Làng Văn Quỹ trong tôi
Tôi xa quê đã hơn bốn mươi năm.
Bốn mươi năm, nghe thì dài như một đời người. Vậy mà lạ lắm, chỉ cần ai nhắc hai tiếng Văn Quỹ, lòng tôi bỗng mềm xuống như gặp lại bóng mạ đứng chờ con trước ngõ. Quê hương nhiều khi không cần hiện ra bằng hình hài rõ rệt. Chỉ một giọng nói Quảng Trị, một tiếng “răng”, tiếng “mô”, tiếng “chừ”, tiếng “rứa”, là cả một trời ký ức lại lặng lẽ trở về, ngồi xuống bên tôi như người bạn cũ.
Tôi sinh ra ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân cũ, nay là xã Nam Hải Lăng, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị. Một làng quê nhỏ thôi, không phồn hoa chi, cũng chẳng nổi danh bằng những điều lớn lao, nhưng với tôi, đó là chốn thiêng liêng nhất của đời mình. Nơi ấy có những con đường làng quen dấu chân người, có mái nhà thấp nép bên vườn, có tiếng gà gáy trong sương sớm, có bóng tre, bờ ruộng, có những mùa gió Lào thổi qua nghe khô cả lòng mà vẫn thương chi lạ.
Văn Quỹ quê tôi là làng của nón. Những chiếc nón trắng từng đi qua tay bao người phụ nữ quê nhà, nhẹ như một vầng trăng non, mà chứa trong đó biết bao nhiêu công sức và sự nhẫn nại của người làm ra nó. Tôi nhớ những buổi ngồi chằm nón, tay đưa kim qua từng lớp lá, mắt nhìn theo đường chỉ nhỏ mà lòng cứ mơ màng đâu đó ngoài đồng xa. Cây kim, sợi chỉ, vành tre, lá nón; toàn những thứ bình thường rứa thôi, nhưng khi vào tay người Văn Quỹ lại hóa thành vẻ đẹp dịu dàng. Chiếc nón không chỉ che nắng che mưa, mà còn che chở cả một phần hồn quê tôi.
Tôi nhớ Hải Tân những buổi sớm. Trời còn chưa sáng hẳn, làng đã thức dậy bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng ai gọi nhau ngoài ngõ. Tiếng bước chân đi chợ, đi đồng. Tiếng gió lùa qua mái tranh cũ. Tiếng đời sống quê nghèo bắt đầu một ngày mới bằng sự cần mẫn lặng thầm. Người quê tôi không hay nói lời hoa mỹ, nhưng cái tình thì sâu. Gặp nhau chỉ hỏi một câu: “Mi ăn cơm chưa? “Bữa ni mần chi? “Ở mô về rứa?” nghe mộc mạc mà ấm hơn bao nhiêu lời sang trọng.
Tuổi thơ tôi ở Văn Quỹ không đủ đầy, nhưng đẹp theo cách riêng của nó. Đẹp như một bông hoa dại mọc bên bờ ruộng, không ai chăm mà vẫn nở. Có những ngày làm ruộng, bàn chân lấm bùn, áo quần bạc màu nắng gió. Có những mùa trồng sắn, đi ngược từ Mỹ Chánh lên phía Tây Hải Chánh, đường xa ba bốn cây số, bụi đỏ bám đầy chân mà người vẫn cứ đi. Chừ nghĩ lại, tôi thấy những củ sắn, thửa ruộng, con đường rẫy ngày xưa không còn là nhọc nhằn nữa; chúng đã hóa thành hạt ngọc trong ký ức, càng xa càng sáng.
Tôi cũng nhớ những ngày đi làm thủy lợi ở đập Trấm, bên dòng Thạch Hãn. Con sông ấy trong trí nhớ tôi như một dải lụa dài vắt qua năm tháng. Nước cứ trôi, mây cứ bay, còn tuổi trẻ chúng tôi cũng trôi theo những ngày lao động giản dị. Không cần nói nhiều về cực khổ, vì đời quê hồi nớ ai mà chẳng từng nếm qua. Điều tôi nhớ hơn cả là tình người. Là lúc cùng nhau làm, cùng nhau nghỉ, cùng chia nhau hớp nước, củ khoai, củ sắn, câu chuyện. Cái nghèo có thể làm bữa cơm vơi đi, nhưng không làm lòng người quê tôi vơi nghĩa.
Văn Quỹ trong tôi còn là tiếng quê. Thứ tiếng nghe lên là biết người mình. Xa quê lâu rồi, giữa Hà Nội đông đúc, có khi nghe ai nói giọng Quảng Trị, tôi quay lại liền. Không biết người đó là ai, ở làng mô, xã mô, nhưng chỉ nghe tiếng “mạ”, tiếng “ba”, tiếng “o”, tiếng “eng”, tự nhiên thấy gần. Tiếng quê giống như sợi dây mềm buộc người xa xứ với nơi chôn nhau cắt rốn. Đi mô thì đi, ở mô thì ở, sợi dây ấy vẫn không đứt.
