Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, February 12, 2023

CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG - THƯƠNG HIỆU CỦA TRÁI TIM - Phạm Cảnh Thượng

 

Các Thầy cắt băng khánh thành khu trưng bày HSNH 


CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG

THƯƠNG HIỆU CỦA TRÁI TIM


Có những niềm vui bất ngờ thú vị đến, để rồi sẽ làm chúng ta nhớ mãi. Ví như chiều hôm qua chủ nhật 12-02-2023, các anh chị học sinh Nguyễn Hoàng BRVT để dành cho mình một chổ trên chuyến xe đi SG dự cuộc họp mặt đầu xuân. Cũng là lễ kỷ niệm 30 năm thành lập hội cựu học sinh Nguyễn Hoàng Sài Gòn (HSNH SG - 1993-2023)

Đúng 1h30 chiều, sau khi đi vòng vòng rước thêm vài anh chị, chiếc xe 7 chỗ trực chỉ Tân Bình. 4giờ kém đến nơi, vừa đặt chân vào cổng nhà hàng Hoàng Long, tôi ngỡ ngàng trước quang cảnh đông vui của buổi chiều lễ hội. Một khuôn viên rộng lớn, thoáng đãng được trang trí bằng nhiều tranh ảnh hết sức trang trọng và vui mắt.

Cuộc hội ngộ đầu xuân của những anh chị mà theo lý thuyết không thể có học trò dưới 62 - 63t và cao nhất là 84t, các thầy cô thì còn cao hơn. Tôi tham gia với tâm trạng vui háo hức xen lẫn chút tò mò. Bởi từ lâu với tôi, cựu HSNH Quảng Trị là một tượng đài, một thương hiệu lớn. Thương hiệu của Trí tuệ và của Trái tim như tôi lấy làm tiêu đề cho bài viết này.

Còn tôi chỉ là lứa đàn em cấp 3 Hải Lăng sau giải phóng. Ở một khía cạnh nào đấy cũng được xem là đàn em hậu duệ của HSNH. Lý do là bởi ngôi trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị ngày ấy có một “thân phận” đặc biệt do hoàn cảnh chiến tranh mà Quảng Trị là địa đầu giới tuyến, mà lát nữa được trình bày những nét chính cơ bản như bên dưới đây.

Tò mò là vì muốn biết hội ngộ HSNH là như thế nào ? Xem các anh chị “người lớn” tổ chức ra sao ? Có gì hay, có gì lạ để mà học hỏi cho biết. Nghĩa là như trong vai một “quan sát viên” vậy thôi. Thêm nữa, cũng như có dịp được gặp gỡ một số đàn anh mà lâu nay nghe tiếng và ngưỡng mộ.

Sau các phần nghi thức và nghi lễ, giới thiệu khách mời, giới thiệu Thầy cô giáo, thì có lẽ không gì ấn tượng hơn chính là bộ phim, chiếu lại quá trình 30 thành lập, hoạt động và phát triển của HSNH SG. Phải gọi là một bộ phim đúng nghĩa, vì tôi canh xem đồng hồ thấy thời lượng kéo dài hơn 45 phút. Phim được dàn dựng và đạo diễn công phu với dạo đầu bằng ca khúc “Về đây nghe em” của nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Chủ đề phim là “30 năm đoàn kết - thân thương - chia sẻ”. Trên nền nhạc đầy trữ tình của ca khúc Torna a Surriento nổi tiếng của 2 anh em Giambattista và Ernesto De Curtis, mà sau này nhạc sĩ Phạm Duy đã lược dịch thành ca khúc tiếng Việt Trở về mái nhà xưa, càng làm không khí đông vui nhưng lại xúc động và lắng đọng hơn bao giờ ... Chỉ là phần nhạc, nhưng mọi người ngồi nghe không thể không liên tưởng đến phần lời của Phạm Duy lay động tâm tư trong bối cảnh vô cùng “ăn nhập” chiều tối nay :

“Về đây khi mái tóc còn xanh xanh

Về đây với màu gió ngày lang thang

Về đây với xác hiu hắt lạnh lùng

Ôi lãng du quay về điêu tàn ...”

Ngôi trường dấu yêu đã không còn tên sau ngày giải phóng 1975. Tất nhiên với các anh chị HSNH thì khỏi phải nhắc lại lai lịch và quá trình của trường. Bởi có lẽ tất cả đều đã thuộc nằm lòng và ở nơi dấu yêu nhất trong trái tim của các anh chị. Ở đây chỉ xin điểm qua vài nét chính để mọi người cùng biết, cùng hình dung về ngôi trường đặc biệt dâu bể và một thời vang bóng này.

Có thể nói một cách không quá rằng Thừa Thiên Huế có Quốc Học thì Quảng Trị có ngôi trường mang tên của vị Chúa tiên Nguyễn Hoàng. Dù chưa được lịch sử phán xét công minh và sòng phẳng, nhưng trong bài thơ Nhớ Bắc, nhà thơ cách mạng Huỳnh Văn Nghệ đã có những câu nói về công lao phải nói là vĩ đại của vị Chúa tiên - người đặt nền móng, khai sinh Đàng trong và triều Nguyễn :

“Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương”

Thật vinh hạnh khi miền đất Quảng Trị nghèo khó, đau thương, địa đầu giới tuyến thời đó có một ngôi trường mang tên Người.

