Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, August 1, 2024

ĐÊM ĐEN TUYỆT TẬN – thơ Le Nguyen Thu


 C:\Users\hien\Pictures\Phan Niem watercolor on silk.jpg

 

ĐÊM ĐEN TUYỆT TẬN  

Le Nguyen Thu 


Cõi Người-ta

hồn thảo nguyên dạt ngàn

mênh mông thu mọng

chìm ngập trong những sợi nắng đan xuyên nguyên trinh trong vàng dát mỏng

ngậm nghe nghìn năm đọng lại

cời động

hồn ta muôn thuở mộng mây mưa

.

Một lần

là trầm tích trong hồn ta cơ hồ tận tuyệt thiên thu

em

ngồn ngộn

nõn nà

tiếu diện lạ thường lay lắt giấc liêu trai

ta

là loài thực vật tầm gửi

quang hợp

trong mùi em thơm ngọt con gái dậy thì

làm trường sinh xanh tươi ta suốt cuộc huy tà

.

Đêm nào...

chiều vừa khởi sự chìm dần

có cơn mưa nhỏ vườn sau

mang mùi thơm

của đất

của cây cỏ lá hoa

hay mùi em thơm ngọt con gái dậy thì

nơi nốt huyền rậm rật

bồng bềnh lẳng lơ trôi

trên ngực thơm vai ngần

em, 

một lần

một lần

rồi thôi

mà thiên thu hồn ta tồn tại

.

Ta sẽ còn tự mình thương tiếc mãi nghìn năm sau...

có phải có loài hồ ly liếc mắt đưa tình

và bàn tay 5 ngón ngó sen thon ngoan lạ

chậm

trườn lần theo bờ mông cong cớn

trắng hồng

mân mê

mắt liếc

gọi mời

ngập ngừng nơi rừng nguyên sinh

những sợi đen sợi dài

đang gian ngoa chờ dòng phún thạch trầm tích bao năm

phút chốc vỡ bờ

tràn vào khe nhỏ hồng hoang

em,

vừa qua mùa lúa thì ngậm vàng hạt sữa

.

Loài chồn tinh ma mị

ta,

gã thư sinh ngu ngơ

vào cuộc vui chí dị

bỏ quên tín hiệu ngăn cách nghìn trùng

vào cuộc mây mưa lạ kỳ

qua ảo hình tín hiệu mà phân thân qua hai ngã đôi nơi

hai đầu bến bờ đại lục

mang hồn bên hồn hoan lạc...

bên ngoài vườn sau

có cơn mưa nhỏ vẫn đang rơi xuống đâu đây

thầm thì dài

theo một đêm đen

tuyệt tận

💖

Stanton July 30th, 2024 (1:13 khuya)

lenguyenthu111977@gmail.com

READ MORE - ĐÊM ĐEN TUYỆT TẬN – thơ Le Nguyen Thu

NHỮNG TƯ LIỆU QUÝ ĐỂ TÌM HIỂU VỀ QUẢNG TRỊ, nhân đọc KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ XƯA của LÊ ĐỨC THỌ - Võ Văn Cẩm

 



Tôi được nhiều tác giả biên khảo về vùng đất nghèo khó Quảng Trị gởi tặng. Hôm nay thầy giáo Lê Văn Hiếu gọi báo gởi cho tôi một quyển sách Biên khảo về Quảng Trị do tác giả Lê Đức Thọ, bạn anh.

Đặc biệt vì "Thương bạn mến tôi" mà mua biếu. Một việc làm tuy nhỏ nhưng vô cùng sâu sắc.

Hiếu không có thời gian nên nhờ Shipper mang đến. Cầm quyển sách trên tay mà lòng đầy cảm xúc. Tôi cho đây là tập sách khá đẹp, phối trí màu chuẩn, kích cỡ gọn, chữ in dễ đọc. Quyến sách mà tôi vừa ý nhất.

Tôi mở ra đọc, ngay trang đầu mấy dòng biếu tặng không phải của Hiếu viết mà Hiếu nhờ tác giả ký tặng. 

Một việc làm tuy nhỏ nhưng vô cùng tế nhị và vô cùng ý nghĩa. Tôi quý sách gấp đôi. Tôi đọc sơ qua và viết đôi lời cảm ơn Hiếu cùng tác giả.

