Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, July 31, 2026

HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong

Tác giả: Trương Tam Phong

         
HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG


1. Đặt vấn đề

Làng Hiền Lương (nay thuộc TDP Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.) vốn có tên là Hoa Lang. Theo các nguồn sử liệu và văn bản Hán Nôm, cư dân đã đến khai phá, lưu trú ổn định tại đây từ khoảng thế kỷ XV. Đến năm 1841, dưới triều vua Thiệu Trị, do kiêng húy tên Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa, làng được đổi tên từ Hoa Lang thành Hiền Lương và giữ tên gọi này cho đến nay [1, 2, 3, 4, 5]

Trải qua nhiều thế kỷ, Hiền Lương trở thành một trong những làng rèn nổi tiếng của xứ Thuận Hóa. Việc mở rộng làng, cùng với nghề rèn, không chỉ tạo nên các vùng đất mới mà còn tạo nên sinh kế bền vững cho nhiều thế hệ cư dân và góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của làng cổ Hiền Lương. Góp phần đưa Hiền Lương trở thành một địa danh quen thuộc trong lịch sử thủ công truyền thống Việt Nam.

Cư dân Hiền Lương từ bao đời nay vẫn thường nhắc nhớ về quê hương qua câu khẩu quyết quen thuộc: "Làng sáu xóm, sáu phường". Trong cấu trúc ấy, sáu xóm bao gồm Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhơn, Võ Đình, Văn Quán và Phước Tự; song hành cùng sáu phường là Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ và La Vần. Hai hệ thống này không đơn thuần là tên gọi hành chính, mà còn phản ánh hai không gian cư trú, sinh kế trong tiến trình mở cõi, lập làng và phát triển lâu dài của cộng đồng.

Hệ thống sáu phường không hình thành đồng thời mà là kết quả của một quá trình mở rộng không gian lịch sử. Bốn phường Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa và Triều Dương ra đời sớm hơn cả, gắn liền với công cuộc khai phá vùng gò đồi phía tây của các bậc tiền nhân. Trong khi đó, Khánh Mỹ và La Vần xuất hiện muộn hơn vào thời Nguyễn; đến thời Khải Định, hai phường này đã chính thức nằm trong địa giới làng và được triều đình ban sắc phong chuẩn định. Sự góp mặt của Khánh Mỹ và La Vần đã hoàn thiện cấu trúc “sáu xóm, sáu phường” của làng Hiền Lương.

Mỗi phường mang trong mình những đặc điểm riêng biệt về lịch sử hình thành, các bậc Khai canh – Khai khẩn, hệ thống địa danh cũng như những dấu ấn đậm nét trong văn bản Hán Nôm và hệ thống sắc phong triều đình. Bên cạnh đó, qua các nguồn tư liệu lịch sử và điền dã, một số nơi còn lưu giữ nhiều tên gọi song hành qua các thời kỳ: Triều Dương gắn liền với tên nôm Vĩnh Nẫy, Khánh Mỹ gắn với vùng đất mang tên Đức Thắm (Đất Thắm), hay La Vần xưa vốn thuộc sự quản lý của xóm Văn Quán. Bài viết này xin giới thiệu quá trình hình thành, đặc điểm cụ thể của sáu phường cùng các tên gọi và dấu ấn lịch sử, qua đó làm rõ cấu trúc địa giới và sự mở rộng không gian cư trú bền bỉ của làng Hiền Lương.



2. Một vài đặc điểm của sáu phường thuộc làng Hiền Lương

2.1. Phường Công Thành

Là một trong bốn phường hình thành sớm nhất trên dải gò đồi phía tây, cách trung tâm làng Hiền Lương khoảng 17 cây số. Bản sắc phong 68 (1), triều đình ghi nhận ngài Hoàng Ngọc Tích có công khai khẩn vùng đất này. Từ đó, trải qua các thế hệ, hậu duệ nơi đây phát triển thành hai nhà thờ họ (với khoảng 17–18 thế hệ),

Công thành, nay thuộc TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế. Bên cạnh dòng họ Hoàng chủ đạo, vùng đất này còn đón nhận dòng chảy cư dân từ các họ khác đến sinh cơ lập nghiệp như họ Trương Tất, họ Dương.

2.2. Phường Hưng Long

Cũng nằm trong nhóm các phường hình thành sớm, gắn liền với công cuộc khai phá đầu tiên ở phía tây làng. Hệ thống sắc phong ghi nhận hai vị Đồng Hậu Khai khẩn có công lớn là ngài Dương Phước Lộc và ngài Dương Phước Dã. Tên gọi Hưng Long được thế hệ con cháu trân trọng gìn giữ nguyên vẹn qua nhiều thời kỳ.