Nguyên thuỷ của trường là do một nhóm nhân sĩ và phụ huynh có tâm, có lòng ở thị xã Quảng Trị lập ra năm 1951 với danh nghĩa là một trường trung học tư thục.

Chỉ một năm sau, tức niên học 1952-1953, trường đã được Bộ Quốc gia giáo dục công nhận là trường công lập với tên gọi là Trường trung học công lập Quảng Trị. Chỉ gồm 5 lớp : hai lớp đệ thất (lớp 6), hai lớp đệ lục (lớp 7), và một lớp đệ ngũ (lớp 8 )

Đến niên khoá 1953 -1954 lần đầu tiên trường được chính thức mang tên Trường trung học Nguyễn Hoàng. Như vậy nếu xét danh chính ngôn thuận, thì có thể nói trường Nguyễn Hoàng thành lập từ niên học đầu tiên 1953 -1954.

Thế mà chỉ 5 năm sau, trong bối cảnh chiến tranh, lại là địa đầu giới tuyến, mà trường Nguyễn Hoàng đã phát triển nhanh chóng với chất lượng đào tạo uy tín, năm học 1958-1959, trường đã phát triển lên thành 15 lớp, trong đó có 2 lớp đệ tam (lớp 10), cũng như khuôn viên trường được mở rộng thêm.

Cột mốc đáng nhớ là niên khoá 1962 - 1963 trường có lớp đệ nhất (lớp 12) đầu tiên, nên được công nhận là trường Trung học Đệ nhị cấp. Nghĩa là tính từ 1962 trở đi, trường Nguyễn Hoàng là một ngôi trường chính qui “toàn vẹn” với đầy đủ các lớp từ đệ thất đến đệ nhất (từ khối 6 đến khối 12).

Thời chiến người học ít và có sự chọn lọc : gia đình có điều kiện hoặc con nhà nghèo thì phải thật hiếu học và học giỏi. Dù không có cơ sở, nhưng tôi đồ rằng một học sinh tốt nghiệp tú tài toàn phần thời đó (tốt nghiệp 12) thì trình độ chất lượng và tư duy ngang với một sinh viên tốt nghiệp đại học bây giờ !

Qua tìm hiểu các tư liệu, cho thấy thi đầu vào của trường Nguyễn Hoàng cực kỳ chất lượng. Như những hạt gạo trên sàng, mới theo đuổi đến đoạn cuối con đường học vấn.

Như cây xương rồng trên cát, môi trường khắc nghiệt vẫn ẩn chứa một sức sống mãnh liệt. Sau Mậu thân 1968, năm học 1968 - 1969 trường đã có trên 50 lớp. Có thể nói thời kỳ đỉnh cao, phát triển huy hoàng nhất của trường chính là niên khoá 1970-1971, đạt 60 lớp với trên 3.000 học sinh (bao gồm nữ sinh trung học), trên 100 giáo sư + nhân viên hành chính.

Có thể nói, cùng với biến cố đất nước, thì mùa hè đỏ lửa 1972 cũng là biến cố bước ngoặc của trường Nguyễn Hoàng. Thầy trò cùng người dân tán loạn, “chạy giặc” nhiều vào Đà Nẵng. Thật khó tin và kỳ diệu, trường Nguyễn Hoàng vẫn tồn tại ở một địa điểm mới đó là Trại tạm cư Hoà Khánh và Non Nước với trên 40 lớp ! Thế mới biết sức sống của trường Nguyễn Hoàng là phi thường đến nhường nào !

Năm 1973 - 1974 chiến sự tạm lắng lắng, trường Nguyễn Hoàng rời Đà Nẵng trở về quê hương Quảng Trị nhưng không phải chỗ cũ mà là chỗ mới, đó là trường cấp 3 Hải Lăng bây giờ. Và năm 1975 giải phóng thống nhất đất nước, thì trường Nguyễn Hoàng mới chính thức kết thúc sứ mệnh một thời vang bóng của mình.

Với Thầy giáo Lân Bành Phi, cựu Trưởng ban liên lạc NH BRVT


Với anh chị Phó giáo sư Tiến sĩ, BS Lê Chí Dũng, TP.HCM.



Tôi được tham dự buỗi lễ với 4 niềm cảm hứng:

1/ Tự hào và ngưỡng mộ về một lứa đàn anh học hành đàng hoàng và chất lượng.

Rất nhiều HSNH sau đó trở thành những biểu tượng thành đạt của xã hội khắp nơi, kể cả ở hải ngoại. Đặc biệt nhiều anh chị HSNH trở thành những Thầy cô giáo đáng kính, trở về lại dạy tại trường. Nhiều anh chị sau này là Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Nhà văn, Nhà thơ, là Bác sĩ, Kỹ sư, là Doanh nhân, Nhà báo, Nghệ sĩ, v.v ... rất thành danh. Còn những anh chị do hoàn cảnh chiến tranh hoặc hoàn cảnh bản thân, gia đình mà không theo đuổi việc học đến nơi đến chốn được, thì cũng trở thành những con người hiểu biết, có tri thức trong xã hội, những người cha, người mẹ nuôi dạy con cái trở thành người có ích cho xã hội. Tất cả các anh chị đều chung một cái nôi xuất thân, đó là học sinh trung học Nguyễn Hoàng -Quảng Trị.