I) Khảo về QUẢNG TRỊ XƯA (của Lê Đức Thọ).

Sách do nhà xuất bản Dân Trí, in rất đẹp, bìa cứng chữ nỗi.

Gồm có 912 trang trên giấy mỏng, màu vàng nhạt. Khổ 16x21cm.

Với lời bạt của TS Trần Đức Anh Sơn.

Sách gồm 4 phần:

*PHẦN I): ĐỊA CUỘC: Gồm 4 chương:

1) Non Mai.

2) Sông Thạch Hãn.

3) Sông Hiếu.

4) Núi Linh sông Hiền Lương.

*PHẦN II) THEO DÒNG LỊCH SỬ: Gồm 13 chương:

1) Địa lý và hành chính Quảng Trị.

2) khảo cổ khu di tích Tân Lâm.

3) Sông thiêng của người Champa.

4) Các đơn vị hành chính thời Lê.

5) Xác nhận lại 3 dinh của Triều Nguyễn.

6) Tuyến thương mại Triều Nguyễn.

7) Thuơng cảng Cửa Việt.

😎Chợ Phiên Cam Lộ.

9) Lỵ sở Trung tâm hành chính QT từ 1801 đển 1809.

10) Lỵ sở QT 1809 đến 1945.

11) Tân Sở ngày nay.

12) Sự hình thành các làng, xã ven sông.

13) Di tích lịch sử ở Ái Tử.

*PHẦN III) MẠCH NGUỒN VÀ DÒNG CHẢY VĂN HÓA: Gồm 19 chương:

1) Di tích Văn hóa Champa.

2) Giếng Champa.

3) Dấu ấn Phật giáo Hampa.

4) Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang (Vương cung Thánh đường La vang)

5) Cỗ tự.

6) Đình Làng.

7) Linh Quang Tự.

😎Nghĩa Trủng Đàn.

9) Sông Thạch Hãn và giai thoại.

10) Đạo Mẫu.

11) Thành hoàng làng Phương Sơn.

12) Gia phả dòng họ.

13) Truyền thống ngôi làng mộ cỗ.

14) Lăng mộ Trần Đình.

15) Nguyễn Hữu Thận.

16) Hội xuân

17) Lễ hội cầu ngư làng Phó Hội

18) Lê hội thống nhất non sông.

19) Làng hầm Vĩnh Linh (Địa Đạo Vĩnh Mốc)

*PHẦN IV). KHƠI DẬY TIỀM NĂNG: Gồm 6 chương:

1) Địa thế QT trên đường hội nhập.

2) Bảo tồn giếng cỗ Champa.

3) Dinh phủ Chúa Nguyễn quy hoạch.

4) Phương án bảo tồn nhà cũ.

5) Huớng du lịch Tâm linh.

6) Cõi thiêng Thành Cỗ.

Khi cầm quyển sách này trên tay tôi khâm phục một tác giả trẻ. Anh là một sinh viên khoa sử, anh làm việc đúng ngành mình học, ngay trên quê hương mình sinh ra.

Rất tiếc tên sách quá ngắn gọn không diễn tả hết các chương của tập sách.

" Khảo về QUẢNG TRỊ XƯA". mà 1/3 sách về chuyện "NAY" (Sao không thể "Khảo về Quảng Trị xưa nay"?.

Về nội dung các vấn đề tôi chưa đọc kỹ nên chưa góp ý.

Theo tôi "Văn Chương thì dễ ". Nhưng lịch sử dùng từ phải tuyệt đối chính xác. Phải có tầm nhìn hết sức khách quan phải tham cứu nhiều sách. Viết về một tỉnh thì không khó, nhiều sách tham khảo. "Nếu NAY" có nhiều chứng nhân sống. Một tư liệu để lại cho đời mà có ngôn từ, địa danh, câu chuyện mà thiếu, sai một chút là không được?.

Xin cảm ơn một nhà nghiên cứu trẻ đã đem hết tâm huyết, tài năng trí tuệ công sức nghiên cứu, khảo cổ Biên soạn tập sách quý giá này. Vì là sách lịch sử nên phải chính xác, phải biết lắng nghe ý kiến của bất cứ ai. Đây là tư liệu lịch sử.

