Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, June 25, 2011

LA THỤY - LƯƠNG MINH VŨ VỚI LÃNG ĐÃNG KHÓI SƯƠNG HOÀI NIỆM

Lương Minh Vũ hiện đang sinh hoạt trong Hội Văn Học Nghệ Thuật Bình Thuận . Anh có một số truyện ngắn đăng trên các tạp chí Văn Nghệ , Văn Nghệ Quân Đội , Văn Nghệ Bình Thuận , tập san Văn ( phụ trương của Kiến Thức Ngày Nay )... Trang lathuy.blogtiengviet.net giới thiệu vài truyện ngắn của LMV , chủ yếu là truyện ngắn " SƠN NỮ " qua cảm nhận của La Thuỵ


Tôi đã đọc “Sơn Nữ”, “Nằm Nghiêng Nhớ Núi”, Làng Của Những Người Mơ Mộng”… các truyện ngắn trên của Lương Minh Vũ đã gieo trong tôi một ấn tượng chung - Một không khí hoài niệm bàng bạc bao trùm. Những tình tiết, những sự kiện, những kỷ niệm xưa cũ như đan kết thành màn khói sương mờ ảo hư hư thực thực, với những nét chấm phá đậm nhạt của một bức tranh thủy mặc, trôi về trong tâm cảnh của nhân vật chính trong truyện.

Phần đầu truyện có thể được viết như một hồi ức về một chặng đường đời của nhân vật chính ( Sơn Nữ ). Nó cũng có thể là một đoạn văn mô tả cuộc sống thực tại, với tâm trạng cô đơn, lạc lõng, khắc khoải của nhân vật chính đang dị ứng với nhịp sống đời thường , đều đều tẻ ngắt , đầy tất bật lo toan hoặc ồn ào rỗng tuếch (Nằm Nghiêng Nhớ Núi - Làng Của Những Người Mơ Mộng). Cuộc sống thực tại đó như đè nén, như vây bủa, như khuấy động con người bất như ý. Và, nhân vật chính u uẩn, sâu lắng tìm về ẩn thoát trong ốc đảo bình yên, dịu xanh kỷ niệm của khung trời cũ. Thế là mạch văn bắt đầu tuôn chảy, phần kế tục của truyện như được Lương Minh Vũ gửi trọn tâm cảnh vào, và chúng được thể hiện như là phần trọng tâm, cốt lõi của truyện. Kỷ niệm cũ tràn về, ngập tràn tâm tưởng, nhân vật chính như nửa mơ màng tận hưởng, nửa như dằn xé khắc khoải. Thực tại đôi khi được Lương Minh Vũ chen vào như một đối trọng làm nổi bật quá khứ, và cứ thế hoài niệm tiếp tục dâng phủ. Hình bóng người xưa được gợi nhớ như là một hình tượng đẹp, một nhân cách trong sáng, một tâm hồn mộc mạc, một lối sống hồn nhiên, giản dị nhưng đầy ý nghĩa, đã đem niềm vui thanh thoát cho nhân vật chính trong truyện, nhưng hắn ta thì vụng về, vì vô tình nên báu vật vô giá trôi vuột khỏi tầm tay, để hắn hoài công suốt đời kiếm tìm, vọng tưởng.

“Đời như trăm sông về biển. Tìm em ở đâu giữa lô nhô loài người”

(Sơn Nữ - Lương Minh Vũ)

Tình yêu đã hé nụ, nhưng mối tình vì chưa bắt đầu nên chưa kết thúc, tơ tình có lẽ vì thế mà lơ lửng giăng giăng.

“Lòng ta chôn một mối tình

Tình trong phút chốc mà thành thiên thu”

(Tình Tuyệt Vọng - Felix Avers - Khái Hưng dịch)

Người xưa đang ở đâu ? Sao để hắn mãi mơ về, hình bóng xa xăm sao vẫn là hư ảnh , cuộc kiếm tìm sao mãi vẫn là sự đuổi bắt vô vọng . Giữa hỗn độn đời thường , trong thoáng chốc bất chợt nào đó, cái dáng thân quen lại thấp thoáng ẩn hiện , một hóa thân của ai làm lòng hắn man mác bâng khuâng

“Đôi khi tình cờ đi ngang qua cánh rừng, tình cờ thấy bóng dáng một người con gái Thượng với chiếc gùi trên lưng, anh bỗng chạnh lòng. Bất giác trong lòng anh dâng lên nỗi u hoài. Anh không hiểu đó là cảm giác của kỷ niệm hay sự bâng khuâng hối tiếc”.

( Sơn Nữ- Lương Minh Vũ )

Sương khói mông lung của kỷ niệm cứ bàng bạc lan tỏa, trong cơn mơ hình bóng “người cũ” vẫn đậm nét trong ký ức, vóc dáng tuổi hai mươi vẫn mãi mãi thanh xuân, dù dòng đời theo thời gian đã nhuộm trắng tóc ai.

“Anh thấy gặp lại nàng giữa khung cảnh rừng núi ngày nào . Bên bờ suối với những thân cây cổ thụ còn nguyên vẹn như xưa.

Nàng ngồi bứt những chiếc lá thả theo dòng suối trôi về phía anh . Ở cuối dòng, anh thò tay cố vớt những chiếc lá ấy . Nhưng bao giờ anh cũng vụng về để nước cuốn đi mất hút . Nàng cười khanh khách trêu anh .

Trong mơ anh cũng biết mình đã luống tuổi . Anh ngậm ngùi nhớ ra rằng mình không còn thơ trẻ nữa . Nhưng còn Sơn Nữ , lạ quá ! Sau hơn mười năm xa cách , nàng với vóc dáng , khuôn mặt , mái tóc và luôn cả tiếng cười nữa , tất cả vẫn còn ở tuổi hai mươi”.

(Sơn Nữ- Lương Minh Vũ)

Đoạn kết trên như một dòng thơ man mác được Lương Minh Vũ dùng để khép lại truyện ngắn “Sơn Nữ”, nhưng truyện không đóng kín lại , mà vẫn hé mở : một khung trời huyễn mộng bâng khuâng đầy hư ảo , một niềm khát vọng cháy bỏng dạt dào vỗ sóng , cái đẹp như thăng hoa thành vĩnh cửu và chập chờn ẩn hiện , chợt gần chợt xa . Cái đẹp như chỉ để suy niệm , để chiêm bái chứ không thể nắm bắt hay chiếm hữu được.

Vâng , Sơn Nữ vẫn hồn nhiên , vẫn trẻ mãi tuổi hai mươi . Chỉ vì Sơn Nữ là kỷ niệm đẹp in đậm vào tâm tưởng rồi thăng hoa trong hoài niệm để trở thành hình tượng vĩnh cửu , bất biến với nét đẹp nguyên sơ thuần khiết chỉ thoáng hiện trong mơ. Nên khi bừng giấc mơ , tỉnh giấc trở về thực tại , ta cứ mãi tiếc nuối giấc mơ hoa.

“Rất nhiều khi anh thảng thốt giấc phì nhiêu . Nhưng khi giật mình tỉnh giấc , ồ chỉ là cơn mê , mộng si níu giữ. Cuối bờ bên kia gầm gừ sóng phủ , biển vẫn xanh một mầu xanh hoang”.

(Hoàng Quý)

CẢM ĐỀ SƠN NỮ

(Truyện ngắn của Lương Minh Vũ)

*

Ngày tháng lặng buồn tênh vòng cơm áo

Ta chồn chân mỏi gối với đời mòn

Thu mình lại ẩn thân vào ốc đảo

Chút khẽ khàng liệm kín khối tình son

**

Tóc đà bạc sao lòng còn hoài vọng

Một đời ta luôn dõi mắt tìm trông

Em hồn hậu trong ta thành vang bóng

Mắt môi xưa đọng ngấn ngát hương lòng

***

Rồi lãng đãng gần xa , huyền dáng mộng

Nét thơ trinh vằng vặc ánh trăng ngần

Em thoáng hiện cho thơ đời ngân vọng

Ta ngậm ngùi nhìn lại - Đã tàn xuân

La Thụy

READ MORE - LA THỤY - LƯƠNG MINH VŨ VỚI LÃNG ĐÃNG KHÓI SƯƠNG HOÀI NIỆM

Friday, June 17, 2011

TÌNH YÊU DÂNG HIẾN TRONG THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - Trần Anh Phương


Cầm trên tay tập thơ "Người hái phù dung" của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi như đọc với chính mình giữa đêm khuya lặng lẽ bên ngọn đèn. Cảm nhận đầu tiên về thơ anh không phải thơ để đọc giữa chốn đông người hay ở trong hội trường lớn, thơ anh chỉ đến với người đọc khi chỉ còn lại một mình đối diện với chính mình, tìm lại mình trong những con chữ lan toả như từng đợt sóng, xâm chiếm choáng ngợp lòng người...