2/ Cảm hứng thứ hai, đó là sau giải phóng lứa đàn em chúng tôi cũng được học tại cấp 3 Hải Lăng. Ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể được xem là hậu duệ của học sinh Nguyễn Hoàng.

Cũng tại nơi đây năm 2017 cháu Phan Đăng Nhật Minh (Hải Thọ - Hải Lăng) đã giành chức vô địch Đường lên đỉnh Olympia nức lòng cả nước với biệt danh “chú bé Google”, gây ấn tượng mạnh với người hâm mộ là “cái gì cũng biết”

3/ Cảm xúc thứ ba, đó là như mọi người con của quê hương Quảng Trị, chúng tôi cảm thấy mình cần có trách nhiệm, và mong muốn góp một phần truyền cảm hứng, đến các thế hệ trẻ hiện nay và sau này. Rằng Quảng Trị từng có một ngôi trường trung học Nguyễn Hoàng, một thời vang danh về chất lượng, uy tín và độ tin cậy thương hiệu. Để thế hệ các em, các cháu biết mà phấn đấu và noi gương.

4/ Cuối cùng là niềm cảm hứng muốn biết các anh chị tổ chức ra sao và được gặp một số đàn anh, đàn chị đã nghe qua danh tiếng từ lâu nhưng chưa được gặp, như nói trên.

Slogan giảng dạy của trường ngày ấy là “nhân bản - dân tộc - khai phóng”, chứ không tuân theo bất cứ một chủ thuyết ngoại lai hay chính trị nào. Thiết nghĩ đây cũng là một yếu tố tạo nên giá trị cốt lõi và xác lập được tính bền vững độc lập của thương hiệu trường Nguyễn Hoàng cho dù thời gian và thời cuộc có dâu bể ra sao.

Và dù chỉ tồn tại chưa đầy 24 năm, nhưng trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã hoàn thành một sứ mệnh cao cả. Đó là đào tạo nên nhiều thế hệ học trò giỏi, chất lượng, để rồi như những cánh chim tung bay khắp 4 phương trời đất nước và cả Hải ngoại.

Giữa năm âm lịch Quí Mão này, chúng ta kỷ niệm 410 năm ngày giỗ của Thái tổ Gia Dụ hoàng đế Nguyễn Hoàng. Thiết nghĩ thế hệ con cháu tri ân Ngài không gì hơn là luôn biết phấn đấu lao động, học tập và sống tốt với các giá trị chân, thiện, mỹ.

Riêng đối với nhiều thế hệ HSNH, còn là niềm tự hào, tưởng nhớ và tri ân thầm lặng - để một thương hiệu trường Nguyễn Hoàng không thể dễ lãng quên.

Đúng 8g30 tối kết thúc. Buổi lễ để lại trong lòng tôi nhiều cảm xúc. Ấn tượng về cách thức tổ chức hết sức chu đáo, thân thiện, chuyên nghiệp và “rất người lớn”. Tức là vui và nhộn nhịp nhưng trang trọng và không xô bồ.

Dùng dằng một lát, mấy anh em chia tay lên xe với những lời chúc và hẹn hò nhau phía trước. Về đến cổng nhà nhìn xem đồng hồ đã thấy 10g30 đúng ...

(Kim Long, BRVT, Trưa thứ hai 13 -02 -2023 - PCT)

 Phạm Cảnh Thượng

READ MORE - CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG - THƯƠNG HIỆU CỦA TRÁI TIM - Phạm Cảnh Thượng

THÁNG TƯ VỀ CAM LỘ | LÊN KRÔNG KLANG | NHƯ HOA CÀ PHÊ TRẮNG - Chùm thơ Võ Văn Hoa

Nhà thơ Võ Văn Hoa


 Tháng tư về Cam Lộ

 

Giao mùa cơn nắng ong ong

Tôi về Cam Lộ lòng vòng đường quê

Gặp em răng rứa mô tê

Tiêu Cùa cay xé, kim kê gọi mời

 

Cầu Đuồi con nước đầy vơi

Tình em rực cháy một trời cỏ hoa

Vua Hàm Nghi xưa từng qua

Hình như thấp thoáng lượt là Tôn nhân!

 

Miền sương ngọt đã xoay vần

Tôi nghe đồng vọng bước chân ai về...

 

05/4/2010

 

 

Lên Krông Klang

 

Mấy lần lên Krông Klang

Lên với Sa Trầm con đường huyền thoại

Đêm đại ngàn Trường Sơn dốc thoải

Còn dấu chân của những binh đoàn!

 

Lên Krông Klang

Thị trấn mới chiều sương bay lãng đãng

Bạn tôi nói: “Con chim đẹp trên dòng sông đẹp”

Krông Klang vẫy cánh chim trời.

 

Krông Klang mai tôi giã bạn xa người

Em hãy hát lên - dàn đồng ca gió núi

Cho ché rượu cần nghiêng

Cho mềm môi lữ khách.

Krông Klang, Krông Klang... 