Có người hỏi tôi: xa quê hơn bốn mươi năm, nhớ nhất điều chi? Tôi cũng không biết trả lời răng cho hết. Nhớ làng. Nhớ nhà. Nhớ con đường đất. Nhớ mùi rơm. Nhớ vành nón. Nhớ gió Hải Lăng thổi hun hút qua đồng. Nhớ những buổi chiều đứng nhìn về phía xa, trời đỏ lên sau lũy tre, lòng con gái quê khi ấy còn trẻ mà đã biết thương đời, thương nhà, thương đất.
Quê hương lạ lắm. Khi còn ở đó, ta thấy mọi điều bình thường. Một bờ tre, một giếng nước, một lối ngõ, một phiên chợ, một tiếng gọi nhau cũng chỉ là chuyện hằng ngày. Nhưng khi đi xa, tất cả bỗng hóa thành báu vật. Cái bờ tre ngày xưa thành bóng mát trong lòng. Con đường đất cũ thành lối về trong mộng. Tiếng mạ gọi con thành âm thanh không chi thay thế được. Và làng Văn Quỹ nhỏ bé của tôi, càng xa lại càng lớn lên trong nỗi nhớ.
Tôi thương Văn Quỹ không phải vì quê tôi giàu sang. Tôi thương vì quê tôi đã ôm tôi vào lòng từ thuở lọt lòng. Thương vì đất ấy đã cho tôi tiếng nói, nết người, sự chịu thương chịu khó, sự thủy chung với nguồn cội. Thương vì nơi ấy có những người đàn bà chằm nón lặng lẽ như chằm cả ánh trăng vào đời. Có những người đàn ông chân chất, ít nói mà nặng nghĩa. Có những đứa trẻ lớn lên trong nắng gió, rồi đi xa, rồi suốt đời vẫn ngoái đầu về quê cũ.
Hải Lăng quê tôi là vậy đó. Nắng thì nắng đến cháy vai, mưa thì mưa đến thắt ruột, nhưng đất và người đều đằm sâu tình nghĩa. Cái tình ấy không phô trương, không nói lớn, mà thấm như nước mưa ngấm vào đất. Một lần chạm vào rồi thì cả đời khó quên. Cho nên, dù tôi đã sống ở Hà Nội hơn bốn mươi năm, đã quen với phố phường, với những mùa đông xứ Bắc, trong lòng tôi vẫn có một miền Hải Lăng rất rõ. Miền ấy có Văn Quỹ, có Hải Tân, có nón lá, có ruộng đồng, có rẫy sắn, có đập Trấm, có dòng Thạch Hãn, có bao nhiêu gương mặt thân quen của một thời không trở lại.
Chừ tuổi đã xế chiều, tôi không mong chi nhiều. Chỉ mong có dịp trở về, đi chậm trên con đường làng cũ, nhìn lại nơi mình từng lớn lên, nghe lại giọng quê mình giữa xóm. Muốn được đứng giữa Văn Quỹ mà hít một hơi thật sâu, để mùi đất, mùi gió, mùi rơm rạ, mùi lá nón ngày xưa lại ùa vào lòng. Muốn được nghe ai đó hỏi: “O Thơm về đó à?” chỉ một câu rứa thôi chắc cũng đủ làm mắt tôi cay.
Người ta có thể rời quê, nhưng quê không rời khỏi người. Quê nằm trong tiếng nói, trong dáng đi, trong nếp nghĩ, trong cả những giấc mơ bất chợt lúc đêm về. Với tôi, Văn Quỹ không chỉ là một làng quê trên đất Hải Tân, Hải Lăng. Văn Quỹ là chiếc nôi đầu đời, là vầng trăng cũ treo mãi trong tim, là nơi mỗi lần nhớ tới, lòng tôi lại nghe dịu xuống như được trở về ngồi bên hiên nhà xưa.
Văn Quỹ ơi, quê hương ơi, tôi đi xa đã lâu, nhưng chưa bao giờ thôi nhớ. Dẫu đời có đưa tôi qua bao nhiêu con đường, thì trong sâu thẳm, vẫn có một con đường nhỏ dẫn tôi về làng cũ. Ở cuối con đường ấy, có tiếng gió Quảng Trị thổi qua vành nón, có bóng mạ, bóng ba, có tuổi thơ tôi đứng đợi.
Và có một miền quê, nghèo mà đẹp, xa mà gần, lặng lẽ mà thương đến tận cùng.
Người Hải Lăng viết tặng cô @Ngô Thơm https://www.facebook.com/ngo.thom.5494 theo lời kể của cô thành lời văn.
Ảnh: Thanh Lê Đăng

No comments:
Post a Comment