"Bức thông điệp vỏ chai" (Paul Celan) mà tôi là người nhận, đang giải mã và bằng trực cảm tâm linh, tôi nhận ra gương mặt tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẫm chất nhân văn cao cả, với anh tình yêu là giai điệu của bài ca dâng hiến. Thơ anh không trau chuốt gọt đẽo đến cầu kỳ mà hồn nhiên như hơi thở hay chính cuộc đời anh hoá thân làm câu chữ để thắp lên khát vọng cho sự vô biên tuyệt đích, khát vọng vĩnh cửu trong tình yêu. Qua một số bài "Kỷ niệm dành riêng cho hoa Violét", "Bên kia những ngày thường", "Cỏ, chim sẻ và châu chấu", "Lời ngu ngơ của một gã mù", "Xin người một chút không", "Nơi tôi gởi bóng", "Dù năm dù tháng" "Dạ khúc"... thể nghiệm hành trình tình yêu vẫn thầm lặng chảy miên man rong ruổi theo tháng ngày giữa hai bờ hư thực, một hành trình vô cùng vô tận, người đọc dường như bị lôi đi, bị bỏ bùa bởi sự đê mê dâng hiến ngập tràn bằng những rung động mang tính địa chấn.

Xâu chuỗi qua từng trang thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường với thủ pháp lặp từ đầy âm vang điệp khúc "cho ta", " cho em"”cho anh” vang lên gọi mời dâng hiến:

Em rót cho anh ly rượu đầy

Em cho anh một chiều thong thả.

Hay

Em có lời thề dâng hiến

Cho anh trọn một đời người

...

Phải chăng cảm quan tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là cho nhiều hơn nhận. Tình yêu với anh là cõi huyền nhiệm thánh thiện tâm linh, nó trong trẻo như pha lê và quý giá hơn hết thảy mọi thứ trên trần thế, tình yêu với khát vọng chân thiện mỹ. Trong bài "Dạ khúc" mở ra một không thời gian chiều hay giờ xẩm tối, là giờ thiêng, khi mà ngã thể con người cảm thấy bị giam hãm, trong khuôn khổ sinh tồn bất toàn và hữu tử, khi nó khát khao hoà mình trong hoàn vũ tự tồn, sẵn sàng hiến mình cho sự hư vô, tịch diệt vì những khả năng tái sinh mới, thì "em bất chợt" hiện về như thiên sứ, em đến mang theo mật mã của đời anh. Có thể nhận ra sự vi tế ấy qua giọng thơ gấp gáp với cảm xúc hổn hển rung lên hàng nghìn cung bậc trong trái tim kẻ đang yêu. Hạnh phúc mà em mang lại trong "chiều trần thế" dường như đã cứu rỗi thân phận anh trên cây thập giá đời.

Có chiều nào như chiều xưa

Anh về trên cát nóng

Đường dài vành môi khát bỏng

Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua

Lòng tràn đầy thương mến

Mang cả xuân thì em đến

Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi

Cho ta chiếc hôn nồng cháy

Nỗi đau bắt đầu từ đấy

Ngọn ngào như trái nho tươi.

Ở đây chỉ trong mười hai câu thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh em là cơn mưa, là bông hoa, là trái nho tươi. Ôi! Em như huyền thoại cổ xưa về nước như là một nguyên tố khởi thuỷ, nơi vạn vật phát sinh và vạn vật phải trở về cho vũ trụ được cải tử hoàn sinh. Trong đoản khúc trữ tình này, Hoàng Phủ Ngọc Tường phả vào đó hơi thở của sự sống mà em là thiên sứ mang hạnh phúc về nơi trần thế trên đôi cánh thiên thần.

Nhưng đằng sau những xúc cảm tuôn trào của anh vẫn chìm sâu ẩn mật một sự chiêm cảm sâu sắc. Cái độc đáo nhất trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về tình yêu là anh nhận ra gương mặt tình yêu, gọi tên nó và đưa đến một khái quát lớn, rằng tình yêu chỉ vĩnh hằng trong sự hiến dâng thánh thiện mà thôi. Vậy nên trong đam mê ngây ngất, chủ thể trữ tình đã nhận ra nỗi đau, một nỗi đau ngọt dịu "Nỗi đau bắt đầu từ đấy. Ngọt ngào như trái nho tươi". Và hơn thế nữa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm thấy sự tương phản giữa "chiều xưa" và “chiều nay”; bức thông điệp về thời gian, thời gian cay nghiệt nó cuốn đi tất cả vào trong lòng nó và em cũng có thể trôi theo quy luật của cuộc đời.

Có buổi chiều nào như chiều nay

Căn phòng anh bóng tối dâng đầy

Anh lặng thầm như cái bóng

Hoa tàn một mình mà em không hay.

Anh đã nhận diện nỗi đau trong tình yêu trong một chiều kích mới: đó là sự thay đổi tình yêu ngay trong bản ngã con người. Anh sợ sự lưỡng diện trong em, thiên đường hay địa ngục cũng từ đó. Câu thơ khép lại rưng rưng nỗi đau được thắp lên thật nhân ái bởi em đã đánh rơi mình, em ra đi mang theo cả hương hoa tàn lụi, hình ảnh "hoa tàn" ở cuối bài Dạ khúc như một sự đổ vỡ cho những ai có tâm hồn quá ư nhạy cảm vì khát vọng tuyệt đối trong tình yêu. Bằng linh cảm tiên nghiệm Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận ra một cách sâu sắc rằng có tình yêu chưa đủ mà phải biết chăm lo vun xới nuôi dưỡng cho tình yêu ấy, nhân lên theo năm tháng cũng chẳng dễ gì. Bởi cuộc đời biết đâu đấy... ý niệm này đưa anh thể hiện trọn vẹn ở một bài thơ khác:

Chăm lo cánh đồng tình yêu

Anh đếm từng vầng trăng sáng

(Dù năm dù tháng)

Sự khái luận về tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường ta cũng từng tìm thấy qua tập thơ "Người làm vườn" của hiền triết Ấn Độ Tago. Tago từng quan niệm tình yêu như mảnh vườn mà con người cần vun xới mới hái được hoa thơm quả ngọt. Phải chăng do Hoàng Phủ Ngọc Tường, trước đây, từng nhiều năm dạy triết phương Đông mà có sự tương đồng này chăng?

Cũng cần đề cập đến với đề cái tôi trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, bởi không ở đâu thể hiện cái tôi rõ nét bằng tình yêu trong quan niệm cho và nhận. Trước đây trong thơ mới nhà thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... từng quay lưng với đời để tìm hạnh phúc nơi bồng lai, tiên cảnh hay trong ảo mộng. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường có cảm quan mới về triết lý nhân sinh: anh đã tìm thấy hạnh phúc ngay trong trần thế do tình yêu mang lại với những ai biết vun xới và nâng niu nó. Chưa đâu hình tượng phụ nữ được tôn vinh, lên ngôi như trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hình tượng phụ nữ trong thơ anh lung linh một vẻ đẹp Á đông huyền bí, họ chính là suối nguồn yêu thương, dâng hiến nụ hôn nồng nàn trên đôi môi trần thế.

Cho ta một chút yêu kiều

Chút sương áo mỏng, chút chiều tóc bay

Trăm năm còn có heo may

Mùa thu hồng nhạn còn đầy trong ta

...

Này em mắt biếc nhìn đời

Cho ta soi bóng làm người tương tri"

Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo dáng câu thơ thành lời nói cá thể. Câu thơ có chủ ngữ nhân xưng "em" "anh" "ta"... biểu thị của lời nói chủ thể xác định. Chất lãng mạn trong thơ anh luôn gắn với hiện thực thông qua cảm nhận về thế giới và con người một cách đặc thù. Ở đó, cái tôi trong thơ thể hiện khát vọng giải phóng cá tính, trả con người về bản chất tự nhiên. Thơ anh tạo không khí tâm tình cho thi sĩ thổ lộ, mở rộng với đời.

Điều tiên quyết về tình yêu trong thơ Hoàng phủ Ngọc Tường là phải có lòng tin và sự thuỷ chung. Bởi anh quan niệm tình yêu là nơi để soi bóng mình nhận diện mình. Nhân vật “anh" trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường xem tình yêu là nơi ký thác vận mệnh của đời mình, giá trị nhân phẩm con người được biểu hiện trên gương mặt tình yêu của họ. Hoàng Phủ Ngọc Tường đem tấm gương tình yêu để soi rõ bóng dáng cuộc đời trong mỗi con người, tình yêu cứu rỗi nhân loại:

Giữ hoài cho màu nước

Sáng trong như lòng tin

Đừng để thấy trong em

Gương mặt tôi tan vỡ.