 

 

Như hoa cà phê trắng

 

Những em bé Pa Cô, Vân Kiều

Trên đường miền Tây tôi gặp

Sớm nay không theo mẹ lên nương

Sớm nay, em thả bộ đến trường

 

Qua Hướng Linh , Hướng Phùng

Qua Húc Nghì, Tà Rụt...

Các cô giáo miền xuôi lên đây cắm bản

Dốc chiều nghiêng!

 

Gian khó buổi đầu không thể nào quên

Cùng chia sẻ là bà con đồng đội

Là những người đi xẻ tiếp Trường Sơn...

Nên ấm lòng dù đêm giá nhiều hơn

 

Tôi thức cùng các em

Hát cùng các em!

Vơi đi đêm miền Tây hoang vắng

Các em - như hoa cà phê trắng

Tôi mang theo từ phía đại ngàn.

 

Khe Sanh, 3/2002

VÕ VĂN HOA

vovanhoahlqt@gmail.com 


READ MORE - THÁNG TƯ VỀ CAM LỘ | LÊN KRÔNG KLANG | NHƯ HOA CÀ PHÊ TRẮNG - Chùm thơ Võ Văn Hoa

MỘT THÁNG GIÊNG HỒNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Một tháng giêng hồng

 

Em bỏ quên gì trong tiếng nắng khua

Lá me cứa mái tôn rơi lỗ chỗ

Phủ kín hiên thưa, hương xưa mấy độ

Thả rong rêu, ngày cũ đã sang mùa

                    *

Tháng giêng non, giăng mắc tơ trời

Rợn ngợp gió xuân thì thốc xối

Vội vàng buông, vô chừng vô đổi

Trễ tràng cong, tóc thả lả lơi

                   *

Em bỏ quên gì mà cố tìm về

Nơi hoang vắng, bãi bờ tím biếc

Dốc nắng oằn cong chiều giã biệt

Ngắc ngoải ngày, đắm đuối đam mê

                    *

Tháng giêng xanh mướt ngát bên đường

Nét tươi trẻ, lay điều có thể

Góc nhìn cũ thâm căn cố đế

Gió mới về tràn ngập yêu thương

                    *

Em bỏ quên gì, lợn cợn ngày đi

Như khỏa lấp bao điều nông nổi

Con đường hẹp cong chiều bức bối

Luẩn quẩn rơi, đâu dấu cuồng si ...

                                      01/18

 

 

Ướm nhịp ngày đi

 

Em là chiếc lá nhỏ

Lung linh trăng đẫm sương

Khẻ khàng run trong gió

Nghiêng rơi, vương đầy vườn

                *

Buông lơi điều có thể

Đắn đo giấu ngượng ngùng

Này em sao như thế

Điệu đàng bước, quay lưng ...

                *

Gió xoay tà áo cuộn

Mơ hoa ướm ngập tràn

Lẽ loi bờ trăng muộn

Theo chiều đưa mùa sang

                *

Lặng lẽ nhịp ngày đi

Nỗi niềm nào ở lại

Treo ngang thời con gái

Một mùa trăng xuân thì

               *

Em là chiếc lá nhỏ

Mơn man gió trượt qua

Vàng thu rơi đâu đó

Mơ hoài cánh rừng xa ...

 

 

Ta vẫn chờ em

 

Dứt khoát sang mai này anh ngỏ

Lời tỏ tình của tuổi ba mươi

Cứ lần lựa, ngày xanh còn đó

Thêm một mùa xuân, rụng xuống đời

                   *

Anh có thể vô tâm, nhút nhát

Để xuân thì rối lẫn trượt qua

Con phố vắng, mảnh đời rời rạc

Một mình ngồi nhấp nhổm nhấp nha

                   *

Lơ đãng ngó lơ, như giả bộ

Hàng cây xanh, chồi biếc lộc ngời

Hoa đã nở, đã tàn mấy độ

Mấy độ chờ em…mấy độ em ơi!

                   *

Dù có phải chặn em giũa phố

Mặc đường xe, phố chật người đông

Bóng nắng xiên hiên thưa loang lổ

Đọng lại ưu tư, nặng trĩu lòng …

                                            8/91

 

 

Chiều rung rinh, bãi lau trắng bời bời

 

Dòng sông chảy giữa đôi bờ sấp ngữa

Trôi đâu mất những lời đoan hứa

 

 

Trên quảng đường xa, em gánh cả lối về

Vin bóng nắng, đâu có nhiều chọn lựa

Trôi xuôi dòng, trong suốt nỗi đam mê…

 

 

Khi bươn trải trên đường, vấp ngã

 

Không có nghĩa là ta đã đi sai đường

Dù có những ẩn mờ dấu lạ

 

Có hay không một quá khứ quan phương?