Về mặt hành chính hiện nay, địa bàn Hưng Long, Thượng Hòa và Vĩnh Nãy đều thuộc TDP Bắc Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế. [1, 2, 3, 4, 5]

2.3. Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)

Thuộc nhóm bốn phường hình thành sớm trên vùng gò đồi phía tây, Thượng Hòa hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong quan trọng là Sắc phong số 78 (ban cho ngài Hoàng Ngọc Tuấn và Trần Văn Công) cùng Sắc phong số 79 (1) (ban cho ngài Hoàng Thanh Vật) [1, 2, 3, 4, 5] .Thượng Hòa từ lâu gắn liền với tên gọi dân gian là Đất Thắm (xuất hiện song hành cùng Khánh Mỹ trong tư liệu sắc phong), phản ánh sự đan xen hài hòa giữa danh xưng của hai vùng đất.

Địa bàn này nay cùng chung không gian hành chính với Hưng Long, Vĩnh Nẫy, thành TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

2.4. Phường Triều Dương (Vĩnh Nẫy)

Là phường có bề dày lịch sử lâu đời thuộc nhóm đầu của làng. Theo dòng phát triển, cư dân tiếp tục mở rộng thêm vùng đất Vĩnh Nẫy sát kề, khiến trong dân gian quen gọi gộp là Triều Dương - Vĩnh Nẫy. Theo địa thế xưa, đây là vùng đất có đầm nước ngập, trên mặt phủ đầy các loài cỏ mọc đan kết dày đặc thành một lớp thảm thực vật vững chắc; khi người qua lại trên mặt đầm thường có cảm giác chân bước "nảy lên, nảy xuống", từ đó dân gian gọi vùng này là “Vịnh Nảy”, về sau đọc chệch thành Vĩnh Nẫy.

Sắc phong bản số 76 (1) ghi rõ "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và ban sắc phụng thờ vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng Đại Lang Chi Thần. Ngôi miếu cổ tại đây hiện vẫn phụng thờ thêm ba vị Khai khẩn khác là Nguyễn Đức Thọ, Trương Công Cổ và Hoàng Quý Công.

Ngày nay, vùng đất Triều Dương - Vĩnh Nẫy cùng với Thượng Hoà, Hưng Long  thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế, là minh chứng sinh động cho sự bảo lưu bền vững các lớp địa danh truyền thống. [1, 2, 3, 4, 5,6]

2.5. Phường Khánh Mỹ (Đất Thắm)

Hình thành muộn hơn khi không gian gò đồi phía tây đã tương đối ổn định. Sắc phong bản số 65 (1)ghi nhận công lao của vị Khai khẩn Trần Ngọc Lãng[1, 2, 3, 4, 5] (1). Nơi đây từng là điểm quy tụ của nhiều dòng họ di cư từ trung tâm làng ra, trong đó tiêu biểu có phái Trương Duy (gốc từ xóm An Hội). Khánh Mỹ còn được gọi với cái tên quen thuộc là Đức Thắm, gắn liền với vùng Đất Thắm chung với Thượng Hòa. Địa bàn hiện nay thuộc TDP Khánh Mỹ, phường Phong Điền, thành phố Huế.

2.6. Phường La Vần (Truông Vần)

Là phường hình thành muộn nhất cùng với Khánh Mỹ. Khởi thủy, đây là khu vực do xóm Văn Quán trực tiếp quản lý, sau đó mới chính thức lập thành phường dưới thời Nguyễn (đến thời Khải Định được ghi nhận trong Hiền Lương chí lược tân biên). Trong đời sống dân gian, nơi đây còn được gọi là Truông Vần hay Truông Cầu. Ngày nay, La Vần- Truông Cầu  địa bàn này thuộc TDP Tây Hiền  Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

 

 

Các phường thuộc làng Hoa Lang- Hiền Lương

trong quá trình mở rộng không gian cư trú (1)

STT

Địa danh cổ / Phường / Vùng đất

Vị trí hành chính hiện nay (Thuộc TP. Huế)

 

Các vị tiền hiền có công Khai canh  có sắc phong  lập phường (2)

 

1

Làng Hiền Lương

TDP Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

Các vị khai canh lập làng

2

Phường

Công Thành

TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế

Ngài Hoàng Ngọc Tích

Bản số 68

3

Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)

TDP Bắc Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

-Ngài Hoàng Ngọc Tuấn

-Ngài Trần Văn Công

Bản số 78

-Ngài Hoàng Thanh Vật

Bản số 79

4

Phường

Hưng Long

TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

-Ngài Dương Phước Lộc

-Ngài Dương Phước Dã

5

Phường

Triều Dương

(Vĩnh Nãy)

TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

Bản số 76: Ghi nguyên văn "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑), ban sắc phụng thờ Khai khẩn Hoàng Như Phượng (Đại Lang Chi Thần).