(Nơi tôi gửi bóng)

hay

Đọc trên môi em

Sức nóng của màu hoa phượng đốt cháy thành phố

...

Vâng, trên môi em,

Ta đọc lại ngọn lửa của nhân loại đã tắt ngấm

(Lời ngu ngơ của một gã mù chữ)

Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận trong sự không chỉ lý tưởng hóa mà còn thần thánh hóa người yêu. Tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất hiện như một tình cảm hồn nhiên, tươi sáng, làm đẹp cuộc sống con người, cất bổng nó lên khỏi thực tại đời thường ô trọc. Bởi thế, nhân vật trữ tình "anh" trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường có chiều kích mang tầm vũ trụ. Anh cũng dâng hiến đời mình bằng tất cả hành động mãnh liệt nhất, trãi qua những vật vả, nguy khó để tìm đến với em. Bằng hình ảnh ước lệ, tượng trưng, kỳ vĩ.

Bên kia những ngày thường

Có anh bơi tìm em qua những dòng sông

(Bên kia những ngày thường)

hay trong bài "Mùa xuân anh trở lại". Nhân vật anh cũng thiết tha dâng hiến, đi theo tiếng gọi vĩnh cửu của tình yêu không đắn đo suy tính tình yêu như là sự may mắn mà anh có được.

Anh yêu em rộng mãi những chân trời

Và mới mẻ như ngày đầu anh đến

Với hương lạ sóng cồn cửa biển

Chim phượng hoàng gọi nắng rừng xa

Thời gian cuốn trôi tất cả, thời gian vừa tái sinh vừa huỷ diệt. Dấu ấn thời gian trong bài "Dù năm dù tháng" là thời gian vĩnh cửu; tình yêu vận hành theo quy luật riêng không tuân theo logic đời thường; thời gian theo nhịp đập của trái tim mà trái tim lại mang trong mình nó sự vĩnh cửu, năm tháng không hề lay chuyển nổi. Sự dâng hiến của tình yêu là bất tận, mang giá trị vĩnh hằng. Nó rất gần với câu danh ngôn "Thời gian dập tắt tình yêu nhỏ, thổi bùng tình yêu lớn". Như thế, con người đã tìm thấy sự tồn tại của mình có ý nghĩa vĩnh hằng trong tình yêu và cám ơn tình yêu đã giúp con người chiến thắng sự hạn hữu, thân phận bé mọn của mình trong dòng vô thuy, vô chung.

Dù năm dù tháng em ơi

Tim anh chỉ đập một đời

Nhưng trái tim mang vĩnh cửu

Trong từng hạt máu đỏ tươi.

Với Hoàng phủ Ngọc Tường, tình yêu là vô giá, luôn được tôn vinh kể cả sự hy sinh cho tình yêu cũng là niềm hạnh phúc vô bờ bến. Thơ của anh phải đọc trong lúc bình tâm, thanh thản. Nó hiện lên những bức tranh về những khoảnh khắc của tâm trạng, của tình yêu và của những ước muốn suy tư. Vẫn biết rằng Hoàng phủ Ngọc Tường viết thành công trên nhiều thể loại, nổi tiếng nhất là ký, nhàn đàm... Tuy nhiên trên lĩnh vực thơ ca lại là nơi hành hương trở về lớn nhất của anh - trở về bản thể thi sĩ của chính mình. Thơ anh thánh thiện, toát lên ánh sáng ngọc trai ngậm bằng nỗi đau lắng lại sau bao cơn sóng vất vả của biển đời để khái quát nên triết lý cho tình yêu: hạnh phúc con người có được trong tình yêu chỉ thật sự bắt nguồn khi con người biết hy sinh dâng hiến cho nhau, tình yêu sẽ chiến thắng sự hữu hạn của kiếp người, đưa thiên đường về nơi trần thế.

Trong hành trình thơ hôm nay, bên cạnh những cây bút đa giọng điệu, khá thành công về mặt thi pháp. Thơ Hoàng phủ Ngọc Tường vẫn có điệu thức riêng. Nó diễn đạt rất kín đáo nỗi khắc khoải siêu hình của tâm hồn con người trong tình yêu, nó chỉ khêu gợi nhưng ám thị; nó mời gọi người đọc tự hoàn thành thông điệp của tác phẩm nghệ thuật trong tâm tưởng của mình. Cái duyên sức mê dụ hấp dẫn thẩm mỹ đặc thù qua nhiều bài thơ của Hoàng phủ Ngọc Tường là ở chỗ ấy. Trong đời người làm thơ chỉ để lại trong lòng người đọc một bài, một câu thơ đã là quý hóa. Riêng Hoàng phủ Ngọc Tường dù anh không muốn thành thi sĩ, thế nhưng những bài thơ của anh luôn được kết hợp với âm nhạc của Phú Quang như chắp thêm đôi cánh cho thơ ca thăng hoa và đến được với mọi người trong trạng thái xuất thần. Mặc dù thưởng thức và chiêm ngưỡng thơ là tuỳ ở con mắt đa tình và cái gout thẩm mỹ của từng người. Nhưng có lẽ nào những lời thơ tình nồng nàn dâng hiến đắm say đến thế lại không làm cho ta sống và yêu giữa cuộc đời tươi đẹp này. Như vậy Hoàng phủ Ngọc Tường đã vươn đến cái đích cao cả của nghệ thuật rồi vậy.

Trần Anh Phương (Tạp chí Sông Hương)

.

READ MORE - TÌNH YÊU DÂNG HIẾN TRONG THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - Trần Anh Phương

Wednesday, June 15, 2011

PHAN BẢO HÒA - MÙA CẢI QUÊ TÔI



Những ngày cuối năm, mưa xuân lất phất rơi từng hạt trong veo li ti e thẹn vương khẽ trên mái tóc báo hiệu đất trời đang độ vào xuân.


Ở quê tôi, từ những ngày cuối tháng 11, khi mưa xuân về thì khắp mọi vườn nhà nào cũng xới đất vãi cải. Cải là loại cây dễ thích ứng với tiết xuân. Hạt cải chỉ cần vãi ra vài hôm, gặp mưa xuân là có thể phát triển nhanh thành cây con, với một màu xanh mướt tươi non thẳng tắp theo lối đường đất như những tấm thảm nơi quê nghèo. Bởi chỉ cần nhìn những vườn cải mượt mà chợt thấy quê mình giàu lắm cái hồn quê chất chứa khôn nguôi. Chính quê hương đã gói gém cẩn thận những kỉ niệm giúp ta lớn miên man theo ngày tháng. Và kỉ niệm ấy cũng bình dị mộc mạc như cái tình quê vậy.

Theo thông lệ vào mùa này trong làng đi đến nhà nào cũng có một luống cải xanh được vãi được tỉa. Cải là loài cây hợp với đất ẩm. Đất trồng cải được cuốc bệ lên rồi phăm mịn trộn đều với ít phân hữu cơ. Như thế là đã tạo ra được một môi trường phì nhiêu thuận lợi cho cải phát triển và chống chịu với cái nũng nịu của tiết trời cuối năm cứ thay đổi liên tục.

Vào ngày tết bên những thức ăn ngậy béo thì một rá cây cải non sẽ trở thành món ăn rau sống kẹp, trong bữa ăn của mỗi gia đình. Rồi từ đó cải trở thành món khoái khẩu đối với mỗi người mỗi nhà.

Khi tiết trời lập đông cũng như mọi người trong làng, mẹ tôi tỉa những cây cải to cứng cáp trong luống cải được vãi rồi cấy cải ra theo luống. Chỉ khoảng hơn mươi hôm các luống cải đã xum lá to bẹ lắm rồi. Cứ thế trong cái nắng hiếm hoi những ngày cuối năm. Mẹ tôi lại vội vàng nhổ những cây cải to có giòng rửa sạch để ráo, tranh thủ nắng mới phơi cải héo héo. Nấu nước sôi để nguội cho thêm ít muối khuấy đều rồi nén từng lá cải vào trong hủ đất. Sau đó đổ nước muối cho xấp xấp lá cải là được. Rồi đậy kín nắp hủ và cứ để như vậy vài hôm đến lúc mở ra, từ trong hủ cải sẽ bay vởn vào không khí một mùi thơm chua chua nồng nồng lan tỏa của món dưa cải. Lúc này từng lá cải xanh đã chuyển sang màu vàng ươm trông rất thích mắt. Món dưa cải quê tôi có vị ngon và khác biệt so với dưa cải bẹ miền Bắc. Cải quê tôi người ta hay gọi là cải cay. Lá không to, cọng nhỏ dài. Rất hợp để dùng làm dưa cải muối. Lúc ăn từng miếng cải giòn rúm, lá dưa cải dai ngọt. Loại dưa cải cay khác biệt là khi để dưa cải lâu trong hủ cải không bị nát, lúc kho cải cũng không bị nhừ. Điểm đặc biệt ở quê tôi quan niệm với những người gọi là có tay làm cải thì dưa cải để càng lâu càng thơm và ngon.