Lồng lộng gió theo chiều đổi mới

Có người níu kéo vòng vo, cũng là lẽ hằng thường

 

          Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - MỘT THÁNG GIÊNG HỒNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Friday, February 10, 2023

SAO TA CÒN Ở ĐÂY… - Thơ haiku của Trần Mai Ngân


 

 
SAO TA CÒN Ở ĐÂY…
 
** Chim bay về lối mây
Sao ta còn ở đây
Bầy Ve kêu như khóc!
 
** Buổi sáng pha tách trà
Con bướm bay la đà
Say tình một đóa hoa…
 
** Đôi môi sao run rẩy
Khi nói tiếng yêu em
Con Trăng trôi qua thềm…
 
** Nụ cười trong chiếc gương
Đôi mắt gửi người thương
Thoắt mây băng qua đường!
 
** Màu xanh của bầu trời
Đánh dấu một bình minh
Tĩnh tâm người thức dậy…
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - SAO TA CÒN Ở ĐÂY… - Thơ haiku của Trần Mai Ngân

THỨ LỖI TÌNH ANH - Nguyên tác: Bağışla by Aziz Nesin - Bản dịch tiếng Anh của Fatih Akgül - Bản phỏng dịch tiếng Việt của Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Thứ Lỗi Tình Anh

Nguyên tác: Bağışla by Aziz Nesin
Bản dịch tiếng Anh của Fatih Akgül

FORGIVE ME

Sometimes I come too soon
Like I came to this world
Or sometimes too late
Like I loved you at this age

I am always late for happiness
I always go to misery too soon
Either everything has already come to an end
Or nothing has started yet

I am at a step of life that is
Too soon to die, too late to love
I am late again, forgive me my love
I am on the verge of love, but death is closer.

.

Bản phỏng dịch tiếng Việt của Trần Đức Phổ

THỨ LỖI TÌNH ANH

Phận anh
Đôi lúc trớ trêu
Chào đời lỡ sớm
Biết yêu lỡ già

Hạnh phúc luôn tít mù xa
Bên anh toàn nỗi buồn và thương đau
Hoặc là kết thúc từ lâu
Hoặc là chẳng có khởi đầu, em ơi!

Anh đang mấp mé vực đời
Yêu thời già khú, chết thời còn non
Ái tình ngấp nghé trong hồn
Nhưng mà cuộc sống chẳng còn dài thêm

Muộn màng lần nữa rồi em
Thứ tha anh, lỡ tình duyên kiếp này!

1/2/2023 

tranducpho
ducphot946@gmail.com
READ MORE - THỨ LỖI TÌNH ANH - Nguyên tác: Bağışla by Aziz Nesin - Bản dịch tiếng Anh của Fatih Akgül - Bản phỏng dịch tiếng Việt của Trần Đức Phổ

Thursday, February 9, 2023

NGŨ XUẤT KỲ SƠN - Tam Quốc Chí ngoại truyện của Chu Vương Miện



Để cho cuộc Bắc Chinh kỳ này cho được vẹn toàn, Tướng phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng góp ý với Hậu Chúa Lưu Thiện là mở một cuộc họp khoáng đại giữa hai bên, một là Ba Thục hai là Đông Ngô cùng hợp tác lao động, hợp đồng đánh úp tập thể quân Tào Ngụy, chơi một ván bài xả láng, rồi cho toàn quân giải ngũ không thèm đánh với chác nữa. Vốn là vua gật, nên tướng phụ nói gì là ô kê nấy. Cuộc họp song phương Ngô Thục diễn ra rất là hoành tráng bánh tráng ở Kinh Châu. Vua cậu là Tôn Quyền thì cũng có vẻ già nua, đi có người dẫn dắt, vua cháu là Lưu Thiện "tên cúng cơm là Ả Đẩu" thì toàn người bình thường, chỉ duy cái cần cổ là to mà thôi? Vì làm vua nhưng đại quyền trong tay tướng phụ nên chỉ only gật mà gật nhiều quá xá, nên bộ phận cổ phát huy và to ra. 

Bên Đông Ngô ngoài Ngô đế  ra còn có Gia Cát Cẩn, đô đốc Lục Tổn, Hàn Đương, Châu Thái , Giả Hoa... Bên Ba Thục thì ngoài Thục Đế còn có Khổng Minh, Khương Duy, Ngụy Diên, Mã Đại và Triệu Tử Long. Mở đầu Tướng Phụ Gia Cát Lượng có lời chúc phúc cho cả hai nhà Ngô Thục keo sơn gắn bó, đồng cam cộng khổ, hợp tác lưỡng lợi hai nhà như một. Kỳ này cũng mong đại cáo thành công như trận Xích Bích thủa ngày xưa. 

Sau đó thì Đế Ngô Tôn Quyền nói:
- Thời trước xưng đế thì còn ngon lành chớ cái thời buổi bây giờ xưng đế cũng chả khác gì Đế Guốc Đế Giầy Đế Dép, nhưng thiên hạ ba chân đỉnh, mà Tào Ngụy đã xưng đế thì chúng ta  có ngán thằng Tây nào đâu mà không dám xưng?  Thú thực thanh bình nhiều năm, Trẫm cũng chán chiến tranh lắm lắm rồi. Mấy chục năm về trước, cũng nhờ cái Kế Sách "Di Tản Chiến Thuật" của Tào Tháo, cho rã ngũ tập thể một lúc 60 vạn quân. Bao nhiêu chiến thuyền phần cháy phần tặng lại cho Đông Ngô, các tướng lãnh chia nhau dùng làm du thuyền thuyền đánh cá. Đông Ngô cũng cấp kỳ cho giải ngũ tức thì một nửa quân số, cho về tự do sinh nhai đánh cá làm thuyền chài, kéo xe, khuân vác và mở quán thịt chó. Bây giờ có giở trò đánh nhau thì trăm sự vạn sự nhờ cậy Quân Sư Gia Cát Lượng chủ sự lo liệu điều động giùm. 


