian vô giá. Nó chứng minh rằng cháo bột sinh ra từ gian khó, được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương và sự chắt chiu của người lao động.

-----------------------

4. Vũ khúc viễn xứ và biểu tượng quê hương

Từ nguồn gốc sâu xa đó, cháo bột muôn đời vẫn là món ăn của người nông dân, mang tính đại chúng và bình dân sâu sắc. Nhưng giá trị của nó không dừng lại ở bờ tre gốc lúa làng Diên Sanh. Theo bước chân mưu sinh của người Quảng Trị đi khắp nơi lập nghiệp, tô cháo bột đã trở thành một "đại sứ văn hóa" tự thân.

Ở những đô thị lớn như Sài Gòn hay các tỉnh phía Nam, những gánh cháo bột ban đầu hoặc những quán ăn xập xệ của người đồng hương đã nuôi sống biết bao gia đình nơi đất khách quê người. Đó là chiếc phao cứu sinh kinh tế của những người con ly hương, dùng chính hương vị quê nhà để nuôi con ăn học và có người cũng trở nên khấm khá hơn.

Điều đáng mừng là, hành trình của tô cháo bột không dừng lại ở những quán nhỏ ven đường. Ngày nay, thế hệ trẻ tiếp nối đã biết cách tiếp quản và nâng tầm món ăn của cha ông.

Những người trẻ đầy khát vọng như thương hiệu Cà Mèn và các bạn trẻ khởi nghiệp đã đóng gói, chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu bài bản cho cháo bột Quảng Trị, đưa món ăn dân dã này bước vào các siêu thị, bay ra thế giới đến tay những kiều bào xa xứ.

-----------------------

5. Ký ức cháo bột quê

Nói chuyện cháo bột cá lóc mà không nhắc đến một cái tên, thì có lẽ không phải người Diên Sanh rồi. Ở tuổi ngoài sáu mươi, tôi tự xem mình vẫn là hậu sanh của một vùng quê cổ kính, nên sẽ không thể biết được quán cháo nào là đầu tiên ở làng. Nhưng thời tôi còn ở làng, có một quán cháo nổi tiếng đến mức đã thành huyền thoại trong ký ức nhiều người: quán “cháo bột mụ Long”, ở phe Hai làng Diên Sanh.

Gọi là quán cho sang chứ đó chỉ là một ngôi nhà nhỏ, mỗi ngày mụ chỉ bán đúng một nồi cháo nhỏ thôi. Ấy vậy mà đó lại là một quán ăn vô cùng “sang chảnh” thời bấy giờ, vì khách muốn thưởng thức phải ăn theo giờ. Cứ khoảng chín giờ sáng, khi nồi cháo vừa nấu xong và được đưa từ bếp xuống, là đã có sẵn năm đến mười người chực chờ.

Trên tay mỗi người là một cái “đọi” – chiếc tô đất nung đặc trưng của thế hệ trước, được làm theo kiểu hai tầng: tầng trên loe rộng ra, tầng dưới thắt lại một chút. Người ta xếp hàng đưa đọi để mụ Long lần lượt múc cháo.

Cái đọi hai tầng ấy cũng là một nét tinh tế của người xưa: phần trên loe ra là để cháo trong tô mau nguội bớt cho dễ ăn. Khách ăn tại chỗ, ai muốn ăn thêm thì phải ăn thật nhanh mới mong có lượt thứ hai, mà lượt hai ấy cũng thỉnh thoảng mới có, vì mụ phải ưu tiên múc cho người mới đến. Bởi vậy, chưa đầy một giờ đồng hồ sau khi nhấc nồi, cháo đã hết sạch. Ai đến muộn chỉ còn biết … ngậm ngùi hẹn lại ngày mai.

Chính từ cái khéo léo chắt chiu của những người như mụ Long mà cháo bột Diên Sanh có một sức sống mãnh liệt. Cá làm sạch được ướp với thật nhiều củ ném giã nhuyễn trong cối đá để tinh dầu thấm sâu vào từng thớ thịt cá, rồi rán sơ để giữ thịt săn chắc và khử sạch mùi tanh.

Có người từ làng bên, hay cuối làng, người ta đi chợ Kẻ Diên không phải để mua sắm, mà chỉ để ăn một đọi cháo bột mà thôi. Khi nhắc tới chuyện này, cái việc “độc ẩm” đầy thi vị ấy, mới đây thôi, cũng như huyền thoại. Nhắc lại bây giờ, chắc khó có người tin!