Nhớ những năm phải sống xa nhà trọ học nơi đất người mới thấy sao nhớ quá hủ dưa cải cay của mẹ. Tôi không thể quên được cũng vào mỗi dịp cuối năm thế này khi lũ sinh viên chúng tôi cứ bận bịu vào kì thi học kì I nên chẳng mấy chú tâm vào việc nấu nướng cứ cơm bụi mỳ tôm triền miên qua ngày. Và thế là mỗi buổi chiều ánh trời vàng đục đổ về trên mái bếp nhà bên, tôi ngồi ôn bài cạnh cửa sổ vu vơ ngước mắt nhìn sang thấy màu khói bếp nhà bên vởn vơ theo tiếng gọi mẹ của đứa trẻ đầu phố không hiểu sao khi ấy lại thấy sống mũi mình cay cay.

Những lúc ấy thấy thèm biết mấy một dĩa dưa cải vàng thơm của mẹ chấm nước mắm ớt tỏi với bát cơm trắng quê mình quá đỗi.

Mặc dù cải là loại cây góp vào bữa cơm hàng ngày nhưng ở quê tôi cây cải còn có một sứ mệnh thiêng liêng lắm bởi màu hoa cải đã tạo nên bức tranh quê nghèo ngày tết một nét đẹp riêng khó phai. Màu vàng hoa cải hằn sâu vào ký ức, thường trực trong nỗi nhớ mỗi người vào những khi tết đến xuân về. Cái vàng tươi của hoa cải không hiểu sao cứ thấy vương vấn không muốn xuân qua vì lúc ấy hoa cải cũng theo ngày xuân sang mùa mà tàn rụi héo buồn. Bỗng cảm thấy yêu lắm cái màu vàng mơ màng trên từng bông cải nhỏ nhắn đáng yêu nhưng lại không kém phần tinh tế. Mặc dầu cải không đẹp kiêu sa nhưng cải đẹp trong chính sự bình dị thầm lặng như nét đẹp chân chất của người nông dân quê tôi vậy.

Những buổi xế tà theo ráng chiều lất phất màu đỏ nhạt của ánh mặt trời muộn nghiêng xuống trên những bông cải phản chiếu một gam màu rất đẹp và lạ. Hoa cải dập dờn ru theo gió khẽ chao mình e ấp một vẻ đẹp tình tứ đáng yêu. Cải hồn nhiên và rồi nét đẹp duyên quê ấy đã vướng vào tâm hồn kẻ đa cảm từ lúc nào không hay biết sự cho nhớ nhung da diết trước mỗi mùa cải quê hương.

Phan Bảo Hòa

Nguồn: Phongdiep.net
READ MORE - PHAN BẢO HÒA - MÙA CẢI QUÊ TÔI

Monday, June 13, 2011

HÀ THẠCH HÃN - TẢN MẠN VỀ ỚT


Những ngày rong ruổi ở miền Trung, đi đến đâu cũng thấy sự hiện diện của ớt, lúc nào cũng cảm nhận được hương vị nồng nã của ớt.

Lại nhớ một thời ấu thơ bần hàn gắn chặt với cái thứ cay nồng da diết ấy. Nào là ớt kho, ớt bột; rồi nào là ớt ướp, ớt hấp dầm nước mắm… Chao ôi, cả một thế giới ớt trong bữa ăn người túng khó.

Cây ớt ở quê tôi thường được trồng vào những tháng cận Tết, khi mưa phùn lất phất bay và cơn gió se se lạnh ùa về. Đấy là một loại ớt rất đặc trưng miền Trung: trái thon dài, không quá cay mà lại thơm nồng mãi trong ký ức. Ớt được trồng khắp mọi nơi, ngoài đồng, trồng trên bờ đê, trong vườn và cả bên thềm nhà…

Một bữa ớt chưa kịp ra trái, mẹ đưa tôi 5 hào sang nhà mụ Viên mua về cả nắm. Thế rồi, bữa cơm bỗng trở nên nồng ấm khác thường: rau sống, rau luộc cắn kèm với miếng ớt mà ngon đến lạ lùng. Những ngày đói kém, không có món ăn nào khác trên mâm cơm, ớt trở thành thứ gia vị duy nhất đánh lừa được đầu lưỡi, kích thích người ta đưa cơm vào miệng. Trong hoàn cảnh ấy, nếu không có ớt, miếng cơm trở nên nhạt nhẽo và vô duyên tệ.

Và rồi, ăn ớt đến mức nghiện. Thiếu ớt lại thấy trống vắng, quay quắt. Thậm chí, ăn mãi mà tăng đô đến độ như cô giáo tôi, chỉ ăn toàn hạt ! Cũng chính vì thế mà sau này, khi đã bị căn bệnh dạ dày hành hạ hàng ngày, cô vẫn nhất quyết không từ bỏ ớt (Nếu có Lam Điền, hắn sẽ ứng khẩu ngay rằng: Ăn ớt thì ăn cho mau/Nếu mà ăn chậm thì đau…dạ dạy ! Hehe).

Ớt đã trở thành hương hồn hương tuý và lưu trú vào tâm thức người làng tôi một góc vững bền, thâm căn cố đế.

Nhưng trong vô số những thực đơn về ớt, nổi tiếng nhất ở làng tôi vẫn là món ớt ướp. Khi ớt chín đến, người ta sẽ hái về đem bỏ vào cối đâm dập, rồi phơi sương cho heo héo trước khi bỏ vào hũ ngâm muối. Đặc biệt ngoài nguyên liệu chính là ớt, người làng còn cho thêm vào đó một ít tỏi và măng nhánh. Khoảng 3-4 ngày sau là có thể đem ra ăn được, khi ấy chỉ mới mở nắp hũ thôi là đã nghe thơm lừng, nồng cay ngào ngạt.

Ớt ướp quê tôi nổi danh đến độ, có cả một dự án sản xuất ớt ướp để xuất khẩu sang tận Đài Loan ! Chỉ tiếc số người Việt viễn xứ không nhiều và cũng không mấy người ăn được ớt nên dự án này không thể mở rộng, phát triển mạnh mẽ như mọi người kỳ vọng.

Bây giờ, dù đã 27 năm đằng đẵng xa quê, nhưng hồi ức về ớt vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng trong tôi. Thi thoảng, chị Kim Em hay Đăng Nam (Văn phòng Đà Nẵng) vẫn gửi biếu vài kg để dành ăn dần cho đỡ thèm nhớ, đành rằng ớt ở hai vùng ít nhiều khác biệt.

Một buổi chiều cùng mấy thằng bạn xa xứ lai rai trên tầng thượng chốn thị thành nhà cao cửa rộng, dõi mắt về miền Trung-nơi nghèo khó và lũ lụt triền miên mà chợt thấy cay cay nơi sống mũi, dù không ăn một miếng ớt nào.

Quê ơi !

Tháng 4-2007

READ MORE - HÀ THẠCH HÃN - TẢN MẠN VỀ ỚT

Saturday, June 11, 2011

VÕ VĂN LUYẾN - BIỂN GIẬN



Biển là Mẹ, Nhân dân, Tổ quốc

Là lòng ta sớm tối đi về

Triệu con sóng trùng trùng nổi giận

Biển đêm nay thức suốt canh dài

Ngẫm mà đau. Kẻ bọc đường viên đạn

Lại nhắm vào ta. Thiện tai! Thiện tai!

Này giấc mộng bá vương bạch tuộc

Diễu võ giương oai gớm thật. Kinh hoàng!?

Bài học nghìn đời chừng như quên thuộc

Diễn kịch ngây ngô: ăn cướp – la làng

Ta mài mực hóa biển đen đợi chúng

Nếu giặc cố gây thêm những bạo tàn

Bút ta sẵn viết lên đầu ngọn sóng

Nghìn câu thơ Như Nguyệt, Bạch Đằng

Ôi cái giá từng viên muối mặn

Từng giọt mồ hôi, giọt máu cha ông

Công lý dựng tháp đài ánh sáng

Vọng âm xưa kiêu hãnh trống đồng

Đêm ta nghe biển xanh gọi về

Như nỗi lo âu mẹ ta gọi gió

Trăng sao gọi lòng người sáng tỏ

Vì quê hương giữ lấy câu thề!


Rạng sáng, 9/6/2011

READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - BIỂN GIẬN

TRƯƠNG LAN ANH - ƠI TRƯỜNG SA - HOÀNG SA



Tuổi thơ con đã đi qua
Còn đây khúc hát Trường Sa thuở nào,
Hoàng sa đảo cát xôn xao
Lắng trong hình bóng thuở nào quê hương.