Biết là có từ chối cũng không được, nên chẳng đặng đừng tướng gia bèn móc trong người ra một tấm bản đồ Chung Quốc Con Gà lòi thu nhỏ lại đặt gọn gàng trên chiếc bàn bầu dục và lấy tay chỉ chỏ phân bố ra như sau:
- Liên quân Ngô Thục, nhưng phần ai nấy uýnh. Phần Đông Ngô chịu hai mặt trận, một lộ quân từ Tỉnh Hồ Nam thông qua Ngũ  Đại Hồ đánh thẳng vào Phàn Thành và Tương Dương, hai là một lộ quân có sẵn  từ Kinh Châu tức là một nửa tỉnh Hồ Bắc, hai lộ quân này nhập chung làm một, tiến công thẳng một lèo vào Lạc Dương Tỉnh Hà Nam tức Hứa Đô tên cũ là Đông Đô. Thắng được là đạt yêu cầu chiến trường đủ để chia đôi thiên hạ rồi.  Phần còn lại sẽ do quân Ba Thục đảm trách, nói xong thì ban hậu cần mang đồ ăn lên cho vua quan bồi dưỡng lão rồi phân lịch cộng tác ngày xuất quân rồi hai bên Ngô Thục chia tay ai về nhà nấy.
 
*
Bà Con nhà Ba Thục cũng tức thời chia tay. Về tới biên giới nhà, tướng phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng cho mời họp giao ban ngay tức thời. Tướng gia nói :
- Chúng ta chia quân làm ba hướng, đánh thẳng vào Thiểm Tây tức Trường An Tây An [cựu kinh đô]. Khổng Minh đưa ra một lệnh tiễn cho Tả tướng Triệu Vân và phó tướng Đổng Chi một Phương Diện Quân gồm có 35 ngàn quân bộ, từ Tứ Xuyên mượn đường Cam Túc đánh thẳng vào Thiểm Tây bằng mọi cách chiếm cho được Kỳ Cốc. Tiền tướng quân Ngụy Diên cũng một Phương Diện Quân 35 ngàn quân sĩ đánh từ miệt Trùng Khánh, men theo biên giới tỉnh Hà Bắc tức Kinh Châu cũ theo lộ Tà Cốc ngả Âm Bình tức là Hang Tý Ngọ đánh thẳng vào My Thành của Thiểm Tây, còn bổn thừa tướng một Phương Diện Quân gồm 30 ngàn quân còn lại cùng Trâu gỗ Ngựa máy, trụ từ Kỳ Sơn đánh thẳng hai nèo vào Hán Trung tức là phần địa đầu của tỉnh Thiểm Tây. Ba Phương Diện Quân tùy theo chiến trường mà uýnh, không có quân trừ bị, tức là đánh tử thủ, không có ai tiếp viện có sao đánh vậy, tự mình lo liệu cho mình. Các lộ quân lo thu xếp quân trang quân dụng vật tư vật công thực phẩm cùng Trâu gỗ Ngựa máy, đầu tháng tư này xuất quân đồng bộ một lượt.

*
Hai Lộ quân của Đông Ngô, một từ Hồ Nam theo Ngũ đại Hồ đổ bộ lên Phàn Thành, Tương Dương thì bị bão làm chìm gần hết các chiến thuyển. Giờ thì binh sĩ và tướng lãnh cũng đang mò Hoa Thạch Cương dưới đáy hồ mà cải thiện. Lộ quân còn lại ở Kinh Châu thì cũng bị kẹt cứng ngắt ở ải địa đầu tỉnh Hà Nam. 

Còn quân Ba Thục thì Phương Diện Quân của Triệu Vân và Đình Quát bị chặn lại ngay cửa ải Kỳ Cốc, chỉ có một con đường duy nhất là thoái. 
Phương Diện Quân thứ hai của Tiền tướng quân Ngụy Diên thì kẹt cứng ở Tà Cốc không cục cựa chi được, chỉ còn một đường binh duy nhất là Chẩu. 
Lộ quân của Tướng gia đến Kỳ Sơn đúng nửa tháng "15 ngày" không thấy quân sĩ của Tào Ngụy nghinh chiến, phải cho lính Dân Sự Vụ đi loa trong làng xóm và Đài Phát Thanh cùng đài Truyền Hình cho đọc Thông Cáo và Thông Chồn của Tướng Phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng, nhắc chừng chừng là quân Ba Thục Ba Vạ đã tiến sát biên giới Hán Trung, yêu cầu Tào Ngụy cho quân ra chống lại đỡ lại. 


Ngày thứ mười sáu mới thấy cờ Đại đô Đốc bay phất phới trên lâu thành, kèm theo một băng đờ rôn chữ đỏ choét "cung hỉ Tướng Phụ Khổng Minh Gia Cat Lượng cát tường". Thế rồi cái chính Kế sách quen thuộc rất dễ ghét là Thùng Thủ [theo bài Xập Xám Chướng], hai bên không đụng độ thì thôi, nếu bên Ba Thục Ba Vạ tiến công vào chân tường thành thì lính Tào Ngụy ở trên thành cứ đá tảng, đá cục, gạch ngói vôi bột quăng xuống. Nếu ở dưới rút lui thì ở trên thành cho lệnh ngừng ngay. Cuộc chiến cù nhầy bao nhiêu năm cũng chỉ có một chiêu thức đó, diễn đi rồi diễn lại Chờ cho tới cái ngày mà quân Ba Thục Ba Vạ hết lương, hết gạo là a lê hấp rút lui có trật tự, cho kẹo cũng không dám ở lại đánh nữa. 

