Ký ức mùa bần
Tản văn của Nguyễn
Đại Duẫn
Tôi về quê trong
một buổi sớm cuối thu, khi những ngọn gió heo may khẽ lướt qua. Bến sông quê vẫn
đó, hiền hòa gợn sóng như đang chờ đợi tôi. Và ngay bên bến sông ấy, tôi gặp lại
mấy người bạn cũ. Bên cây cừa cổ thụ, họ đang thả hồn vào ly cà phê sáng trong không khí thanh bình nơi góc quán quê nhà. Tay nâng ly cà phê bạn mời mà lòng cứ xốn
xang nhìn về rặng bần cuối làng. Sau những giọt cà phê đăng đắng như ghi vào ký
ức một dấu lặng, chúng tôi cùng nhau lên chiếc xuồng máy của bạn đi về phía bãi
bần sau xóm Sáo. Càng đến gần bãi bần, mùi thơm chua ngọt của bần chín, mùi thơm
thanh khiết của hoa bần đang nở, tất cả quyện vào trong làn gió thoảng nhẹ, phảng
phất đầu sóng mũi như hương quê nhà. Con sông Long Đại vẫn êm trôi; rặng bần vẫn
rậm rì bên sông. Nhưng gương mặt mấy đứa bạn bây giờ đã in hằn những vết chai sạn
sương gió của thời gian.
Dòng sông Long Đại
quê tôi vào mùa này sau những cơn mưa không còn xanh ngắt như mùa hè. Nước sông
đục một màu phù sa trên nguồn Côộc đổ về mang theo những đám lục bình rung rinh
chùm hoa tím. Dọc theo bờ sông phía cuối đuồi làng là những rặng bần mọc ken
dày, gốc cắm sâu xuống lớp bùn non, cành lá rậm rì tỏa bóng mát như cất dấu những
ký ức tuổi thơ.
Bao nhiêu năm xa
quê, đi qua biết bao miền đất, tôi vẫn không quên được mùi hương ngai ngái của
mùa bần chín bên sông. Cái mùi vừa ngọt vừa chua, lẫn trong gió sông và mùi bùn
đất quê nghèo, cứ âm thầm bám riết lấy ký ức như một phần máu thịt.
Ngày ấy, lũ trẻ
chúng tôi coi rặng bần ven sông như cả một thế giới riêng. Mỗi mùa nước lên, những
gốc bần già lại đâm bộ rễ khí tua tủa như chông. Mùa nước ròng, dưới gốc bần là
vô số hang hốc cho cua, cá, tôm trú ngụ. Thường vào độ giữa thu là bần chín rộ.
Những buổi trưa sau khi trốn ngủ, chúng tôi rủ nhau ra sông hái bần. Trái bần
chín vàng lẫn trong màu lá xanh, chen lẫn bông hoa màu trắng ngà đang nở. Chỉ cần
rung mạnh cành là quả rơi lộp bộp xuống nước.
Thân bần sần sùi,
như chính cuộc đời người quê. Nhưng cái vị chua thanh pha chút ngọt dịu của
trái bần lại khiến đứa nào cũng mê. Có hôm tôi hái nhiều quả đã già, mẹ đem nấu
canh cá lóc, cá ngạnh…mùi thơm lan khắp bếp quyện với mùi khói rơm cay xè. Có
những món ăn dân dã mà người dân quê tôi thường hay dùng là: bần xắt lát hoặc xẻ
tư kho chung với cá, vị chua ngọt của bần thấm vào thịt cá giúp thịt săn chắc
và bớt tanh; bần sống xắt lát chấm ruốc biển hay mắm cáy ăn kèm cơm nóng; thịt
heo luộc bóp bần non và rau thơm. Những món ăn xưa ấy chừng như ngon hơn cả sơn
hào hải vị bây giờ.
Dưới những gốc bần
um tùm còn là thiên đường của lũ cua dèm nhỏ như quả trứng ngỗng bò lổm ngổm. Mỗi
lần nước ròng, bọn trẻ chúng tôi lại lom khom mò ngao, bắt ốc… Có đứa lấm cát
bùn tới tận đầu gối vẫn cười toe toét vì vừa thò tay vào hang đã túm được con
cá bống to như cán dao. Tuổi thơ quê nghèo, chiến tranh thiếu thốn đủ điều,
nhưng niềm vui cứ theo chúng tôi bằng những ngày bình yên như thế.
Ký ức về rặng bần
không những là nơi lưu giữ tiếng cười trẻ nhỏ, mà còn là nơi cất giấu cả một thời
bom đạn đau thương mà hào hùng. Những năm chiến tranh, dòng sông Long Đại là mạch
máu giao thông quan trọng. Máy bay Mỹ thường quần thảo suốt ngày đêm. Mỗi khi
nghe tiếng động cơ gầm rú từ phía xa, cả xóm lại hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn.