Biển quê con sóng vô thường
Bởi quân bành trướng bất lương ngàn đời,
Nhớ lời cha dặn con ơi
Giữ gìn con nhé biển trời quê ta.

Ơi Hoàng Sa! Ơi trường Sa
Đảo quê ta đó bóng ma rập rình
Việt Nam Tổ quốc quê mình
Sáng trong - nhân nghĩa- trung trinh tấm lòng

Cớ sao có kẻ cuồng ngông
Chiếm đảo lấn biển chẳng không ngại ngùng
Nhớ không bài học cha ông
Dạy cho thuở ấy Bạch Đằng- Đống Đa...

Ta yêu biển đảo quê ta
Hoàng Sa về với Trường Sa một nhà
Biển xanh con sóng ngân nga
Cho con gửi cả lời ca tâm tình!

Việt Nam Đất nước quê mình
Sáng trong chung thủy- nhân tình gương soi,
Việt Nam đất nước ngàn đời
Ghi lòng tạc dạ sáng ngời Thiên Thư*

08/6/2011

TRƯƠNG LAN ANH

*:"Nam Quốc sơn hà Nam Đế Cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."
READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - ƠI TRƯỜNG SA - HOÀNG SA

Friday, June 10, 2011

ĐOÀN QUỲNH NHƯ – HÀNH TRÌNH YÊU

Đoàn Quỳnh Như, cô gái Quảng Trị, vào Sài Gòn làm việc văn phòng tại Saigontourist, thỉnh thoảng nổi hứng đóng phim, và làm… thơ. Không dông dài kể lể, thơ Quỳnh Như phô bày “hành trình yêu” trắng, lồ lộ chỉ qua vài nét phác nguệch ngoạc nhưng không thể nói là không đắc. Nó không khiêu dâm, càng không khiêu khích ai mà, chỉ mong tỏ bày. Cho chính mình và để tìm vài chia sẻ. Chớ đồng hóa thơ với cuộc sống thực của người thơ. Mà ngộ nhận, tai hại và tệ hại.

Qua tập thơ đầu tay Vọng, bằng kinh nghiệm mang tính cá thể, Quỳnh Như hé lộ cho ta mơ hồ nhận ra thân phận tình yêu trong hành trình yêu, qua đó – thân phận con người trên hành trình đời.

Giới thiệu của Inrasara.

*

HÀNH TRÌNH YÊU (I)

cuối hành tinh là băng giá

tôi lết lê mang tim thoi thóp

chôn cất ở đó

trước khi nó tàn lụi

như tàn tro…

*


VẾT TÍM

vết tím bên trái ngực em

sục sạo

anh đi tìm

mở toang

căn phòng tối đêm qua

còn nhốt lại

tiếng hét

vết tím bên trái ngực em

anh quay quắt

đêm qua

anh có say đâu

lời thú tội hai con mắt

đỏ ngầu

màu ghen

*


SỢI TÓC

em ơ hờ hong khô chi mãi

tóc nhảy múa

tung tự do

trước khi kịp bỏ đời

thân đen

nằm yên không động đậy

trên mảng màu trắng bợt

bàn chân

bước qua nó

dẫm lên nó

vô tình

oằn mình

nó nằm đó

co ro

gầy

em ơi

sợi tóc

sợi tóc

quét đi

quét đi

hốt hoảng

tôi nhìn

nó thóp thoi

áp thân gầy

ru ru

miền tĩnh

lặng

*


CHUYỂN MÙA

khi phố lên đèn

cây bên đường đan nhánh tay xanh

ru ru phố

khuôn mặt đường nóng rát

bỗng đêm về tươi nguyên

gió trở mình lang thang

tóc xõa

phố giấu em với chiều nơi đâu

tôi chiếc lá hớt hải

lăn dài phố hè chông mắt bụi

đục mờ

nhớ gót chân thơm

đôi lần em chạm khẽ vô tình

hay là em và chiều

ân ái

tim lá tôi vụn vỡ

ngực khuôn tròn

bàn tay gió tạo

bờ eo cong tôi hoài mơ ngóng

em một mình

phố một mình

không nói

chiều thở dài tiếng thượt

chuyển mùa

ôm tim mình lá rỗng bơ vơ

chạy trốn

chiều ngược gió


Đ.Q.N


Nguồn: inrasara.com



SÁNG TÁC KHÁC CỦA ĐOÀN QUỲNH NHƯ:
THÁNG SÁU SÀI GÒN, tùy bút
READ MORE - ĐOÀN QUỲNH NHƯ – HÀNH TRÌNH YÊU

Thursday, June 9, 2011

THÁI ĐÀO - CHỢ TÌNH



CHỢ TÌNH



Chợ tình kẻ bán người buôn
Ta đây cũng bán nỗi buồn tình xưa
Bán cho gió bán cho mưa
Ngẫn ngơ ta bán đường xưa lối về
Bán người vào cõi hoang mê
Nửa say nửa tỉnh ta về bán ta.





DẠ THƯA


Dạ thưa em trở dạ rồi
Đẻ ra những trận khóc cười ngã nghiêng
Ta xin gánh vác nỗi phiền
Ẳm cơn dâu biển qua miền cuồng phong
Đến mùa tóc bạc răng long
Đền chưa xong nợ đèo bồng yêu em.


TĐ
2010


READ MORE - THÁI ĐÀO - CHỢ TÌNH

HOÀNG CÔNG DANH – LỜI DỤ TÌNH CỦA DẾ - Tùy bút



Thi thoảng trong những đêm xa nhà, tôi vẫn được nghe tiếng dế thân quen của tuổi thơ vọng lại. Âm thanh réo rắt vượt qua ngàn dặm không gian, lội băng băng từ miền sâu thẳm thời gian đến hát bên tai một bài dạ khúc rất đỗi bình dị.

Theo chân một đứa trẻ mang tên Kỷ Niệm, tôi trở về cánh đồng miên dại buổi áo quần chưa biết đến thơm tho. Tay cầm chiếc đèn tự chế từ mảnh tôn uốn vòm đóng vào tấm ván và đặt phía trong đó cây đèn dầu hoả tù mù. Chiếc đèn này người quê thường dùng để rọi đường đi đêm hoặc để đi soi cá, bắt ếch. Từ trong làng, trẻ con chúng tôi mỗi đứa mang theo một ngụm ánh sáng nhỏ nhoi men theo con đê để ra tới bãi đất Cồn Chung. Sang mùa hạ, tiếng dế nỉ non như lời chào mừng kỳ nghỉ ngơi của tuổi học trò. Dế đã dệt một manh lụa từ thanh âm để dâng tặng cho tâm hồn trẻ con chúng tôi. Và như thế, tâm hồn những đứa trẻ làng đã được bao bọc một cách ấm áp từ rất sớm.

Tới nơi, chúng tôi tản ra mỗi đứa một hướng. Ánh đèn dầu trườn đi theo dấu chân thơ ngây, lát sau cánh đồng lấm chấm điểm những đốm sáng. Trong đêm mang đèn đi bắt dế, tôi mới thấm thía câu nói của ai đó, rằng: mỗi con người đều mang một ánh sáng góp thêm vào cuộc đời. Đèn lặng lẽ cháy giữa đêm như những bông hoa vừa nở ra từ đất, cánh đồng rạo rực khai sinh một mùa mới dành cho con trẻ.

Đi bắt dế phải bước rón rén thật khẽ. Tai phải tập trung hết sức để lắng nghe tiếng kêu của chúng. Loài dế rất tinh nghịch, chúng biết cách chơi khăm trẻ con bằng cách kêu chỗ này một chốc rồi trườn qua chỗ khác trú ẩn. Cứ thế, cả cánh đồng như đang bày trò trốn tìm đầy ma mị, lại như một cuộc thách yêu của loài dế với tuổi dại: "Đố anh bắt được em đấy! Em ở đây. Ở đây này. Anh ơi! Hihi". Phải chăng vì thế mà những thằng con trai làng đã sớm nhiễm chứng bệnh tương tư? Thương nhớ ơi à thương nhớ ơi! Sau này có lần uống say, tôi nằm với Sum ở công viên Huế suốt đêm đợi sáng để đến nhà Hiền, người yêu nó. Một tiếng dế dưới chân cỏ Thành Nội lại hát lên bài lới lơ dụ tình, tôi ngoảy sang hỏi mi nhớ ngày nhỏ đi bắt dế không? Sum nói nhớ, mà răng? Hình như có con dế hôm xưa hoá xác trong ngực mi và bây chừ đang sống dậy, thổn thức về phía người thương.

Trở lại với cánh đồng tuổi thơ. Khi đã định hướng được nơi có tiếng dế phát ra, ta hạ cây đèn xuống gần đất và soi đèn rà rà về phía đó. Mắt dế cũng như mắt loài ếch nhái, đều bị ánh sáng làm loá đi, ngôn ngữ nhà quê gọi là "đóng đèn". Đến lúc đó thì dế đứng yên, xoè đôi cánh lên kêu reng reng như sợ sệt e lệ. Ta quỳ một đầu gối xuống đất, khum bàn tay và úp lên con dế vừa thách yêu. A, ta bắt được em rồi nhé, dế ơi! Ai bảo em thách mần chi. Có một lần tôi theo chú ra đồng bắt dế, chú nói rằng: "Sau này mày lớn lên thì hãy nhớ! Đi tán gái cũng như đi bắt dế vậy, phải làm cho con gái "đóng đèn", cho nó mụ mị đi rồi thột nhiên ôm chầm một cái, rứa là có vợ. Hehe". Mỗi trò chơi ấu thời không đơn thuần chỉ là trò chơi để vui, mà nó còn nhắn nhủ với ta một kinh nghiệm sống nào đó.

Đi bắt dế, mỗi đứa mang theo một vỏ bao thuốc lá để đựng. Chộp được dế phải đưa lên đèn soi xem, nếu là dế đực thì bỏ vào hộp thuốc, nếu là dế cái thì thả ra vì dế cái không thể đá được. Dế cánh màu đỏ gọi là dế lửa, dế than thì cánh màu đen. Dế lửa nhỏ con hơn dế than nhưng lại đá hăng hơn, thế nên đi bắt dế đứa nào cũng cố tìm cho được dế lửa. Trong đêm yên tĩnh, tiếng dế hoà thành dàn đồng ca mùa hạ, thi thoảng có đứa reo lên "đây rồi" khi chộp được một con dế. Bên kia đứa bạn cất tiếng hỏi vống qua: "Than hay lửa rứa?". "Than". "Than thì thả cho rồi!". Cứ than với lửa như thế cho đến khuya, đèn dầu cạn hũ, lửa hoá muội than mới kéo nhau về.

Cũng có khi chúng tôi bắt dế vào buổi sớm. Ấy là những lần cả lũ trẻ kéo nhau đi đá bóng. Ra tới cồn, bắt cặp chia phe xong, còn đứa nào thừa ra thì đi bắt dế. Sớm mai, trăng đêm qua còn treo lơ lửng trên đầu, dưới đất loài dế đã thức dậy như muốn tham gia vào trận bóng. Bắt dế buổi sớm mai thì không mang theo đèn, dế nó không đóng đèn nên thường ta phải rượt đuổi theo. Con dế lủi rất nhanh, tới một nhúm cỏ rậm, nó thò đầu lên cười rèng rèng rồi lủi tiếp.

Dế bắt được đem về nhà nuôi trong một cái lon. Trong lon có bỏ đất và trên miệng bịt bằng bao ni- lông chui lỗ cho dế thở. Thức ăn chính của dế là ớt trái, ớt càng cay càng tốt vì nó làm tăng độ hăng của dế chọi. Ngoài ra, phải xé thêm một lá khoai lang để dế ăn lót dạ. Sau vài trận đá dế, có đứa moi một cái lỗ dưới đất rồi bỏ hộp dế xuống và lấp lại, như thế gọi là "dầm dế". Dế dầm dưới đất sẽ lấy lại sức rất nhanh.

Có lần tôi bắt dế về ngang đường thì gặp con bé xinh nhất xóm, nó ngửa tay: "Cho tau một con!". "Mi ưng tau rồi tau cho!". Cô bé gật đầu nói ừ, mai mốt nậy lên tau mần vợ mi. Tôi moi từ trong hộp giấy một con dế cái đưa cho nó: "Giống nhà mày đấy! Chọi thì không được nhưng nhử đực rất tài". Quả thế thật, cái đầu con dế cái thường được ngứt ra, cắm vào một que tre dùng để khích động cho dế hăng khi vào trận. Dế ơi! Có phải mày là loại dụ tình kiêu kỳ nhất? Để sau là lớn lên có khi vì một dung nhan thiếu nữ mà lũ đàn ông đấu đá nhau.

Sân chọi dế được ghép bởi bốn viên gạch trên một khoảnh đất phẳng, hai đứa thả hai con dế của mình vào đó cho chúng tranh hùng. Con dế nào bỏ chạy coi như thua cuộc. Tiếp tục đứa khác thả dế của mình vào. Phần thưởng cho người thắng cuộc chỉ là danh dự, nhưng kẻ thua thì bị ngứt đầu dế dùng để nhử tiếp trận sau. Có lần, mấy đứa chúng tôi thách nhau đứa nào thắng dế sau này sẽ làm chồng con bé xinh nhất xóm. Những trận dế vang vang tiếng hò tiếng hét càng khích thêm sự hiếu thắng con trẻ. Cô bé đã ra đi, mang theo chú dế sính lễ tôi tặng em từ buổi bụng dạ tự tiện tảo hôn. Những thằng con trai làng đứng trân trân cầm trên tay chiếc hộp giấy rỗng đựng rất nhiều lời thánh ca mặc niệm của dế.

Ông Viện kể rằng, giữa thế kỷ hai mươi, trong làng Phúc Lộc có nhà cụ Hoàng Tri Toàn phú quý và túc lễ. Để khích lệ niềm hiếu học, cụ Toàn có trò đổi dế. Trẻ con trong làng bắt dế đem đến cho cụ thì được cụ tặng lại một tập giấy để viết. Cụ đem số dế ấy thả vào vườn, mỗi đêm mỗi sớm, tiếng dế reo vang như hồi chuông thúc giục con cái chăm chỉ học bài. Nhờ thế nên các con, các cháu của cụ sau này có nhiều người đỗ đạt. Học theo tiền nhân, trẻ con chúng tôi cũng bắt dế về thả trong vườn. Những hôm có trăng, trẻ con trải sách ra giữa trời ngồi đọc, bên vườn bầy dế đồng thanh hát ru: "À ơi. Sáng trăng trải chiếu hai hàng/ Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ". Chữ nghĩa liên vận với tiếng dế thành bài thơ luyến vần dễ thuộc.

*

Những khu vườn hôm xưa ngập tràn tiếng dế đã nhập hồn vào khu vườn ký ức mỗi đứa con làng. Ở đó, có lời dụ tình loài dế đánh thức niềm yêu, dế cùng ta học bài, lại có con dế đem ra đổi tình. Sau này lớn lên mấy đứa bày nhau sắm "dế" (điện thoại di động) đem đi tán gái. Nhưng xem ra trò dùng con "dế" giả dối hiện đại này chừ cũng lỗi thời rồi. Biết đâu đến một hôm nào đó ta lại dắt em về quê, cùng nhau ra đồng, bắt một con dế chân thật và tặng người thương. Dưới ánh trăng hôm ấy, chắc là dế sẽ hát lời dụ tình hay nhất!

Hoàng Công Danh

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH – LỜI DỤ TÌNH CỦA DẾ - Tùy bút

Wednesday, June 8, 2011

VÕ QUÊ – NHỮNG LỜI CHÚC – Tùy bút



...niềm vui phả vào tận mỗi căn phòng, mỗi thước tấc tâm hồn tôi.



Bình minh. Tiếng chim hót líu lo quanh vườn. Âm thanh chuông gió ngân nga hòa âm cùng rì rào lá biếc. Hương ngâu thoảng thơm nhờ gió sớm ban mai gửi tặng trần gian. Đàn ong không còn cần vầng sáng néon trong căn gác nhỏ của tôi đã bay đi tìm phấn hoa luyện mật trong ánh ngày đang tới. Mở đầu một trang đời mới tinh khôi. Hôm nay là thứ Bảy. Cuối tuần.

Khinh khoái. Hân hoan. Ngôi nhà tôi ngân nga tiếng nhạc. Bản hòa tấu lưu thủy kim tiền một thời chợt thánh thót cung bậc bổng trầm. Cánh cửa mở. Ánh sáng. Hương thảo hoa. Thanh âm buổi sáng mang niềm vui phả vào tận mỗi căn phòng, mỗi thước tấc tâm hồn tôi.

Từ ánh sáng pha lê ấy, trong phút chốc tôi thành người hạnh phúc. Không hạnh phúc sao được khi những lời chúc diệu kỳ được nâng niu đan kết từ những ngày qua đã hóa thân thành những đài hoa mẫu đơn tươi thắm. Rồi thành vườn hoa muôn hồng nghìn tía Hoa sang trọng, hoa dễ thương hiện hữu trước mắt nhìn. Chúc mỗi ngày vui! Chúc cuối tuần vui! “Chúc bình yên cho mọi người” (Măng Cụt), “Chúc thi sĩ và toàn gia quyến vui vẻ cuối tuần” (Võ Văn Hoa), "Chúc hạnh phúc!",“Vui mỗi ngày nhé ” (Miên Đáng), “Tình anh em mãi mãi màu xanh” (Như Ý), "Chúc thầy vui" (Minh Huế), "Chúc vầng trăng kia luôn có ánh vàng ấm áp" (Quỳnh Vy), "Đêm Huế đẹp gần bằng đêm Hà Nội. Chúc anh cuối tuần và kỳ nghỉ bên gia đình hạnh phúc" (Gió), "Con chúc chú tuần vui khoẻ!" (Chinh Nguyên), "Chúc anh mọi sự an lành" (Hoàng Ngọc Anh)… Chỉ chừng ấy từ ngữ thôi trong mỗi câu chúc lành nhưng là sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình của những người bạn quý từ gần gũi đến miền đất nào xa ngái. Và tôi hiểu có lẽ không riêng gì ngôi nhà tôi được hân hoan đón nhận những lời chúc đẹp, đầy tình mà những ngôi nhà các bạn tôi cũng đang sáng trưng lên nguồn vui mới. Cũng đón nhận những lời chúc mỗi ngày, lời chúc cuối tuần giàu ngữ điệu, chân thật, tin yêu, hào hoa.

Không ái ngại. Tin cậy và ngợi ca. Tôi thành tâm biết ơn các bạn! Những người bạn nam, nữ, lớn , đồng trang lứa hay nhỏ tuổi từ bốn phương tám hướng trên trái đất này đã gặp mặt và chưa gặp mặt. Những người bạn đã nghe tiếng nói hoặc chưa nghe tiếng nói của nhau. Những người bạn đã từng bút đàm hàn huyên và những người bạn tôi chưa một phút giây hàn huyên bút đàm... Tôi chỉ biết lời chúc cuối tuần vui, lời chúc mỗi ngày của các bạn dành cho tôi và lời chúc tôi thương yêu gửi về các bạn đã thành thiêng linh chuỗi. Thiêng linh chuỗi kết nối chúng ta trong một mạch nguồn trang trọng nhân nghĩa, cảm thông. Và rất nòi tình!

Chúc mỗi ngày vui! Chúc cuối tuần vui!

“Dây thân ái lan rộng muôn nhà…”
READ MORE - VÕ QUÊ – NHỮNG LỜI CHÚC – Tùy bút

Tuesday, June 7, 2011

MINH TỨ - BẠN CŨ



Truyện ngắn



Tôi có cố tật không sửa được là hay về nhà muộn. Làm cái anh công chức làng nhàng lương ba cọc ba đồng không đủ sống nhưng rất mê văn chương và có tham gia viết lách đủ thứ. Hầu như tuần nào tôi cũng có cuộc tề tựu với cánh văn nghệ để đàn đúm thơ ca, và dĩ nhiên cuộc nào cũng phải lai rai cho đẫm chất thăng hoa, tìm cảm hứng cho cái dây thần kinh bị chùng xuống từ lâu lắm rồi do dùng quá nhiều thuốc lá, bia rượu.



Mà nghĩ cho cùng vướng vào cái nghiệp viết lách cũng hay hay. Viết được cái gì dù to hay nhỏ cũng đem khoe ngay với bạn bè. Bạn khen thì giả vờ như không nhưng bụng thì tỏ ra thích thú, tỏ ra hào phóng. Khi bạn chê thì dù có khó chịu, bứt rứt cũng phải cố nén vào trong để nở nụ cười thân thiện. Vui nhất là khi bốc lên, viết được cái gì, nốc bia rượu vào, cái tôi trỗi dậy, cứ tưởng mình là trung tâm vũ trụ, có thể đứng trên thiên hạ. Khi tỉnh lại mới thấy giật mình. Về nhà vợ hỏi lương tiền, cứ cào đầu bứt tai. Tuần này anh gặp anh bạn thân, thầy giáo cũ, tuần kia chơi với anh em ở báo này, tạp chí nọ...để quan hệ in cái này cái kia. Rồi cố an ủi vợ, nay mai tác phẩm in xong, tha hồ mà lĩnh tiền nhuận bút, rồi danh tiếng nổi lên như cồn, rồi người ta mời mọc, đặt hàng...có mà việc làm không hết. Vợ nghe ngao ngán chỉ biết lườm nguýt cái gã chồng vô tích sự, không lo nỗi cái nồi cơm cho vợ con lúc nào cũng đòi tiền ăn, tiền học, tiền chơi.



Cánh bạn bè cùng trang lứa bây giờ làm doanh nghiệp giàu phất lên thì nhìn tôi với con mắt vừa nể phục vừa lo lắng. Có dạo chúng tụ tập nhau lại khuyên tôi nên bỏ thơ ca, đàn đúm để lo làm kinh tế, kiếm tiền nuôi vợ con, có gì chúng giúp thêm cho, nhưng tôi thì khăng khăng không từ bỏ cái thiên chức cao quý mà người đời đã gán cho tôi. Tôi nguyện sống chết với cái nghiệp "Người hát rong", như tiêu đề tập thơ của một nhà thơ tặng tôi. Mà nghĩ suy gì cho mệt mỏi, nói cho cùng thì tôi có thể làm được gì kia chứ. Trời sinh ra tôi là để vắt óc làm thơ, viết văn, làm đẹp cho đời chứ không thể xắn tay sấp mặt để kiếm tiền như người ta. Tôi còn cao giọng tuyên chiến với đám bạn bè rằng: "Sống như tụi mày tao không sống nổi. Làm gì mà suốt ngày đêm sấp mặt nô lệ đồng tiền. Tiền tỉ chúng mày làm ra để làm gì, xe ư, nhà ư...tất cả với tao đều vô nghĩa. Tao không có nhiều tiền nhưng tao sướng, có chết ai đâu". Bực quá, thằng bạn nói như thét vào mặt tôi, không biết vì giận hay vì say: "Thôi, chào ông nhà văn nhé. Sống như các ông chúng tôi cũng không sống nổi. Thơ ca văn vẻ nghe bóng loáng, bước ra đường cưỡi xe cọc cạch, vợ con xin đồng tiền lẻ mua rau, vét túi mãi không có, thế mà sĩ, chỉ có uống là nhanh, là hào phóng. Thôi xin chào. Ai trả tiền đây ?" - Hắn buông một câu lơ lửng, ném mấy trăm bạc trước mặt chủ quán rồi biến ngay. Tôi không giận nó. Ừ, suy cho cùng sướng khổ là do quan niệm của mỗi người.



Một chiều như bao buổi chiều, tôi trở về nhà muộn trong men say chếnh choáng. Hôm qua thằng bạn thân "trúng quả", hắn bao một chầu bí tỉ. Trời chập choạng tối, tôi mò lên cầu thang tối lần về căn hộ của mình. Bỗng xuất hiện một cái gì đó lù lù trước mặt. Một lũ trẻ nít chạy ùa ra: "Chú T. ơi! Chú có bạn đến là hay, ơ...ơ...ơ". Cái đống lù lù kia bỗng nhiên bật dậy bay đến ập vào người tôi.



Tôi sững sờ nhận ra Long, thằng bạn thời chăn trâu cắt cỏ ở quê. Đúng là hắn rồi. Tôi ôm lấy hắn, có chất men trong người, nước mắt cứ thế tuôn. Nhìn hắn thật thảm thương, mặt sạm đen vì nắng gió, bộ áo quần sờn cũ te tua. Một tay nải bằng bao tải đựng đồ với cây gậy bẻ vội nhành cây dọc đường, nhìn có vẻ như dân "cái bang". Sau vài câu chào hỏi qua loa, tôi vội lôi hắn vào nhà để tránh những ánh mắt nhìn chằm chặp của lũ trẻ.



Vợ tôi chưa về, chắc là lại tranh thủ làm thêm giờ để kiếm thêm thu nhập. Con trai tôi chạy chơi đá banh đầu phố về lấm lem mặt mày nhìn khách lạ. Tôi ra lệnh cho nó:

- Chào bác Long đi con, bác Long là bạn của ba thời ở quê.

Nó sợ tôi la mắng về tội chơi nghịch ngoài phố, khép nép ở góc nhà vòng tay chào bác rồi chạy biến về phòng. Chờ vợ về làm bếp, tôi sai thằng nhỏ ra phố xách bia về mời bạn. Qua mấy lượt cạn ly thì vợ tôi về. Ý chừng nhìn thấy nhà cửa bề bộn chai lọ, tay nải hành trang của bạn, nàng chau mày tỏ ý khó chịu. Tôi chủ động vừa to tiếng vừa dịu ngọt:

- Này em, đây là anh Long bạn anh hồi ở quê. Lâu không gặp nay anh ra chơi. Em ra chợ coi có cái gì mua về chiêu đãi bạn một bữa.



Nàng thay đổi sắc diện, ý tứ chào hỏi rồi xin phép ra chợ đêm. Khi còn lại tôi với Long, tôi phấn khích cao giọng rằng trong nhà này tôi là nhất, nói gì vợ phải nghe nấy. Tôi làm không nhiều tiền nhưng là thằng đàn ông, tôi phải là chủ nhà, là quyền lãnh đạo chi phối toàn bộ gia đình. Long không nói gì, vẫn kiệm lời như thời nào còn chơi với nhau. Thỉnh thoảng Long nhắc tôi uống vừa thôi, ý chừng còn nể vợ con. Tôi được thể làm tới, nâng lên đặt xuống trăm phần trăm: Ly này mừng ngày tao ngộ, ly này mừng vẫn mạnh khỏe, ly này mừng tao vừa in tập sách, ly này...



Vợ tôi bưng mâm cơm lên. Tôi và Long chống đũa nhìn. Nàng xới cho tôi và Long mỗi đứa một bát cơm đầy. Tôi đổ cơm lại vào nồi vì không thể ăn được nữa. Long có vẻ đi đường xa bụng đói và mệt nên ăn được lưng bát. Tôi lại rót bia, nâng lên đặt xuống. Long nể tôi cứ ngoan ngoãn làm theo. Nàng can ngăn tôi thôi uống nữa để mời bạn ăn cơm. Tôi gạt đi. Xem chừng lườm nguýt không hiệu quả, nàng bèn sớm vào phòng trong để hai chúng tôi dốc bầu tâm sự.



Long bảo thôi uống bia, chuyển qua nước chè để nói chuyện. Ừ, thì uống nước vậy. Mắt tôi bắt đầu hoa lên, đầu cứ nghe ong ong. Mở chiếc bị lè kè bỏ ở góc nhà, Long kể:

- Lâu quá rồi, nhớ bạn bè, nghĩ cậu không khinh mình nghèo hèn nên quyết định bán ít dạ lúa mua vé tàu lên thăm chơi. Biết cậu bận việc ít dịp về quê nên hôm rồi đi chăn vịt qua đồng mình có rẽ thăm các cụ. Ông cụ đau ốm thường xuyên, yếu lắm rồi, vợ chồng cậu thu xếp mà về thăm. Lên thăm cậu, vợ chồng mình con đông, cực quá không có gì, chỉ có ít gạo nếp làm mùa được biếu vợ chồng cậu.



Tôi sực tỉnh:

- Cảm ơn vợ chồng cậu, thăm nhau là được rồi, quà cáp gì, ở đây cũng có đủ cả. Lên chơi thôi chứ còn có việc gì nữa không ?

Nói xong tôi thấy lỡ lời bởi quen với cảnh nhiều người nhờ vả nói cho tiếng to tiếng nhỏ với ông này bà kia giúp đỡ đủ thứ việc.



Long ôn tồn:

- Lên thăm gia đình cậu thấy vợ chồng con cái khỏe mạnh là mừng rồi. Ngày mốt mình về sớm để còn làm công ruộng vụ hè thu, cũng tiện ra chợ trung tâm tính sắm cho mấy thằng nhóc ở nhà mấy bộ áo quần vào năm học mới. Ở nhà quê cái gì cũng thiếu.



Đêm về khuya, tôi bảo Long đi nghỉ để mai còn đi thăm bạn bè cũ giờ đang làm ăn khấm khá. Nhà chật, chỉ có mỗi phòng ngủ, tôi mắc màn ngủ cùng Long ở sàn phòng khách. Khuya, sương xuống lành lạnh làm tôi tỉnh giấc, giật mình. Tôi vào phòng ngũ, vợ tôi nằm quay mặt vào tường. Tôi xin lỗi nàng vì hơi quá chén rồi nhỏ nhẹ với nàng:

- Này mình, ngày mai mình rẽ chợ mua cho mấy nhóc của Long mấy bộ áo quần làm quà. Trưa mình làm cơm mời khách, tôi mời thêm thằng Lũy, thằng Chiến bạn học đến ăn cơm cho vui. Chiều cả nhà đi ngoại thành ăn đặc sản cho biết...



Nàng trở mình:

- Nhà này anh muốn làm gì thì làm, tôi hết chịu nổi với anh rồi. Anh xem trong túi tôi còn đồng nào nữa không. Thằng cu Tý đang đòi tiền đi học thêm, rồi sắm đàn, sắm máy, anh xem lấy tiền đâu ra ?



Ngoài phòng khách có tiếng trở mình. Tôi nói khẽ với nàng:

- Mình giúp tôi, giật đâu đó ít tiền tạm cho tôi đã rồi tính sau. Mai tôi qua nhà xuất bản xin ứng tiền nhuận bút cuốn sách vừa phát hành. Có gì nói sau nhé.

Nàng yên lặng không nói gì nữa. Tôi thiếp đi.



*

Trời hửng sáng, ánh nắng chói chang xuyên qua tấm cửa kính. Cả nhà ngủ khuya nên dậy muộn. Tôi lồm cồm bò dậy khỏi chăn dụi mắt. Giật mình, Long đi đâu rồi nhỉ ? Hỏi vợ, nàng cũng vừa dậy, bảo có thể bác ấy đi quanh đâu đó. Nhưng túi xách, gậy bị đâu rồi. Một mảnh giấy nhỏ chữ ngoằn ngoèo viết vội được đặt trên bàn trà đập vào mắt.



"Gửi vợ chồng T.

Xin lỗi hai bạn, sáng nay mình dậy sớm, tranh thủ ra chợ rồi về luôn cho kịp chuyến tàu trưa. Khi nào ra chơi lại hoặc hai bạn về quê, có thời gian tâm sự nhiều hơn - Long".



Tôi chưng hửng. Vợ tôi cũng hốt hoảng lên: "Tìm bác ấy ở đâu nhỉ ?". Qua hàng xóm nhờ gửi cu Tý đi học, tôi với vợ phân công nhau, nàng ra chợ trung tâm, tôi ra đón lõng ở ga.



Phố xá tấp nập người qua lại, làm sao có thể tìm được thằng bạn thuở thiếu thời giữa dòng đời xuôi ngược. Khi chuyến tàu rời ga, tôi thẫn thờ nhớ bạn, nhớ quê. Bao năm phù du chốn thị thành, tôi như quên lãng bạn bè, quê kiểng. Lửng thững trở về, tôi bắt gặp thằng bạn văn. Mời tôi vào quán uống cà phê, hắn cho biết tin vui vừa kiếm được hợp đồng viết kịch bản sân khấu. Hắn bảo tôi tranh thủ thời gian tham gia viết kiếm ít tiền. Nhưng lúc đó trong tôi chỉ còn ám ảnh hình ảnh của Long với tay xách tay mang trốn chạy khỏi cõi người ở phố...


Minh Tứ

Nguồn: www.vanchuongviet.org/
READ MORE - MINH TỨ - BẠN CŨ

TRẦN ĐÌNH HUY - HỒN NHIÊN

Chiều bên sông Thạch Hãn. Ảnh NKP


Hồn nhiên 1


Bạn về Quảng Trị một chiều mưa
Trú dưới quán nghèo ở quê xưa
Mấy thằng tếu táo bao chuyện cũ
Chợt thấy tim mình ướt đẫm mưa
Tháng mấy năm nào không ước hẹn
Thương thì cố gắng nhớ tìm nhau
Kể chuyện mấy nường mơ mộng cũ
Cùng uống rồi khóc tưổi hoang đường
Dấu mái trường xưa trong men đắng
Bạn bè lưu lạc đứa nào lưa
Ta biết có em son vừa nhạt
Đến tuổi năm tư vẫn chưa chồng
Phố thị đạn bom đùa tuổi trẻ
Duyên thì con gái chẳng qua sông
Con sáo loanh quanh bờ tre cũ
Nữ sinh trường Nguyễn sao ế chồng
Thương bạn ta cười chai nỗi nhớ
Thương ta hát khản khúc ly bôi
Hồn nhiên ơi! lạc về đâu tá
Tìm thuở nơ cài tóc bạc phơ
Chiều nghiêng Thạch Hãn ai ngồi đợi
Khóc thầm bến cũ mãi xa xôi.


Hồn nhiên 2

Sân trường còn đó người ơi
Đi qua bao dặm để lời nỉ non
Năm tư tuổi còn trẻ con
Bởi vì nỗi nhớ đang còn nặng chân
Kẻ đi lòng dạ bâng khuâng
Ai còn ở lại mênh mông sân trường
Kể làm sao thuở vấn vương
Một thời áo trắng tóc sương muối rồi
Níu cho nặng bốn tao nôi
Tìm bông phượng cũ in thời mộng mơ
Hồn nhiên ơi! Cõi xa mờ
Dấu chân đến lớp
Bơ vơ xứ người.
READ MORE - TRẦN ĐÌNH HUY - HỒN NHIÊN