Cái lịch trình của Tướng Gia thì Tư Mã Trọng Đạt thuộc nằm lòng, một tháng chuyển quân, một tháng ở lại Kỳ Sơn đánh chác vớ vẩn câu giờ. Sau đó là chẩu. Thế là Đại Đô Đốc Tư Mã Ý phóng ngựa qua bên doanh trại của tướng phụ Khổng Minh xin vào yết kiến, một phó tướng đưa đại Đô Đốc vào. 

Thi lễ xong phân ngôi chủ khách chưa có trà nước chi thì Đại Đô Đốc nói thẳng thừng:
- Chuyện binh gia làm nhọc lòng Tướng Phụ quá đi mất. Cũng may có tướng gia mang quân ra Kỳ Sơn, nên chúa Tào Ngụy  mới kêu Tại Hạ tái ngũ và mang quân ra Kỳ Sơn cấp kỳ đốc chiến. Tại hạ về hưu non tính ra thì cũng trên 12 năm rồi, hiện tại có mang theo trong quân vài ngàn dật vàng, để ngay chiều nay sẽ cho người mang sang cho tướng gia dùng để mua thực phẩm gạo nước cho binh sĩ, hầu đủ điều kiện ở lại Kỳ Sơn thêm một tháng nữa, chứ đi và về ngay mất sức lao động quá.
 
Tướng phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng mỉm cười hỏi:
- Có ý đồ ý đạc gì thì nói nghe chơi?
- Tướng phụ ở thêm một tháng, để Trọng Đạt mỗ có thời gian chuẩn bị Đảo Chánh Họ Tào, dẹp cha nó cái nhà Ngụy, lập ra cái nhà khác, chỉ có thế thôi. Chứ bây giờ Tướng phụ rút quân về Thành Đô, Tư Mã Ý mỗ mang đại quân về trào, Tào Duệ Ngụy lại cho Tư mỗ Phục viên để đuổi gà cho vợ thì đến cái thủa nào mà có binh quyền trở lại, thôi thì thà mình phụ người còn hơn là để người phụ mình.
 
Chu Vương Miện

READ MORE - NGŨ XUẤT KỲ SƠN - Tam Quốc Chí ngoại truyện của Chu Vương Miện

ĐỌC BÀI THƠ MÙA ĐÔNG “ĐI VỀ NƠI ĐÂU” CỦA THH - Châu Thạch


Nhà bình thơ Châu Thạch

Vừa ăn tết xong, lòng đang vui khi đọc được bài thơ “Mở Cửa Trái Tim” của bạn tôi, nhà thơ Bụi Đời Trần Thoại Nguyên, tôi liền viết được ngay bài cảm nhận cho “Mở Cửa Trái Tim” ấy.
 
Sáng nay, nắng hồng xuân làm ấm áp bầu trời. Trong niềm cảm xúc thú vị đầu năm đó, tôi lại vui thêm khi tình cờ đọc được bài thơ không phải viết về mùa xuân mà ngược lại viết về mùa đông, không phải là của bạn tôi mà là của một người tôi chưa quen biết, thấy tên facebook là Tuy Hoa Huynh và bút hiệu đề dưới thơ là THH.
 
 Nằm giữa mùa xuân, trong căn phòng xuân, lại đọc được thơ hay về mùa đông không khác gì ta vừa uống ly chanh đường lạnh, vừa thưởng thức hương mùa xuân tràn trong không khí.
 
                      Nhà thơ Tuy Hoa Huynh
 
Bài thơ đem cho tôi niềm vui của THH như sau:
 
 ĐI VỀ NƠI ĐÂU
 
Ngồi lại đây nghe lòng bối rối
Khóc thương ai ướt cả phố buồn
Mây vần vũ, gió không ngừng thổi
Trút xuống đời lắm nỗi tang thương.
 
Ngồi xuống đây chờ cơn mưa tạnh
Mưa mùa đông gió bấc se lòng
Trăng Hàn giang có còn tỏa sáng
Bến giang đầu hai bóng soi chung.
 
Ta ngồi xuống nhìn tầng mây thấp
Hỏi tri âm biết nẻo mô tìm?
Sóng đời vỗ cuộn tròn một kiếp
Đi về đâu giữa sóng triều lên!
                  
                                  THH
                          Cuối đông 2022
 
 Đây là bài thơ viết về một cơn mưa mùa đông bên bờ sông Hàn, Thành phố Đà Nẵng đã níu chân tác giả ngồi lại đâu đó chờ cơn mưa tạnh. Bài thơ viết ngay trên thành phố tôi đang ở, nơi tôi đã từng đi bách bộ sáng chiều, và cũng đã từng nhiều lần ngồi lại chờ cơn mưa qua, làm sao không đánh động con tim tôi được? Hơn nữa bài thơ thì mang tâm trạng buồn nhưng nỗi buồn chỉ như một cơn mưa rào lướt qua, làm khơi động suy tư của tác giả về kiếp nhân sinh, cũng giống y như tiếng lòng tôi mỗi khi ngồi bên bờ sông Hàn nhìn trời mây ảm đạm.
 