Chú thích tư liệu ghi nhận thêm tại Vĩnh Nẫy còn có miếu thờ 3 vị Khai khẩn

-Ngài Nguyễn Đức Thọ

-Ngài Trương Công Cố

-Ngài Hoàng Quý Công

6

Phường

Khánh Mỹ

TDP Khánh Mỹ, phường Phong Điền, thành phố Huế

-Ngài Trần Ngọc Lãng

Bản số 65

Khai khẩn lập nên phường Khánh Mỹ                

 

7

Phường La Vần

TDP Tây Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

 

 


 

3. Một vài cảm nhận.

a. Về sắc phong, miếu thờ và danh xưng Vĩnh Nẫy - Triều Dương

Trong Sắc phong số 76 (1) ban hành ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924), triều đình ghi rõ: "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và sắc phong cho vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng. Bên cạnh đó, tại đây còn có miếu phụng thờ thêm ba vị đồng Khai canh và Khai khẩn gồm:

Ngài Nguyễn Đức Thọ

Ngài Trương Công Cổ

Ngài Hoàng Quý Công

Tuy nhiên, khi đối chiếu với tài liệu khảo cứu Hiền Lương chí lược tân biên (Thượng tọa Thích Tín Nghĩa, 1993), văn bản lại ghi nhận rõ: "Phường Triều Dương còn có tên là Vĩnh Nẫy...". Như vậy, Vĩnh Nẫy không phải là một địa danh độc lập đứng ngoài khung sáu phường cổ truyền, mà nhiều khả năng chính là tên ấp (tên nôm/đơn vị phụng tự) tương ứng với phường Triều Dương (朝陽) trong giai đoạn cuối triều Nguyễn. Sự song hành giữa tên chữ trang trọng và tên nôm truyền miệng này tạo nên một nét dày dặn trong lớp lang lịch sử địa phương (2, 3, 5).

Như vậy, một số ngài khai canh, khai khẩn không có được sắc phong của triều đình thì được dân làng xây dựng miếu thờ, xuân thu nhị kỳ hương khói nhớ ơn. Ngoài ra, một số vị không có cả miếu thờ thì dân làng góp ruộng để nhớ ơn các vị tiền hiền có công mở đất. Đó là ruộng thưởng, không phải ruộng “hương hỏa” như 12 ngài thủy tổ lập làng Hiền Lương theo lệ: “Hữu miếu vô điền, hữu điền vô miếu”.

 

b. Danh xưng “Phường Đất Thắm”

Dân gian Hiền Lương thường gọi phường Thượng Hòa (上和) và Khánh Mỹ (慶美) bằng cái tên chung mộc mạc là Đất Thắm (坦閏). Đối chiếu với hệ thống sắc phong triều Khải Định năm thứ 9 (1924) dành cho các bậc tiền hiền:

Phường Thượng Hòa: Gắn liền với các ngài Hoàng Ngọc Tuấn (Bản số 82) (1), Trần Văn Công (Bản số 78) và Hoàng Thanh Vật (Bản số 79). [2,3,6]

Phường Khánh Mỹ: Gắn liền với công lao khai khẩn lập nên phường của ngài Trần Ngọc Lãng (ghi nhận qua Sắc phong Bản số 65). [2,3,6]

Trong Sắc phong bản số 82 [2, 6], triều đình ghi trực tiếp danh xưng "Phường Đất Thắm" (坦閏) bằng chữ Nôm. Theo cách đặt tên cho vùng đất này, tên gốc là "Đức Thắm". Tuy nhiên, trong cách phát âm của cư dân địa phương, "Đức Thắm" thường được đọc chệch thành "Đứt Thắm" (âm ư chuyển thành â), rồi dần phổ biến dưới dạng "Đất Thắm". Phải chăng, chính tên gọi đã được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng này đã được triều đình tiếp nhận và ghi trực tiếp vào sắc phong bằng chữ Nôm với danh xưng "Phường Đất Thắm

c. Vị thế của dòng họ Dương - Dòng họ lớn trong hành trình lập làng Hiền Lương

Xét về công đức khai phá, lập nên phường Hưng Long (興隆) tiêu biểu là hai ngài thuộc dòng họ Dương lớn: ngài Dương Phước Lộc và ngài Dương Phước Dã. Thế nhưng, thực tế phân bố các nhánh tộc phái hiện nay lại ghi nhận những dấu ấn rất đáng suy ngẫm: Tại La Vần (羅凡) hiện có hai nhánh họ Dương lập nhà thờ tộc tại đây. Theo Hiền Lương chí lược tân biên, phường La Vần (Truồng Vần) lại là phường hình thành muộn nhất, do xóm Văn Quán (文 quán) quản lý và lập nên dưới thời Nguyễn. Ngoài ra, tại phường Công Thành (功成) cũng có một nhánh họ Dương lập nhà thờ tộc tại đây.