Một lần nữa xin cảm ơn tác giả, cảm ơn Lê Văn Hiếu một người thương quý tôi mà mua sách tặng.

Trong tay tôi có 2 tập sách tôi nghĩ là có giá trị mà tác giả cần tham khảo để đối chiếu.

1) GIANG SƠN VIỆT NAM.

ĐÂY Non Nước QUẢNG TRỊ của NGUYỄN ĐÌNH TƯ.

2) Địa Danh QUẢNG TRỊ XƯA VÀ NAY Của NGUYỄN VĂN ÁI

Còn một quyễn không có trong tủ sách của tôi do một GS TS viết hình như danh nhân người Quảng Trị?.

 





READ MORE - NHỮNG TƯ LIỆU QUÝ ĐỂ TÌM HIỂU VỀ QUẢNG TRỊ, nhân đọc KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ XƯA của LÊ ĐỨC THỌ - Võ Văn Cẩm

Wednesday, July 31, 2024

Thơ: Khaly Chàm - MÙA THU CHẦM CHẬM ĐANG VỀ

 


khaly chàm

mùa thu chầm chậm đang về

.tặng mùa hè thầm lặng ra đi


tảng sáng, họa tiết ngày bị ánh sáng câu lưu

tội thản nhiên tung tẩy xem thường quy luật nhất định

lũ chim  trừng mắt nhìn tinh tế

mỏ của chúng rỉa lông dường như tự róc thịt mình 

mặt trời đang tự do hay là tự tử


cái bóng ta trốn vào đâu đó

mùi lạnh tát khẽ da mặt bong tróc từng mảng

có thể, phải nhăn nhở với người đời

hãy nhìn ta đẻ non bài thơ đẫm nhờn nhợt máu 

chẳng biết bầy đàn thi sĩ có dám nhìn? 


sáng nay, ảo hình em lung linh

luyến ái nào mà không động cỡn

ta không là pho tượng dành cho tình yêu

biết chứ, em luôn khỏa thân trong yếu tố đồ họa khôi hài


tháng tám, nắng màu lửa đã tắt lịm chưa 

vạt cỏ trong ô vuông vỉa hè chứa gốc cây sần sùi

khát thèm môtip trang điểm sự thất thần kinh điển

cảm thức ta, mùa thu chầm chậm đang về


tpsaigon 7/2024

 khalycham1954@gmail.com



READ MORE - Thơ: Khaly Chàm - MÙA THU CHẦM CHẬM ĐANG VỀ

MƯA THU - Thơ: Nhật Quang

 

Nhà thơ Nhật Quang


MƯA THU

 

Thềm khuya lạnh 

rủ trăng gầy

Vọng trong sương 

vạc gọi bầy chơi vơi

Giật mình… tiếng lá vàng rơi

Nghiêng  đêm sao lệch 

lưng trời đổ mưa


Nằm nghe 

từng giọt ngâu thưa

Hững hờ …

chăn gối chưa vừa ấm nhau

Trăm năm mấy cuộc bể dâu? 

Mắt  khuya khoắt  

giấu lệ sầu 

xanh xao


Đêm gầy guộc 

giấc chiêm bao…

Gối bờ ảo mộng…

chênh chao bóng mình

Còn âm khuya lẳng lặng thinh

Mưa Thu đọng lại giọt tình vội tan.

                             Nhật Quang



READ MORE - MƯA THU - Thơ: Nhật Quang

Tuesday, July 30, 2024

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (9) _ Trương Ngọc Bỉnh

  


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC 

VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG  (9)

Trương Ngọc Bỉnh, Cựu học sinh Trường Trung học Hải Lăng, Khóa 5, 1964 -1968.

               

Phần  9

Một nữ giáo sư giảng dạy môn Vạn vật và Anh văn bậc Trung học Đệ nhất cấp. Cô có "body" cao ráo, cân đối  và thật đẹp.  Khuôn mặt Cô trắng sáng, căng như trứng gà bóc ... và càng ửng hồng, bừng lên mỗi khi Cô nổi cơn thịnh nộ, cùng lúc giương đôi mày lên cao... Qua cơn sóng gió, vẻ mặt Cô trở lại tươi sáng, phơn phớt nhạt hồng, hiền như "Ma Soeur ", cuốn hút học sinh vào lời giảng. Thế mà trong tiết dạy của Cô, đã có "Ngựa chứng..." tung cát bụi!

   Một thời đã xa, không biết có còn đọng lại một vài ký ức trong Cô vào những năm đầu chân ướt chân ráo vào nghề dạy học? Cô bây giờ đang ở bên kia "thiên đường tự do ", xa tít nữa vòng trái đất, thời gian vụt qua hơn nữa thế kỷ rồi!  Cô Phan Thị Lan, dạy  môn Vạn vật, lớp Đệ lục chúng tôi năm học 1965 - 1966.

     Có ai trong lớp mình (lớp Đệ tứ, Khóa 5) còn  nhớ chuyện bây giờ mới kể, xin bật mí lại rằng:

     Hồi đó, Cô Lan đang giảng bài “Con nhện” (Phần đời sống và tập tính), Cô dừng lại, đưa ra câu hỏi cho cả lớp: -"Vì sao nhện mẹ ôm bọc trứng dưới ngực và bụng của nó " Dưới lớp im re, không một tiếng động! Thuở ấy, tôi có vóc hình thấp và nhỏ con nên ngồi bàn trên cùng, đối diện với bàn giáo viên. Tôi cúi đầu hơi thấp xuống gầm bàn, hớn hở nhìn lui mấy bạn nữ ở bàn sau: Gái, Thể, Mỹ, Thị Bình, Diên... và cả lớp. Chẳng có mống tay nào đưa  lên xin trả lời! Theo ý tôi đoán biết, nghĩ thầm : Nhện mẹ thao tác như vậy để bọc trứng của nó nhận lấy thân nhiệt từ nhện mẹ mà nở ra theo chu kỳ, tựa như con gà mái ấp ổ trứng. Tôi vội vàng nói nhỏ với các bạn  nữ ở bàn sau: - "Ê! Bây đừng cười nghe , để tau trả lời." Tôi đưa tay và được phép trả lời: - "Thưa Cô, do cái chôống hắn rứa!" Cả lớp phá lên cười, xé tan sự im lặng trong mấy giây lát vừa qua, (chôống = giống, giống nòi, thuộc về phương ngữ ...như rựa= rạ, đầu gối= trốôc cúi, rỗ = đúa v.v...). Cô im lặng, đỏ mặt, nhìn trân tráo vào tôi, tỏ vẻ tức giận nhưng không có phản ứng lộ vẻ ra ngoài! Giây phút căng thẳng của lớp qua mau. Cô lấy lại bình tĩnh, giải thích đúng như điều tôi suy nghĩ và thêm ý: để bảo vệ, tránh các kẻ thù (thiên  địch) tấn công bọc trứng làm mồi! Tiết dạy rồi cũng nhẹ nhàng, từ từ trôi qua như những áng mây trắng mùa Hạ bên khung cửa sổ, tan nhanh vào bầu trời cao trong xanh vời vợi ...

   Cả lớp nghỉ chuyển tiết tại chỗ. Tôi quay lại nói với các bạn nữ: - "Lần sau, tau dám chắc bị truy bài cũ rồi bây ơi! " Tôi về nhà "gạo bài" tiết vừa học thật trôi chảy, vì nghĩ rằng tiết tới của Cô, mình như một tội phạm, sẽ đứng trước "vành móng ngựa!"

   Thời gian như lao nhanh hơn, giờ dạy của Cô với lớp rồi cũng sẽ đến. Sau thủ tục chào đón Cô vào lớp , Cô Lan đảo quanh nhìn một vòng bao quát lớp và chắc chắn kiểm tra sự hiện diện của tôi - học sinh có "sự cố" tiết trước, hôm nay có nghỉ học? Cô đến bên bàn giáo viên, đặt cái túi xách bằng da lên bàn, bắt đầu tiết dạy. Tên tôi có chữ cái B, chỉ xếp sau hai bạn Hoàng Thanh Bình và Lê Thị Bình. Xin mở ngoặc, tản mạn đôi dòng với những người bạn đã để lại ấn tượng khó phai của những ngày đầu bước vào đầu cấp học. Năm học lớp Đệ thất có bạn Phạm Hữu Ân, được xếp tên đầu sổ gọi tên và ghi điểm (theo Alphabet ), nhưng khoảng chừng một -hai tháng, bạn Ân cùng các bạn Lý  Ái Dung, Lê Đình Do, Nguyễn Thanh Sơn (cùng có gia đình ở Thị xã Quảng Trị ), lần lượt, lác đác chuyển về Trường Nguyễn Hoàng, Thị xã Q.Trị; còn bạn Nguyễn Ngọc Giàu (ở Tp Huế) chuyển về Huế - tất nhiên là vào Trường công lập! Hiện nay, bạn Ái Dung, Đình Do  đã định cư ở đất nước "Cờ hoa", còn các bạn Ân, Sơn và Giàu thì mịt mù "cà cưỡng". Sau khi "bẻ càng cua", các bạn ấy cũng thật "chịu thương , chịu khó" từ Thị xã Q.Trị vào - ra Hải  Lăng bằng xe đò, trong chiến tranh, đường sá bom mìn ... Trong số các bạn ở Thị xã Q.Trị , có bạn Sơn nói tiếng Bắc đặc ròng! Bạn thường mang theo cơm trưa, thức ăn của Sơn "trội hơn "  -món lạp xưởng! Chúng tôi thường ngồi ăn cơm nắm buổi trưa trên bàn học sinh và cùng trao đổi thức ăn với nhau bằng những đôi đũa  yếu ớt  của cành dương liễu vừa bóc sạch vỏ tươi từ phía sau trường. Các bạn Ân, Do và Dung thì không  thấy bóng dáng ăn cơm trưa tại lớp học. Bạn Giàu trọ học, ăn cơm tháng, nhà của Nguyễn Ngọc Dũng , cựu học sinh Khóa 6, ở Phe Nhất , xã Hải Thọ. Kể ra năm người bạn của lớp tôi vừa nói, cũng thật dũng cảm: trường nhà không "chọi" mà  chọi  trường xa? Các bạn lặng lẽ ra đi mà không một lời giã từ bè bạn! Có ai đó đem lòng quay quắt mà níu kéo đóa hồng Ái Dung, nổi trội, ấn tượng... họa may ở lại cho hết năm học... hết cấp không ? Buổi sáng, chúng tôi vào lớp , nhìn thấy chỗ ngồi lần lượt trống vắng từng bạn được nhắc tên ở trên... cho đến lúc không còn ai đi thêm nữa! Các bạn  đến và đi  như một hiện tượng đặc biệt, đã để lại trong lớp những dấu hỏi  và lưu luyến khó phai!

   Trở lại tiết dạy của Cô Lan, tôi được ưu tiên  đánh dấu vào sổ điểm và lên trả bài cũ! Các Cụ đã từng dạy: " Tri kỷ, tri bỉ - bách chiến, bách thắng ". Tôi đã đoán trước , có sự chuẩn bị, phòng thủ nên tôi đã tự tin và mạnh dạn mang vở bộ môn lên và trao cho Cô để chuẩn bị  trả lời. Cô "xoáy" hai câu hỏi. Tôi trả lời được nhưng chưa hoàn hảo mấy! Dưới lớp, lúc đó cũng hồi hộp theo dõi tôi ... và tôi cũng đọc được ý nghĩ của lớp: Tiết trước, trả lời hài hước, làm Cô giận, nay bị Cô truy bài. Cuối cùng,  Cô "phán" ngắn gọn và khô khốc "13 điểm" (nay = 6.5 điểm). Tôi nhận lại vở, cám ơn Cô và về chỗ ngồi ...

   Chuyện kể về bài học thứ hai, gần 60 năm trước, cũng môn Vạn vật với Cô Lan - lớp Đệ ngũ (nay lớp 8) vào năm học 1966 - 1967 như sau:

   Trong bài giảng : "Bắp thịt nhị phúc"  có hai tiết, tiết 1 đã qua , tôi chuẩn bị bài thật kỹ, kể cả phần hình vẽ theo nội dung đã học, nắm vững các vị trí có bắp thịt nhị phúc trên cơ thể con  người, mà Cô đã dẫn chứng bài trước. Do tính hiếu kỳ, muốn tìm hiểu để nắm thêm kiến thức bài thực tế hơn, tôi đã xin phép Cô đặt câu hỏi: -"Thưa Cô , ngoài các vị trí bắp thịt nhị phúc trên cơ thể người mà Cô đã dẫn chứng , vậy còn chỗ nào khác có bắp thịt nhị phúc nữa không? " Lúc này, Cô đứng nhìn cả lớp, có ý đưa ra câu hỏi, hỏi đố để nhờ cả lớp trả lời, để rồi Cô bổ sung, điều chĩnh! Chẳng có cánh tay nào đưa lên xin trả lời! Sau đặt câu hỏi, tôi vẫn  lớ ngớ đứng tại chỗ vì Cô chưa cho phép ngồi! Cô quay sang hỏi tiếp tôi: - "Vậy thì theo em, em có biết  nơi nào còn lại  ...có bắp thịt nhị phúc? " Lúc này,  cả lớp cũng lo cho tôi , có suy đoán là tôi thách thức Cô hoặc câu trả lời của tôi là một dẫn chứng hàm ý không trong sáng , có tính khôi hài, chọc cười cho cả lớp ... Tôi đáp lại câu hỏi của Cô với sự tự tin và trong sáng, không như các bạn suy đoán nghi ngờ từ một phía và có thể không tích cực của Cô! Tôi dẫn  chứng : Bắp thịt ở cằm và gót chân ... Vậy mà sau đó, bản thân tôi cũng áy náy, ví như làm phật lòng Cô giáo. Tôi quay lại bàn sau nói với các bạn nữ những ý nghĩ  như tôi đã kể về bài Con nhện đã học ở lớp Đệ lục, với Cô Lan. Quả đúng, tiết sau tôi đã bị truy bài cũ! Tôi nhận được con điểm 9 (=4.5 điểm bây giờ!) Bài mới , cả lớp im re, ngồi ngậm tăm, buồn như đám ma , chẳng ai khua mép... mà cố gắng,  "say sưa " nuốt những lời Cô truyền thụ ...

   Vậy là hai năm học được thọ giáo  với Cô Lan, Cô và trò như những người  có "oan gia trái chủ". Bên trời đất nước "Cờ hoa", mong Cô bao dung và nhận nơi đây tấm lòng xin thứ lỗi muộn màng của học trò cũ ngày xưa ...

                        (Còn tiếp )

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (9) _ Trương Ngọc Bỉnh

Monday, July 29, 2024

ĐÂU TÌM – Thơ Trần Mai Ngân


  

 
ĐÂU TÌM
 
Ghế bàn im thin thít
Khi chúng ta ngồi cạnh nhau
Khoảng cách chênh chao - là mùa hè hay thu
Khoảng cách là mưa hay sương mù…
 
Em chợt nhận ra, anh cũng chợt nhận ra
Những điều không nói không hò hẹn
Nên chẳng bao giờ bị phản bội hay chia xa
Tất cả còn nguyên trong trái tim ta nóng hổi
 
Cũng có lúc em muốn mình nông nỗi
Ôm chặt anh ngã vào bờ vai rộng
Rồi hôn anh cho tan hết thương nhớ trong lòng
Niềm nhớ thật dài trôi chảy một dòng sông
 
Nhưng
Chúng mình vẫn ngồi giữa mênh mông
Im lặng đến rõ từng giọt mưa thánh thót
Có tiếng chim “trong bụi mận gai” hót
Chỉ một lần rồi vĩnh viễn lặng im…
Đâu tìm!
 
                                        Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐÂU TÌM – Thơ Trần Mai Ngân

Saturday, July 27, 2024

"ĐAU ĐẾN LƠ NGƠ" CÙNG NGUYỄN ĐỨC HẠNH - Đặng Xuân Xuyến

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh

"ĐAU ĐẾN LƠ NGƠ" 

CÙNG NGUYỄN ĐỨC HẠNH

*

Đọc bài thơ "Thái Nguyên Ngày Mưa Vỡ" của nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đức Hạnh, bên cạnh những câu thơ lạ về tứ, mới về ngôn từ và độc, lạ, đẹp về thi ảnh khiến người đọc thích thú: "Tôi về cắn giọt em vừa qua phố / Mưa ngàn năm nhuộm trắng mái đầu", "Dốc Nhà Bò, núi Cô Kê, quán Ba Trăm lay mòn sách cũ / Bao người đẹp thành bà cụ đi bộ toàn vấp gió", "Người tôi yêu thành giọt mưa vỡ / Lăn trăm năm trong một tiếng thở dài …"... thì 2 câu thơ: "Cầu Gia Bảy nứt vì bom Mĩ / Vá víu rồi còn đau đến lơ ngơ" được tác giả sắp xếp câu chữ như viết rất chân chất tự nhiên lại làm người đọc phải chùng lòng bởi sự ám ảnh:

 

THÁI NGUYÊN NGÀY MƯA VỠ

.

Cà phê Xưa chỉ còn ly đầy gió 

Giọt ngày xưa rơi đắng bây giờ 

Cầu Gia Bảy nứt vì bom Mĩ 

Vá víu rồi còn đau đến lơ ngơ 

.

Sông Cầu qua đây e thẹn

Giấu xoáy ngầm gọi tím Bằng Lăng 

Yêu là thế! Tôi về cắn giọt em vừa qua phố

Mưa ngàn năm nhuộm trắng mái đầu 

.

Dốc Nhà Bò, núi Cô Kê, quán Ba Trăm lay mòn sách cũ 

Bao người đẹp thành bà cụ đi bộ toàn vấp gió 

Những xinh tươi vào Di chúc cả rồi 

Quả Sim nào lăn tím ngắt thơ tôi?

.

Về đến ngõ. Rung ngực. Thái Nguyên ơi 

Áo Chàm rơi thành Hồ Núi Cốc 

Người tôi yêu thành giọt mưa vỡ 

Lăn trăm năm trong một tiếng thở dài …

*.

                               NGUYỄN ĐỨC HẠNH

 

Viết về nỗi đau hậu cuộc chiến giữa 2 miền Nam Bắc đã có quá nhiều nhà văn nhà thơ khai thác theo chủ đề xuyên suốt tác phẩm nhưng với "Thái Nguyên Ngày Mưa Vỡ" của Nguyễn Đức Hạnh thì không thế, chỉ là ông vô tình chợt thấy di chứng của cuộc chiến mà nỗi đau ám ảnh vào thơ. Cả bài 16 câu chỉ có 2 câu thơ: "Cầu Gia Bảy nứt vì bom Mĩ / Vá víu rồi còn đau đến lơ ngơ" gợi lại ký ức buồn về một chặng đường lịch sử của dân tộc với những chữ giản dị, mộc mạc như tự bật ra từ lồng ngực, từ trái tim nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đức Hạnh.

Hai chữ "vá víu" đã lột tả thực trạng tâm, tầm và lực của lối suy nghĩ và cách hành xử của các cơ quan chức năng có trách nhiệm với "Cầu Gia Bảy nứt vì bom Mĩ", rộng ra là với cuộc sống của người dân và với hiện trạng của đất nước.

Hai chữ "lơ ngơ" diễn tả nỗi đau khó nói thành lời với những chất vấn không hiểu tại sao lại có cuộc chiến 2 miền Nam Bắc? Tại sao di chứng chiến tranh lại để mãi kéo dài?... Hỏi đấy mà không thể có câu trả lời thỏa đáng vì những lý do đưa ra "không thể tin được", "không thể hiểu được"... càng khiến người “chất vấn” thấy lạ lẫm, ngớ ngẩn đến khó hiểu! Nếu nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh thay 2 chữ "lơ ngơ" bằng các chữ khác như: ngẩn ngơ, xót xa, quặn thắt, đắng lòng,... thì câu thơ thật bình thường, không có gì để bàn vì câu thơ dễ trôi tuột, không để lại ám ảnh với người đọc!

Tôi thích cách dùng câu chữ chân chất tự nhiên ở 2 câu thơ này. Bốn chữ "vá víu", "lơ ngơ" diễn tả được thật nhiều nỗi niềm!

*.

Hà Nội, ngày 25 tháng 07-2024

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

 

READ MORE - "ĐAU ĐẾN LƠ NGƠ" CÙNG NGUYỄN ĐỨC HẠNH - Đặng Xuân Xuyến