Ở khổ thơ đầu tiên tác giả tả cơn mưa rất lớn như “Khóc thương ai ướt cả phố buồn” và kéo đến bất ngờ “Mây vần vũ, gió không ngừng thổi” đã kìm toả bước chân khách, đã năng lưu khách phải “Ngồi lại đây nghe lòng bối rối”. Ba câu thơ là tiền đề, thân đề để đưa đến một kết luận ở câu thứ tư giống như tứ tuyệt Đường thi, nhưng không phải Đường thi, vì đọc không thấy có gì gò bó như Đường thi cả: “Trút xuống đời lắm nỗi tang thương”. Thật ra cơn mưa không đến nỗi trút xuống đời những nỗi tang thương nhưng từ cơn mưa tác giả liên nghĩ đến những phong ba bão táp trong đời.
 
Khổ thơ thứ hai tác giả mới viết về mình, mới tâm sự về một mối tình mà hai đứa đã từng ngồi chung soi bóng xuống bến sông:
 
Ngồi xuống đây chờ cơn mưa tạnh
Mưa mùa đông gió bấc se lòng
Trăng Hàn giang có còn tỏa sáng
Bến giang đầu hai bóng soi chung
 
Câu thơ thứ tư “Bến giang đầu hai bóng soi chung” có thể hiểu là hai người ngồi tại một bến nước nào đó ở đầu con sông Hàn, nhưng cũng có thể hiểu “bến giang đầu” chỉ là một ẩn dụ chỉ sự đoàn tụ ngày trước mà tác giả lấy ý từ 4 câu thơ trong bài thơ “Trường Tương Tư” thời xưa của Lương Ỷ Nương:
 
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thuỷ.
 
Dịch:
 
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không gặp
Cùng uống nước sông Tương.
 
Tác giả THH có thể vô tình, có thể cố ý dùng chữ “Bến giang đầu” nhưng dầu vô tình cố ý thì câu thơ cũng cho ta liên nghĩ bài thơ ly cách tuyệt hay thời xưa lồng trong cuộc tình chia hai ngả thời nay, làm cho ý thơ chứa đầy thi vị. Khổ thơ còn lồng “Trăng Hàn giang” giữa cơn mưa, đưa tâm trí mơ màng quay về quá khứ rất nên thơ và rất lảng mạn. Đây là một khổ thơ thổ lộ cuộc tình, diễn tả nội tâm vừa trọn ý, vừa êm ái buồn, vừa chứa chan cảm xúc.
 
Khổ cuối bài thơ là một suy nghiệm cuộc đời hơn là một lời tâm sự:
 
Ta ngồi xuống nhìn tầng mây thấp
Hỏi tri âm biết nẻo mô tìm?
Sóng đời vỗ cuộn tròn một kiếp
Đi về đâu giữa sóng triều lên!
 
Nhà thơ ngồi lại trong cơn mưa, bối rối vì cơn mưa ngăn lối về, nhưng rồi cơn mưa buồn làm nhà thơ nhớ đến cuộc tình, cuộc tình buồn làm nhà thơ suy nghiệm đến kiếp sống, kiếp sống không biết “Đi về đâu giữa sóng triều lên!”. Sóng triều là sóng triều của cuộc đời như sóng triều của Hàn giang đang lên mà cũng như sóng triều ưu tư đang dâng lên trong lòng tác giả, nó cũng đang dâng lên trong chính bài thơ nhờ nghệ thuật sáng tác của nhà thơ.
 
Cả bài thơ từ câu đầu đến câu cuối như từng đợt sóng triều lên xô vào bờ, vỗ vào chân người “Ngồi lại đây nghe lòng bối rối”, “Ngồi xuống đây chờ cơn mưa tạnh” để suy tư và thấy mình bơ vơ đến độ không biết “Đi về đâu giữa sóng triều lên!”. Tiếng thơ nhẹ nhàng, buồn man mác, mang cuộc tình chia biệt và nỗi đời lạc lỏng bơ vơ, nhưng hay vì không cần một giọt nước mắt nào vẫn thẩm thấu cơn mưa se lạnh vào tâm hồn người đọc!
 
Tôi là người đi tìm thơ hằng ngày, lang thang trên mạng như những người đi tìm hoa trong các vườn để ngắm. Hoa đẹp thì nhiều nhưng hoa để mình thích thì ít. Vả lại hoa mình yêu không phải người khác cũng yêu, có khi người khác vừa chê vừa ghét. Vậy hoa nào tôi yêu thì tôi ngắm tôi khen. Cũng thế, thơ nào tôi cảm xúc thì tôi viết cảm nhận tôi bình. Ước mong những điều tôi viết không nghịch ý nhiều người, đó là niềm vui tôi hằng mong ước!
                                                   
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ MÙA ĐÔNG “ĐI VỀ NƠI ĐÂU” CỦA THH - Châu Thạch