Điều này làm nổi bật một thực tế lịch sử sâu sắc: Họ Dương vốn là một dòng họ lớn có công đức to lớn trong việc khai hoang, lập ấp và dựng làng Hiền Lương thuở ban đầu. Dù con cháu phân lưu tỏa rộng và có tới ba nhánh lập nhà thờ tộc tại các phường khác nhau, nhưng điều đáng chú ý là tại chính gốc làng Hiền Lương xưa lại không tồn lập một ngôi nhà thờ chính của dòng họ này. Sự phân bố ấy minh chứng cho tầm vóc vươn xa của dòng họ trong công cuộc mở đất, đồng thời gợi mở thêm những suy ngẫm về hành trình phân lưu của dòng họ và sự gắn bó với cội nguồn làng cũ.

 

d. Từ phường thành làng và sự chuyển hóa không gian cư trú, sinh kế

Sự mở rộng không gian của làng Hiền Lương luôn gắn liền với tiến trình phát triển sinh kế của cộng đồng. Ban đầu, một số gia đình đông con không theo nghề rèn truyền thống đã di cư đến các vùng gò đồi phía tây để lập nên các phường mới. Việc lập các phường này chịu sự chi phối chặt chẽ theo lệ làng và quan hệ huyết thống. Hằng năm, con cháu tứ xứ đều phải quay về tham dự các lễ lớn của họ làng. Do khoảng cách đi lại bất tiện, các phường như Hưng Long, Thượng Hòa từng đề nghị được lập làng mới, nhưng Hội đồng làng gốc không chấp thuận. Lý do là vì mỗi phường lúc bấy giờ chỉ có khoảng 20 hộ gia đình sinh sống trên vùng gò đồi, trong khi theo nguyên tắc cổ truyền, làng gốc phải duy trì sự chia sẻ rộng rãi cho các “đinh” trong toàn làng [1]

Tuy nhiên, với trường hợp Họ Hoàng của Thủy tổ Hoàng Khi đại lang lại khác. Từ đời thứ ba, hai ngài Hoàng Hùng và Hoàng Khắc đã khai canh và lập nên làng Cao Ban và làng Kế Môm. Hai vị này đều được sắc phong thần hoàng làng tại đây. Từ đó hình thành nên cộng đồng họ hoàng :”Hiền Cao Kế Đồng Tộc”




Mặc dù cư dân tại các phường mới lập chủ yếu chuyển sang làm nông nghiệp và không còn trực tiếp nhóm lò rèn như ở trung tâm Hiền Lương, kết quả khảo sát điền dã lại mang đến những thông tin bổ sung có giá trị. Nhiều gia đình người Hiền Lương khi lên lập nghiệp tại phường Công Thành vẫn duy trì ngọn lửa nghề rèn truyền thống. Theo chia sẻ của ông Hoàng Ngọc Chiến (69 tuổi, hậu duệ đời thứ 15 dòng họ Hoàng Ngọc), khoảng 20–30 năm trở lại đây, nhiều lò rèn tại đây đã từng bước chuyển đổi sang các cơ sở gia công cơ khí và hiện vẫn đang hoạt động mạnh mẽ. Chi tiết này cho thấy người Hiền Lương tại Công Thành không chỉ duy trì nghề rèn truyền thống mà còn từng bước tham gia vào các công đoạn luyện sắt sơ chế để chủ động nguồn nguyên liệu cho các lò rèn tại chỗ lẫn trung tâm làng.

Theo dòng thời gian, dẫu vẫn chịu sự chi phối của hương ước và lệ làng thuở ban đầu, nhưng khi cư dân ngày càng đông đúc, các cấp chính quyền qua từng giai đoạn lịch sử đã cho phép các phường này tách lập thành các làng, thôn mới, không còn lệ thuộc hành chính vào hương ước khép kín của làng Hiền Lương xưa. Đồng thời, các dòng họ tại những vùng đất mới cũng thiết lập nên hệ thống nhà thờ cho các chi phái tách ra từ họ gốc ở làng để tiện bề hương khói. Dù vậy, sợi dây kết nối với làng cũ, với huyết thống dòng họ và âm vang của tiếng búa rèn truyền thống chưa bao giờ phai nhạt trong mỗi dịp việc làng, việc họ hay ngày giỗ Tổ nghề rèn.