Không biết những chuyện vặt này có làm bạn đọc hài lòng hơn. Riêng tôi vẫn nhớ ngày xưa, đến giờ, cha tôi liền sai đi mua cháo bột. Tôi cầm cà mèn, ngồi đợi từ khi nồi nước vừa sôi trên bếp, còn mụ Long thì dùng mấy ống tre đã được lăn bột gạo bên ngoài, mà con trai của mụ ấy ngồi bên vừa nhồi bột, vừa lăn bột cho dính vào ống tre. Từng con bột được cắt đều tăm tắp, nhảy vô nồi cháo đang sôi. Và đợi khi khách múc xong một lượt, thì tôi mới được mụ Long đón lấy cà mèn, múc đầy cho “bữa lỡ” của cha, từ sáng sớm đã ngồi bên lò rèn. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ đến cái mùi thơm nồng của nồi cháo quê ấy.

Thôi, tôi không kể nữa. Kể nhiều quá lại hết chuyện. Mà chuyện về mụ Long thì chắc nhiều người cùng thời với tôi còn nhớ rõ hơn. Tôi xin nhường phần còn lại cho mọi người.

-----------------------

Kết

Nghĩ lại, những câu chuyện vặt vãnh tưởng như đã lùi sâu vào quá khứ ấy, hóa ra lại là dòng sữa tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn của những người con viễn xứ. Tô cháo bột quê nghèo, đi qua những năm tháng thanh bần, không chỉ gói gọn trong vị ngọt của con cá đồng hay mùi thơm nồng cay của củ ném cối đá. Nó chở theo cả một miền ký ức của những buổi chợ Kẻ Diên họp sớm, của những chiếc đọi hai tầng thấm đượm tình làng nghĩa xóm, và cả tiếng nhịp búa đập rèn của cha bên bếp lửa rực hồng.

Thời gian trôi đi, làng cổ Diên Sanh có nhiều đổi thay, món cháo bột cũng đã mang theo bao lớp tên gọi mới để thích nghi với những cuộc mưu sinh trên khắp vạn nẻo đường đất nước. Nhưng dù có bay cao, bay xa đến đâu, dù có xuất hiện trang trọng trong các siêu thị hay ở những đô thị phồn hoa xứ người, thì cái gốc gác mộc mạc, chắt chiu từ hạt gạo quê nhà vẫn mãi là thứ hương vị không thể nào thay thế.

Một tô cháo bột đơn sơ mà ôm cả một đời người, một đời làng. Để rồi mỗi khi nhớ về, ta không chỉ nhớ một món ăn ngon, mà là đang nhớ về một cội nguồn để thương, để kính, và để tìm đường trở về...

Biết đâu, sau bài viết này, sẽ còn có người kể cho tôi nghe thêm một câu chuyện khác về tô cháo bột quê. Và nếu vậy, có lẽ bài viết này vẫn chưa kết thúc...

Sài Gòn tháng Bảy năm 2026

Trương Tam Phong

READ MORE - CHÁO BỘT DIÊN SANH - Trương Tam Phong

Sunday, June 7, 2026

MỘT CHUYẾN CÂU XA - Lê Thi

 



MỘT CHUYẾN CÂU XA


  Sáng nay, tiết trời đã vào xuân, không khí mát mẻ, dễ chịu. Tôi nhâm nhi ly cà phê, ngắm từng đàn chim kéo về kiếm ăn: nào cu cườm, họa mi, sáo, sẻ nâu… làm huyên náo cả một góc thành phố. Bỗng chuông điện thoại reo lên.

– Anh đi câu cá không? 

– Ok, em. 

– Anh mặc đồ ấm nhé, 10 phút em qua đón.

 

Tôi vội khoác bộ đồ thu đông, xách theo chiếc ghế xếp rồi bước nhanh ra xe. Trời khoảng 14°C, đủ lạnh để cảm nhận rõ cái se sắt dễ chịu của buổi sớm mùa xuân. Tôi tiện tay lấy thêm mấy lon Coca và hộp bánh.

 

Chiếc xe vừa rời khu dân cư, khung cảnh đã thay đổi choáng ngợp. Thành phố lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những khoảng không rộng lớn đặc trưng của vùng Trung Tây. Hai bên đường mở ra những cánh đồng ngô bạt ngàn, trải dài đến tận chân trời. Chú em vừa mới từ miền Nam chuyển về đây tỏ vẻ ngạc nhiên: 

– Nhìn như biển vậy, anh… 

– Ừ, “biển ngô” đó. Mùa này đang vào giai đoạn xanh tốt nhất.

 

Những hàng ngô cao ngang đầu người, lá xanh đậm rung rinh theo gió, tạo thành từng lớp sóng mềm mại. Con đường thẳng tắp như đường băng, cắt ngang qua những trang trại khổng lồ. Xa xa là những silo cao vút, vài chiếc máy nông nghiệp nằm nghỉ giữa đồng, và những căn nhà nhỏ bé với vài chiếc máy bay đậu trong sân, lọt thỏm giữa không gian rộng lớn, khiến người ta không khỏi tò mò. 

– Mỗi nông trại chắc cả trăm hecta hả anh? 

– Có chỗ cả ngàn hecta. Làm nông ở đây là làm kiểu công nghiệp rồi. Ohio mỗi năm sản xuất khoảng 13–15 triệu tấn ngô phục vụ chăn nuôi, sản xuất nhiên liệu sinh học (ethanol fuel trộn vào xăng E10, E15), chế biến thực phẩm và các ngành công nghiệp khác.

 

Gió lùa qua cửa kính mang theo mùi ngai ngái của lá ngô và đất ẩm – thứ mùi rất riêng của miền đất này. Thỉnh thoảng, vài đàn chim sà xuống rồi lại bay vút lên khỏi những luống cây xanh rì, làm khung cảnh thêm sống động. Xe đang chạy khoảng 130 km/h, thì phải giảm tốc cho một đàn gà lôi vài trăm con băng qua đường như một sợi dây thừng nhiều màu sắc vắt ngang đại lộ. Xa xa, cả đàn chim đậu kín trên dây điện… ta như lạc vào một câu chuyện cổ tích.

 

Chiếc xe cứ thế lướt đi giữa không gian mênh mông và yên bình, như thể cả chuyến đi đang chậm lại để kịp cảm nhận vẻ đẹp vùng đất trước khi bước vào một ngày câu cá đầy hứng khởi.

 

Rời vùng đồng bằng, chúng tôi tiến về phía sông Sandusky River. Tôi tranh thủ kể thêm cho cậu em về địa lý nơi này. 

– Con sông mình đi câu là Sandusky. Nó bắt nguồn từ vùng đồi phía bắc Ohio, chảy hơn 200 km rồi đổ ra hồ Erie. 

– Nó lớn vậy luôn hả anh? 

– Ừ, không quá rộng nhưng rất quan trọng. Vì nối trực tiếp với hồ Erie nên cá di cư theo mùa rất mạnh. Con sông này còn gắn với nhiều câu chuyện lịch sử, thậm chí có cả những truyền thuyết kỳ lạ. 

– Gần tới chưa, anh? Nghe mà em háo hức quá. 

– Đoạn này nổi tiếng nhất là walleye. 

– Cá mắt kính phải không? 

– Ừ. Tháng 3–4 là mùa “walleye run”, cá từ hồ Erie bơi ngược dòng lên đẻ trứng. Lúc đó dân câu kéo về đông như hội.

 

Tôi nói thêm: 

– Ngoài ra còn có smallmouth bass, câu lure rất đã tay vào mùa hè.

 

– Còn catfish?

 

– Channel catfish thì gần như quanh năm, đặc biệt ăn mạnh ban đêm. White bass cũng chạy theo mùa như walleye. Thỉnh thoảng còn có freshwater drum – người ta gọi là sheepshead. 

Anh bạn gật gù:

 – Nghe thôi đã thấy “nghiện” rồi đó anh. Sao anh sành như chuyên gia về cá vậy? 

– Anh nhiều kỷ niệm về vùng sông nước này mà.

 

Gần đến điểm vào sông, chúng tôi ghé một cửa hàng ven đường mua cà phê và ít đồ ăn. Những con đường ngang dọc như ma trận, yên ắng, mang nét rất riêng của vùng quê Ohio. 

– Làm ly cà phê nóng cho tỉnh đi. 

– Cho em thêm xúc xích nữa.

 

Tôi tranh thủ kiểm tra cần câu:

– Anh chuẩn bị phao chì chưa? 

– Rồi, đầy đủ hết. 

– Giấy phép câu cá đâu? 

Tôi khựng lại: 

– Hình như… hết hạn rồi.

 

Chúng tôi ghé vào một cửa hàng dụng cụ câu cá gần đó. Điều khiến tôi bất ngờ là bốn nhân viên đều đã lớn tuổi nhưng vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát. 

– Cháu cần mua giấy phép phải không? 

– Dạ vâng ạ. 

– Cho tôi xem ID và đọc bốn số cuối an sinh xã hội. Tổng cộng 69 đô/năm.

 

Một cụ tư vấn mồi, cụ khác hướng dẫn phao, còn cụ “trẻ” nhất – cũng đã 86 tuổi – trực tiếp xử lý thủ tục. 

– Các cụ làm ở đây lâu chưa ạ? 

– Cả đời rồi, con – cụ cười – tổ tiên tụi cụ sống bên con sông này mà.

 

Mua thêm vài món lặt vặt, anh bạn thanh toán cả trăm đô. Đúng là thú chơi này không hề rẻ. Dọc hai bên bờ sông có rất nhiều cửa hàng phục vụ dân câu – từ cần câu, mồi cá đến đồ ăn nhanh. Nhiều khu có chỗ barbecue (BBQ), bàn ghế dã ngoại và nhà vệ sinh miễn phí cho du khách.

 

Đến bờ sông Sandusky River, đoạn gần Bradys Island, khung cảnh mở ra nhộn nhịp. Dòng sông rộng khoảng 60 mét, người câu ngồi kín hai bên bờ. 

– Đông quá, anh! 

– Mùa này là vậy đó, đẹp nhất và sôi động nhất trong năm.

Người ta dàn hàng ngang, có người một cần, có người ba, bốn cần. Tiếng reo vang lên mỗi khi cá cắn: 

– Dính rồi! 

– Kéo từ từ thôi! 

Một con walleye đầu mùa được kéo lên, ánh vàng xanh lấp lánh dưới nắng. Những con cá trê kêu “eng éc” như tiếng heo con. 

– Đúng bài rồi đó anh! 

– Ừ, trúng mùa có khác.

 

Cá white bass và catfish rất nhiều. Có người câu không kịp gỡ. Những con cá trê vàng nặng 3–6 kg, mồi giun là món khoái khẩu. Chỉ sau vài tiếng, ba thùng đá đã đầy ắp. Có người kéo lê dây cá dài 5–6 mét trên thảm cỏ, giống trò kéo mo cau thời nhỏ.

 

Những đàn hải âu sà sát mặt nước, lao xuống giành cá ngay trước cần câu. Người câu vừa ngồi ghế xếp vừa nhâm nhi Coca hay cà phê, tận hưởng không khí như một lễ hội ngoài trời.

 

Chiều xuống, ánh nắng trải lên mặt sông như bạc. Tôi ngồi dưới chân cầu, vừa gỡ cá vừa ngắm dòng nước trôi chậm. Một đoàn tàu chạy ngang qua cầu, dài như con rắn khổng lồ – đếm hơn 300 toa vẫn chưa hết, choáng ngợp sức mạnh công nghiệp Mỹ. 

– Đi câu ở đây đúng là vừa chơi vừa hiểu thêm địa lý đó anh ha. 

– Ừ, không chỉ là câu cá. Đây là cả một hệ sinh thái gắn với hồ Erie và con sông này. 

Anh bạn bên cạnh thở dài: 

– Đêm qua em còn câu ở hồ Erie, giờ vẫn đi tiếp được. 

– Đam mê vậy mới theo nổi. 

Tôi cười: 

– Ở đây người ta sống theo mùa cá. Nhưng thú chơi này không đơn giản – cần thời gian và tiền bạc: tàu, xe, dụng cụ… mỗi chuyến đi tốn không ít. Nghề chơi cũng lắm công phu, phải có đam mê thực sự.

 

Một chuyến đi không chỉ đầy cá, mà còn đầy cảm xúc về một vùng đất rộng lớn – nơi thiên nhiên và con người hòa vào từng mùa nước chảy. Hơn 3.000 con sông, suối trải dài hơn 46.000 km ở bang Ohio – một thiên đường cho người yêu sông nước.

 

Nếu có dịp, mời bạn một lần về Ohio trải nghiệm một chuyến câu cá, để cảm nhận vùng đất này – bình yên, rộng lớn và đầy sức sống. Nơi đây còn có nhiều lễ hội du lịch, với người dân bản địa thân thiện, mến khách.

Lê Thi

    thivanle1569@gmail.com

READ MORE - MỘT CHUYẾN CÂU XA - Lê Thi