Lũ trẻ chúng tôi khi ấy còn nhỏ, chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghe tiếng
bom máy bay Mỹ dội xuống, tiếng đạn pháo cao xạ của bộ đội bủa vây quạ sắt; chỉ
biết lao xuống những chiếc hầm chữ A để ẩn nấp. Rồi tiếp đó là tiếng hét nhà
cháy, tiếng rên la của người bị thương, tiếng khóc thảm thiết của ai đó khi có
người thân vừa mất… thật tàn khốc và ác liệt.
Những tán bần rậm
rì che kín mặt sông, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh um tùm. Nhờ vậy
mà máy bay địch không phát hiện thuyền bè vận tải, ca nô chở lương thực, đạn dược
của bộ đội đang ẩn náu dưới bãi bần bên sông, âm thầm chờ đợi đêm về xuất bến...
Lũ trẻ chúng tôi
nhiều khi đi hái bần, lượm củi bần xong lại tò mò, mon men lại gần xem những
chiếc ca nô trên sông được phủ một lớp vải dù hoa. Gặp các chú bộ đội, ai cũng
gầy nhưng ánh mắt sáng và nụ cười hiền lắm. Có chú còn chia cho bọn tôi vài chiếc
kẹo Hải Châu ngon không tưởng.
Tôi vẫn nhớ như
in một lần khi cả mấy đứa bạn đang trèo hái bần thì máy bay nhào xuống thả bom.
Chúng tôi không tuột xuống kịp, chỉ biết ôm chặt thân bần, miệng lẩm bẩm: “Lạy
trời”. Một đứa trong bọn khi tuột xuống khóc nức nở. Mấy đứa xúm lại tưởng nó bị
thương. Nhưng không phải, là vì sợ quá mà nó tè dầm ướt cả chiếc quần đùi đang
mặc. Mấy đứa nhìn bạn, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lúc ấy, mặt đứa nào đứa nấy lem
luốc bùn và vỏ bần chín. Bây giờ nhắc lại không đứa nào còn cười mà nét mặt hằn
lên bao ký ức năm tháng của một thời con nít.
Chiến tranh đi
qua đã lâu. Dòng sông Long Đại hôm nay đã yên bình trong không khí vui tươi. Những
chiếc ca nô quân sự năm nào không còn nữa. Tiếng bom đạn cũng chỉ còn trong ký ức.
Nhưng rặng bần ven sông vẫn còn đó, âm thầm soi bóng xuống mặt nước như đang giữ
nét đẹp cho hồn quê.
Tôi cùng đám bạn
già đi dọc bờ sông. Đứa tóc đã bạc, đứa lưng đã còng, vậy mà vừa nhìn thấy trái
bần chín là lại chỉ trỏ, xuýt xoa như đánh thức những kỷ niệm thời trẻ nhỏ.
Chúng tôi không còn trèo bần như ngày xưa, vì không dám. Đã U70 cả rồi lỡ rời tay
ngã xuống thì chỉ khổ thân, khổ con cháu. Chúng tôi chỉ nhặt mấy quả chín rụng,
đưa lên mũi hít hà như đánh thức những hoài niệm.
Tôi đứng lặng dưới
rặng bần già, nhìn bóng nắng trưa loang xuống mặt sông. Gió nhẹ thổi lên mang
theo mùi quen thuộc của hương bần và mùi
bùn đất. Với tôi, mùa bần quê Long Đại chính là một phần ký ức như thế. Một mùa
của tuổi thơ, của tình bạn, của quê hương và của những năm tháng không bao giờ
có thể quên.
Hôm nay, những rặng
bần bên dòng Long Đại không chỉ còn là ký ức của tuổi thơ hay dấu tích của chiến
tranh năm xưa. Chúng đang ngày ngày âm thầm giữ đất, giữ làng cho quê hương.
Sau bao mùa mưa lũ dữ dội của miền Trung, tôi càng hiểu giá trị của những gốc bần
già ven sông. Bộ rễ của chúng cắm sâu và tỏa rộng dưới lòng bùn như những cánh
tay bền bỉ níu giữ bờ đất cho quê nhà. Mỗi khi nước lũ dâng cao, sóng đánh ầm
ào vào mép sông, chính những rặng bần ấy đã che chắn và làm dịu dòng nước dữ,
ngăn cho bờ sông khỏi bị xói lở.
Trời đã trưa, mấy
người bạn lại lên xuồng ngược dòng. Tôi quay đầu lặng nhìn hàng bần, bỗng thấy
chúng giống như những người lính già lặng lẽ suốt bao năm tháng để che chở cho
xóm làng. Có lẽ vì thế mà người quê tôi biết trồng thêm bần, và bảo vệ chúng.
Chiếc xuồng máy chạy chậm lại. Chúng tôi cùng ngồi im lặng bên nhau, để mặc cho làn gió sông phả nhẹ vào mặt; đang âm thầm góp nhặt lại từng kỷ niệm tuổi thơ - nơi bến sông này đã từng chứng kiến biết bao ước mơ, bao kỷ niệm hồn nhiên của một thời tuổi trẻ.
Nguyễn Đại Duẫn
(Hội viên Hội VHNT Quảng Tri)
51, Nguyễn Hữu Cảnh
Thôn: Nam Quán
Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị
ĐT: 0977194533

No comments:
Post a Comment