Bản độ mở rộng các phường và không gian sinh kế làng Hiền Lương xưa


Thay lời kết

Quá trình hình thành sáu phường của làng cổ Hiền Lương không chỉ phản ánh sự mở rộng không gian cư trú, mà còn ghi dấu hành trình khai phá bền bỉ của nhiều thế hệ tiền nhân. Từ những vùng đất hoang sơ được mở mang, các phường từng bước trở thành những cộng đồng dân cư ổn định, có đình, miếu, nhà thờ họ và các bậc Khai canh, Khai khẩn được triều đình sắc phong, được con cháu đời sau tôn kính như những vị Thủy tổ của từng vùng đất mới. 

Theo dòng thời gian, từ các phường ấy, nhiều khu vực tiếp tục phát triển thành các thôn, tổ dân phố như ngày nay. Dẫu địa giới hành chính đã nhiều lần thay đổi, những địa danh như Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ, La Vần cùng các tên gọi song hành như Vĩnh Nẫy, Đất Thắm, Truông Vần vẫn được lưu giữ trong ký ức cộng đồng, trong gia phả các dòng họ, trong hệ thống sắc phong và trong đời sống thường nhật. Đó không chỉ là những địa danh trên bản đồ, mà còn là những lớp trầm tích lịch sử gắn liền với quá trình mở đất, lập làng của cha ông.

Điều đáng quý là, dẫu con cháu Hiền Lương hôm nay sinh sống, lập nghiệp ở nhiều nơi, truyền thống "ly hương bất ly tổ" vẫn luôn được gìn giữ. Mỗi dịp tế xuân thu, giỗ họ hay giỗ Tổ nghề rèn, nhiều người con xa quê vẫn trở về đình làng, từ đường dòng họ và Tổ đường nghề rèn để tưởng nhớ tiền nhân. Đó không chỉ là sự tri ân đối với các bậc Khai canh, Khai khẩn và Thủy tổ các dòng họ, mà còn là sự tiếp nối bền bỉ của truyền thống văn hóa và đạo lý uống nước nhớ nguồn.


Có thể nói, lịch sử sáu phường của làng Hiền Lương không chỉ là câu chuyện về sự hình thành các đơn vị cư trú, mà còn phản ánh quá trình mở đất, thích ứng và phát triển của một cộng đồng làng nghề truyền thống. Từ những bước chân khai hoang đầu tiên đến sự hình thành các phường, thôn và tổ dân phố ngày nay, tất cả đã góp phần tạo nên bản sắc riêng của Hiền Lương. Dẫu trải qua nhiều biến đổi của thời gian, cội nguồn quê hương, truyền thống dòng họ và Tổ nghề rèn vẫn luôn là sợi dây gắn kết các thế hệ người Hiền Lương ở mọi miền đất nước.


Ghi chú (1) Các số các bản sắc phong trong bài, dựa theo thứ tự các sắc phong trong Văn bản Hán Nôm Hiền Lương [2]

Tp. HCM tháng Tám năm 2026

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      BÙI THỊ TÂN. Về nghề rèn truyền thống: Luyện sắt Phú Bài và Rèn Hiền Lương, tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận án Tiến sĩ Lịch sử. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996.

2.      DƯƠNG PHƯỚC THU và DƯƠNG THỊ HẢI VÂN. Văn bản Hán Nôm Hiền Lương. Huế: Nxb Thuận Hóa, 2013.

3.      HUỲNH HỮU HIẾN. Hiền Lương chí lược. Thừa Thiên Huế: Sở Văn hóa Thông tin Thừa Thiên Huế tái bản, 1991.

4.      HUỲNH HỮU HIẾN. Hiền Lương Chí lược. [s.l.]: [s.n.], 1962.

5.      THƯỢNG TỌA THÍCH TÍN NGHĨA. Hiền Lương chí lược tân biên. California, Hoa Kỳ: Nxb Đại Nam, 1993.

6.      Đỗ Minh Điền (2022),  Tìm hiểu tín ngưỡng thờ Khai canh, Khai khẩn ở một số làng xã vùng Huế, Trang văn nghệ Huế đăng ngày 27/01/2022, http://vannghehue.vn/tin-tuc/p0/c162/n3774/

 

 TRƯƠNG TAM PHONG

No comments: