Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, June 15, 2012

KỶ NIỆM BUỒN - Thơ Châu Thạch, nhạc Lê Hoàng

READ MORE - KỶ NIỆM BUỒN - Thơ Châu Thạch, nhạc Lê Hoàng

Nguyễn Thanh Xuân - HAI LẦN ĐI, VỀ

Đồng làng Hưng Nhơn. Ảnh Nguyễn Như Khoa

            Lần Đi
      
        Tôi có nhật ký thơ:

Đêm tập kết

     Năm tư tháng bảy canh ba
Đất mình hồi hộp vượt qua đất mình
     Hải Lăng, Bến Hải, Vĩnh Linh
Quê hương Quảng Trị một tình chia đôi
    Chân đi lòng những bồi hồi
Gửi về cha mẹ sáng ngời niềm tin
                                                    31-8 1954

      Tiểu dẫn: Sau hiệp định đình chiến 21-7-1954, xã tôi xã Hải Phong (Hải Tân, Hải Hoà hiện nay) đưa một số người ra miền Bắc, gọi là đi “tập kết”. Đoàn khoảng 20 người, phần lớn người Câu Nhi. Thôn Hưng Nhơn chỉ có tôi. Trưởng đoàn: Nguyễn Ngôn, người Hà lỗ. Lên đường, người đi đầu cầm lá cờ mầu xanh, biểu tượng của hoà bình (qui định trong hiệp định đình chiến).

     Thế nhưng không đi qua tỉnh lỵ Quảng Trị mà lên Như Lệ rồi theo giao liên đi “đường tắt” đến thượng nguồn sông Bến Hải. Khoảng 01h ngày 29-7-1954 chúng tôi “vượt” từ bờ khe phía Nam sang bờ khe phía Bắc mươi bước chân . Thật là hồi hộp!!

    Đoàn đi sớm vươt cả thời gian chuẩn bị đón tiếp của Chính phủ. Đi quá một buổi đường, phải quay lại nơi đón tiếp của Trung ương do ông Trần Hữu Dực làm Trưởng Ban Đón Tiếp.

    Số người dự mét tin còn ít, bởi đây là mấy đoàn đi sớm nhất. Lần đầu tiên được nghe cán bộ Trung ương trực tiếp truyền đạt chủ trương của nhà nước, những khó khăn thuận lợi, đặc biệt là trách nhiệm hai năm, mỗi người nắm cho được kiến thức tiên tiến của thế giới, để sau đó trở về xây dựng quê hương.

    Ngày đi đêm nghỉ, có đêm được xem biểu diễn văn nghệ, khi thì của tỉnh khi thì của huyện khi thì của xã. Tiền trạm bổ trí tối ngủ nhà dân. Nhìn chung đời sống người dân còn khổ hơn trong ta.

     Tạm dừng chân ở xã Nam Bình huyện Nam Đàn để chỉnh huấn. Chương trình là học chủ trương đường lối mới và chính là làm lại lý lịch cá nhân. Viết lý lịch thì có chi quan trọng mà bài giảng cứ nhắc đi nhắc lại. Tôi viết một lần là xong. Tôi tự hào là kê khai trung thực đến trên trăm phần trăm (>100%), nghĩa là có chuyện chưa biết sai đúng nhưng cứ kê khai để khỏi áy náy như trường hợp anh ruột tôi là Nguyễn Như Lãm ra ở thị xã Quảng Trị nơi địch chiếm đóng. Tôi khai là có người anh ruột theo địch. Tôi định khai chuyện bà mẹ, (đây là bà cả, đẻ ra tôi là bà hai) nhưng sau tôi không khai cho rằng bà già rồi. Chuyện là thế này: Tôi đang là HĐND xã phụ trách thu thuế nông nghiệp thôn Hưng Nhơn. Một hôm bà gọi tôi đến bà nói: Nè Xuân rứa chơ cái chữ nông cũng ác hè! Tôi hỏi mẹ nói sao? Ca nông giặc bắn về làm chết nhiều người không ác à!. Ác, đúng thế, tôi trả lời. Bà thủng thẳng nói: còn bên ta thu thuế nông nghiệp cao quá lại còn bắt dân gánh lên rừng nữa không ác à. Mạ! tôi tái mặt. Mạ tôi, gan ruột rứa đó. Lúc đó tôi cho là mạ tôi có thái độ chống bên ta.

   Hôm sau ban chỉnh huấn, đọc cho tôi nghe lời ghi trong lý lịch: Coi thường của cải, gây mất đoàn kết nội bộ.Nóng mặt lên tôi hỏi: Tôi làm gì mà gây mất đoàn kết? Ban chỉnh huấn trả lời: chiếc Printania đắt tiền không cất cẩn thận mà  để quanh giếng tắm đông người bị mất. Nghi ngờ người này người khác thành ra mất đoàn kết trong tập thể. Không, không phải thế. Của tôi vô ý tôi để quên, chứ không tôi đem của ra để gây mất đoàn kết. Tôi cương quyết: tôi không ký vào lý lịch có lời nhận xét như thế.  Họ nhìn nhau: Sẽ trao đổi lại với Đ/c sau.

     Ấn tượng đẹp với tổ chức cấp trên đã bị xấu đi trong buổi đầu nhận biết.

     Sau chỉnh huấn được nghỉ ngơi rồi tiếp tục theo guồng máy xã hội.

     Loay hoay thế nào đó, nhất là việc được cho đi học khoá nầy rồi khoá khác, cọng lại dễ chừng hơn chín năm trời (bổ túc văn hoá, hai khoá chính quy Trung Đại học, mấy lớp bổ túc chuyên ngành…).

    Một hôm về Bộ Lâm Nghiệp (Hà Nội) họp gặp bạn công tác ở Vụ tổ chức hỏi tôi sao không về Nam. Văn bản Bộ điều tháng trước.Tôi ngạc nhiên: mình chưa nghe nói gì Bạn đưa cho tôi xem quyết định.

    Về Hà Tĩnh gặp Giám đốc Sở, Giám đốc Sở cười cười trả lời: Bộ điều thì dễ còn ở địa phương thực hiện đôi khi hơi khó. - Tôi chưa hiểu, xin ông nói rỏ hơn. –Này nhé, tôi chưa tìm được người thay ghế cho cậu, thứ nửa tôi biết trong đó kỷ sư Lâm nghiêp chưa có “đất hoạt động”, ở đây đang cần hơn. Tôi đã có báo cáo với Bộ, ông Xuân bị thấp khớp không đi bộ được. Ông hạ giọng: cậu tạm thời đồng ý với mình. Ông à lên ! sao cậu biết Bộ điều? – Bạn tôi ở Vụ Tổ chức, tôi vừa trả lời vừa bước ra cửa.

   Hai mươi mốt năm, từ tuổi 25 đến 46, có thể nói là thời gian sung mãn nhất của đời người, đáng lẽ khá hơn nhưng chỉ có thế, chỉ có thế. Giá sử bây giờ đang là tuổi 25 bắt đầu lại sự nghiệp (đã có tiền sử (kinh nghiệm) 21 năm trước, e rồi tôi cũng chỉ có thế, chỉ có thế)
   
    Lần Về

    30-4-1975, đếm lại đã hơn 21 năm. Cuộc họp Ban Giám đốc Lâm trường ngay ngày hôm sau đã dành cho tôi tất cả tình cảm và sắp xếp cho tôi về thăm quê hương.

    Ở Lâm trường có Nguyễn Uẩn người làng An thơ cùng về.

    Chuẩn bị đi mới thấy thiếu một thứ quan trọng là giấy đi đường. 21 năm ở Bắc tôi chưa có chứng minh thư (xem ra quản lý vô cùng lỏng mà không mất dân, trong lúc đó ở miền Nam năm 1958 chế độ Ông Diệm đã có căn cước, chụp ảnh cả Tam gia liên báo, Ngủ gia liên báo, cho từng người từng gia đình thế mà mất dân không biết).

    Làm xong căn cước (không có ảnh) tôi với Uẩn bàn nhau nên đem theo bằng tốt nghiệp Đại học (có ảnh) đề phòng bất trắc. Mỗi đứa một xe đạp hai bộ áo quần đẹp nhất và mo cơm nếp. Từ Lâm trường về đến cầu Hiền Lương là 300 km xem là nhẹ nhàng (bởi trong những năm học ở Quảng Ninh về nghỉ hè ở Lâm trường, đoạn đường hơn 800km vẫn guồng xe đạp ban đêm thành thạo).

    Dừng chân ở Lâm trường Bến Hải do bạn chúng tôi là Thái Triêm làm Giám Đốc. Được biết chưa có chủ trương cho người miền Nam tập kết về thăm quê. Đi quan sát thấy dọc đường người nằm la liệt. Thái Triêm bàn cách phân lẻ. Tôi được giao cho mấy cán bộ của Lâm trường đưa về mạn dưới để đêmlội sang sông. Cán bộ Lâm trường cùng với dân quân du kích địa phương vừa canh gác vừa lách đường đưa tôi ra bờ sông (chiếc xe đạp, tài sản lớn nhất của gia đình để lại trong nhà dân không biết là ai). Đến bờ sông, nhìn sang bên kia mù mịt không thấy gì. Một anh bảo: cỡi hết quần áo buộc trong tấm ni lông (ở trần không vướng), khi cần dùng nó làm phao. Chú ý là đừng nhìn dưới nước hay nhìn bờ mà nhìn thẳng ngôi sao chụm ba, chụm hai cạnh nhau đó thấy chưa, thấy chưa?. Tay anh nắm tay tôi hướng lên ngôi sao đó. Có chút lo lo nhưng tin mình làm được và không còn nghỉ gì khác. Bắt tay tạm biệt trong đêm không biết già hay trẻ và các anh tên gì. Vục người xuống nước mới biết đây là nước lợ, gần cửa biển, có lẽ sông rộng. Lòng tự tin, tấm thân trần truồng với bọc ni lông mắt hướng vào hai ngôi sao chụm ba chụm hai mà ngoáy tới, ngoáy đến lúc thấy mệt, tựa vào bọc ni lông xem ra cũng nhẹ đôi phần, rồi tiếp ngữa khoát, sấp khoát, kiên nhẫn chân ngoáy tay quào… còn xa nữa không, miệng lọt vào ngụm nước mặn, ngữa mặt phì ra yếu ớt. Lơ mơ ta bất lực chăng? Nằm im rồi nằm ngữa rồi dựng thỏng chân, A ! chân chạm đất. Tự nhiên người tôi, tôi không điều khiển được, nó như mểm ra . Nước còn ngang cổ, ngang cổ. Gói ni lông làm phao đã phát huy tác dụng. Phút xúc động đi qua, tôi lần mò vào bờ. Qua màn sương mỏng, nhìn thấy mấy cụm tre thưa thớt, tôi như trườn đến đó, mặc vội áo quần và nằm dài ra cho đến khi mặt trời chói vào mắt cay sè.

---***---***---***---
    Một sự trùng hợp lạ lùng:

    + Khi ra đi, lên thượng nguồn con sông này “đất mình hồi hộp vượt qua đất mình”

    + Khi trở về, xuống hạ lưu con sông này “sông mình hồi hộp vượt qua sông mình”

    Cuộc gặp chỉ cách nhau hơn 21 năm thôi.Thật là thú vị!

Nguyễn Như Xuân
Hà Nội
READ MORE - Nguyễn Thanh Xuân - HAI LẦN ĐI, VỀ

Thursday, June 14, 2012

TIẾNG ĐÀN XƯA - Trần Hữu Thuần

Nguyệt Cầm - Tranh của họa sĩ Ái Lan


Tiếng đàn xưa—tâm trúc—hồn cầm, nguyệt,
Tơ Tây Thi, dây nức nở lụa là,
Đây tơ, đây trúc,
nhạc Đào Nguyên, thơ Diễm tuyệt,
Tiếng xôn xao, cung mời mọc, hòa âm. 

Có phải Thúy Kiều mượn hồn thương Kim Trọng?
Hay Thúy Vân khóc tình chị duyên em? 

Hay tiếng vó ngựa chinh phu
dong ruỗi ngàn dâu,
Phi cho mau, cho quên người chinh phụ,
Phi cho mau, hồn tử sĩ, gió ù. 

Hay tiếng chàng Trương bên nấm mồ oan khuất,
Thương cho em—trăm tội đổ đầu anh.
Con thơ đây—tình đôi ta—giọt máu!
Là oán, là ghen, là chua xót thương đau. 

Đàn Thúy Kiều quyện giọng sáo Trương Chi
Nước mắt rơi, vỡ tan tành chén ngọc. 

Có tiếng ca dao mẹ ru nôi con khóc,
Ánh trăng vàng ai múc đổ bờ ao.
Có phải người con gái hái sen             
thanh bình thuở năm nao
Trót dại qua cầu áo bay theo gió. 

Tiếng đàn xưa, tiếng sông Hồng sông Hậu!
Tê dại rồi, chết điếng, biết về đâu.
Hồn quê hương, diệc ngàn, sáo sậu,  

Bông cỏ may
níu chặt áo em rồi. 

Tiếng đàn xưa—tiếng quê hương—diệu vợi!
Nhớ khôn nguôi, và nhớ thực khôn nguôi! 

Trần Hữu Thuần
jbtranthuan@hotmail.com

READ MORE - TIẾNG ĐÀN XƯA - Trần Hữu Thuần

RỪNG THIỀN - Trần Ngộ


Ta chỉ là một khách trần
Ghé vào mắt em mỗi buổi
Cái hồn không tên;
Cái thân không tuổi
Lạ lùng.
Như chưa từng trải
Dáng ngây ngô
Em như thuở lên mười.
Tuổi thần tiên vừa mới chớm đôi mươi
Rất thùy mị và hồn nhiên biết mấy
Đời sáng trong như trăng rằm lộng lẫy
Hương thơm tho huyền diệu tới vô cùng
Ta hôn em trong thế giới đại đồng
Tiếng chim hót bên ngàn hoa sặc sở
Suối vẫn ru dưới cây đời tàn úa
Muôn vì sao lấp lánh giữa trời đêm
Gió thiên không rót lạnh xuống trăm miền
Bàn chân nào in dấu chốn nhị nguyên
Rừng lặng lẽ
Lòng đi vào cô tịch.

                                     Trần Ngộ
READ MORE - RỪNG THIỀN - Trần Ngộ

KHÔNG BẠN - Hoàng Yên Linh


Không bạn chiều nay rượu một mình
Chỉ còn trời đất quán nghiêng xiêu
Còn cô chủ quán đôi mắt biếc
Còn rượu còn ta với muộn phiền .

Ra thế đường đời cũng sáu mươi
Nhục vinh, thành bại gió mây trôi
Ới ơi bằng hữu về tâm sự
Một thuở tóc xanh đã trắng rồi .

Thôi cũng một đời mộng với mơ
Một đời đi mãi giữa bơ vơ
Văn chương rốt lại không tròn chữ
Lưng quán nghiêng chiều rượu với thơ .


B'Lao 2012.
HOÀNG YÊN LYNH

hoangmylinh@live.com 
hgmlh
READ MORE - KHÔNG BẠN - Hoàng Yên Linh

HỒI TƯỞNG - Độc Hành




Tôi nhớ về Quảng Trị
Có trường Nguyễn Hoàng xưa
Tuổi mười bảy tôi học
Nửa chừng đạn pháo đưa

Giã từ sông Thạch Hãn
Tạm biệt mái trường xưa
Ra đi thương nhìn lại
Cổ Thành buồn tiễn đưa

Rồi từ đó cách xa
Nơi xứ lạ đất người
Thương ơi là Quảng Trị
Hình ảnh ẩn tim tôi

Bây giờ ở phương xa
Tôi nhớ lũy tre làng
Con đường mòn lối nhỏ
Ngày xưa tôi lang thang

Ngày qua rồi tháng lại
Tâm khắc dáng NGUYỄN HOÀNG
Đầu in bóng THẠCH GIANG
Những trưa hè xuống tắm

Nhớ chuông chùa TỈNH HỘI
Khuya sớm tiếng vọng vang
Cầu quốc  thái dân  an
Muôn nhà tràn hạnh phúc

Nhớ  thánh địa LA VANG
Cứ mổi mùa đông sang
Mừng ngày CHÚA giáng sinh
Người đi lễ chật đàng

Nhớ bến cũ đò ngang
Cô lái đò má thắm
Tôi nhìn cô say đắm
Nhưng chẳng dám hỏi han

Nhớ cây đa đầu làng
Xòe tay che nắng hạ
Những trưa hè oi ả
Trai gái vỏng mắc ngang

Nhớ xuân về én liệng
Mai đào nở ngập tràn
Rủ nhau đi chơi tết
Dọc đường chyện râm ran

Nơi xứ lạ đất người
Quê mẹ tôi nhớ thương
Hôm nay hồi tưởng lại
Những nét của quê hương.

ĐH.
dochanh75@gmail.com
READ MORE - HỒI TƯỞNG - Độc Hành

Monday, June 11, 2012

BÀI TỚI, BÀI CHÒI Ở HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

   
Một trong hai loại chơi thu hút nhiều người nhất là cờ chòi và bài chòi.

   1. Cờ có 32 quân. Chia mỗi bên 16 quân, bên đen, bên đỏ. Sở dĩ gọi là quân bởi nó như một đội quân gồm tướng, sĩ, voi, xe, pháo, ngựa và lính. Có cấp bậc và vị trí cao thấp khác nhau. Tướng cao nhất, lính thấp nhất.

    2. Bài (bài tới) có 60 con. Chia mỗi bên 30 con, trong đó có 3 con màu đỏ. Tất cả 30 con đều “bình đẳng” nghĩa là không có vị trí cao thấp. Đặt tên mỗi con bài không thuộc một hệ thống nào như:ầm, tử, mỏ, hai, ba, rún v.v…Ta có thể thay tên 30 con đó bằng 30 tên khác như lấy số thứ tự từ số 1 dến số 30 và cho màu đỏ ở 3 số là 1,2,3. chẳng hạn.

    Thông thường, ngồi đánh trong nhà, khi tết nhứt hoặc có lễ hội đặc biệt người ta tổ chức làm chòi để dánh.

    Bài này tôi nói riêng về BÀI TỚI.

    Cái tên và đánh bài tới chỉ có ở quê ta, ở miền Bắc không có. Sao gọi là bài tới? Lý giải rất đa dạng, riêng tôi thử lấy kết quả của ván thắng để luận: ví dụ người thắng là người cầm trong tay một con bài cuối cùng (chờ), khi phe bên kia gọi đúng tên  con bài của phe bên này (chờ) thế là TỚI (thắng). Đúng ra là họ tới với mình mà mình mới thắng. (TỚI). Lạ!  Có phải tới phiên mình (được) chăng?

     Chòi đánh cờ chỉ có 4 chòi (cố định) còn đánh bài phải ít nhất là 8, hay 10 chòi. Dùng 8 chòi tức là mỗi bên 4 chòi thì bài thừa 2 con (4x7). Dùng 10 chòi thì 6 con mỗi chòi là vừa đủ.

   Khi đánh chia phe: Phe A và phe B.

   Phe A đi trước chỉ được phép đi một con, phe B cầm đúng con ấy và đi (kèm) thêm một con nữa (mình muốn), bên A cầm đúng con ấy đi (kèm) thêm con nữa (mình muốn), cứ thế cho đến khi có người tới. Luật chơi là không được tới con có màu đỏ, vì vậy ai bắt con màu đỏ phải đi trước. Có người bắt 6 con mà trong đó những 3 con màu đỏ. Chưa hẳn đã rủi !

     Xem ra, chơi bài tới là thoải mái nhất, gặp con nào đi con nấy, không cần suy nghỉ, không có tay “cao bài” không ai sợ người ấy, người kia giỏi bài. Không ai giỏi hết. Cái dẽ dãi, nhẹ nhàng này chẳng thế mà chỉ dành riêng cho phái nữ. Phải chăng người sáng tác ra kiểu đánh này đã nghiên cứu kỷ, sâu về “tâm hồn”người đàn bà?.

    Thường nhật họ đã tính toán mắm muối tương cà để độ nhật cho cả gia đình, bây giờ được chơi thì sức mấy đi “con này hơn con kia”; con nào cũng được! Có phải cá, rau đâu mà to với nhỏ. Biết con nào hơn con nào vì nó có quyền ngang nhau. Bởi thế khi chơi không né tránh người ấy đánh giỏi người kia không giỏi. Khác với cờ chòi có “kiệntướng” hẳn hoi (giỏi nhất định thắng).

    Luât chơi cũng dễ, mỗi lần chỉ đi một con. Tiền đặt vào chơi và lấy ra khi thắng cũng gọn. Ví dụ: mỗi người góp vào 100 x 10 người = 1000. Thắng một ván được nhận về 100 cho đến khi hết 10 ván. Dĩ nhiên có người thắng người thua. Nói chung đàn bà đễ tính, khác cánh mày râu thì bẳm trợn: một váncờ trên tay 8 con ăn cả 8; ăn cả 7, 6 ,5, 4, 3, 2, 1. Gọi là 8 ăn 9; 7 ăn 8; 6 ăn 7;..đến 1 ăn 2 ..Có lẽ đàn bà khác đàn ông cái đó chăng.

     Vui nhất là người chạy chòi, truyền con bài chòi này, tiếp nhận con bài khác rồi chuyền sang chòi bên kia rộn ràng liếng thoắng cùng với hiệu lệnh của các chòi cũng không thiếu tiếng trẻ con nô đùa làm cho sân chơi  huyên náo lạ thường.

    Tôi hình dung, nếu ở quê ta tổ chức được một trận chơi bài chòi thì có lẽ không có người giữ nhà e cũng nhiều như ngày có chương trình “Vượt lên chính mình” ngày 6-6 2012 mà MC Quyền Linh đã làm náo động sân làng Hưng Nhơn.

     Hưng Nhơn, Hưng Nhơn “Vượt lên chính mình” !

Nguyễn Thanh Xuân
Hà Nội
READ MORE - BÀI TỚI, BÀI CHÒI Ở HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI – TIỂU THUYẾT THÀNH CÔNG CỦA NGUYỄN NGUYÊN AN - Nguyễn Thị Tú Hằng


Thực tập Thực tế

TÌM HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NGUYÊN AN


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI – TIỂU THUYẾT THÀNH
CÔNG CỦA NGUYỄN NGUYÊN AN

Nguyễn Thị Tú Hằng
Văn k32
Đại học Khoa Học Huế


Nguyễn Nguyên An tên thật là Nguyễn Văn Vinh sinh ngày:01-01-1952, ông sinh ra tại Nam Giao thành phố Huế. Những truyện ngắn của ông in rải rác đó đây ở các báo, tạp chí trung ương và địa phương từ những năm 90.
Trường đại học của tôi là những trang viết đầy sức hấp dẫn, giúp người đọc bất giác hiểu rằng trong cuộc sống bộn bề mâu thuẫn giữa hai bờ chân – ngụy, thiện-ác, yêu thương-giả trá… vẫn nổi lên tình người trong veo.
Trường đại học của tôi là cuốn sách thứ tư của Nguyễn Nguyên An được xuất bản vào năm 2007 (Nxb Công an nhân dân). Tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng từ cây bút truyện ngắn sang tiểu thuyết của nhà văn, đồng thời khẳng định tài năng của ông. Trường đại học của tôi đụng chạm ào một đề tài khá hóc búa: tù tội và người quản lý giáo dục kẻ phạm tội. Có thể tóm tắt cuốn tiểu thuyết ngót 300 trang như sau: Nô trong một lần say rượu, bị kích động đã chém một người bị thương nặng vào lưng. Sau bốn năm trốn lệnh truy nã chui lũi khắp nơi, Nô bị bắt khi đang làm việc trong một xưởng cơ khí ở Đà Nẵng, bị dẫn độ ra Huế - quê hương của Nô, bị tòa kết tội ba năm tù giam. Qua các trại giam, Nô bao lo lắng hoang mang, thất vọng… cùng với hi vọng và chất thiện còn âm ỉ trong lòng, anh đã vật vã đấu tranh tư tưởng dữ dội, cuối cùng đứng lên cật lực lao động cải tạo trong trại giam.Trong qua trình đó, dưới sự tận tình kèm cặp nghiêm khắc nhưng đấy bao dung của những “thầy giáo bất đắc dĩ” – cảnh sát trại giam, Nô đã “trở dạ, khai sinh một nhân cách mới”, đước đặc xá, trở về với gia đình, với cộng đồng và thành đạt trong việc làm ăn với vai trò một chủ xưởng nhỏ toàn những người trước đây bị tù tội. Họ hàm ơn Nô, và đều công nhận nơi ấy là “trường đại học” của họ.

Một cốt truyện đơn giản và có hậu như vậy, rất dễ sa vào công thức, khô khan giào điều. Song Nguyên Nguyên An với độ chín của một cây bút, bằng thủ pháp kể chuyện ở ngôi thứ ba “Tôi”, ông đã dẫn người đọc từ đầu đến cuối không bị hẫng hụt, thất vọng. Sự hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết không nằm ở chỗ những tình tiết gay cấn giật mà là ở sự chân thực, hồn nhiên pha chút vụng dại nây thơ, rất sống động. Cách viết của Nguyên Nguyên An, chúng ta gọi là truyền thống mới: đó là đồng hiện và liên hiện. Không có một sự kiện nào xuất hiện đơn lẽ mà theo nó, vài sự kiện khác đã có hoặc manh nha sắp có, lung linh, có hình có bóng trước mắt người đọc. Nghĩ về một người hay chình mình đi liền với một người khác, một chuyện khác liên quan hoặc giây dợ giềng mối với người đó chuyện đó. Đồng hiện là bút phát chủ yếu của Nguyên Nguyên An. Đứng ở hiện tại, ông quay về quá khứ và lần lượt ôn từng sự kiện, từng kỷ niệm. Ngôi thứ nhất là bóng dáng của tác giả. Nhân vật tôi đóng vai người kể chuyện không ngần ngại thổ lộ nỗi đời, nỗi mình trên trang viết. Có lúc nổi đam mê, có lúc vụng về, dại ngộ của một chang trai mới chớm vào yêu “chúng tôi tan trong nhau, tan trong cơn chếnh choáng, rạo rực tuyệt vời. Tôi nhận lấy thơ ngây sau nữa lần nàng trao tay vụng dại” (Người cũ-Người đi săn hoàng hôn), để rồi trong hành trình dấn thân ấy, ông tiếp nhận những chuỗi bất hạnh. Bài học làm người từ những thất bại cá nhân, từ đỗ vỡ trong hôn nhân giúp ông đứng dậy, vượt qua hoàn cảnh để làm người “Tôi chẳng cần đổi cái nghèo tôi đang gánh chịu. Tôi chỉ muốn tập làm người” bởi vì “tay trắng không thể trắng thêm” dù ông biết rằng “đời chỉ là cuộc chơi… cuộc chơi trong cõi phù du này thôi” (Bớt son-Người đi săn hoàng hôn). Đó là khẳ năng sinh tồn của bất cứ ai nếu họ còn muốn làm người tốt. Ngòi bút của ông thường toát lên mơ ước một cách chân thật, giản dị mà tê buốt, đằm sâu. Cái tình của tác giả trải ra trên trang viết bằng giọng nhẹ nhàng thủ thỉ tâm tình, ít hằn học quát tháo. Nếu có, thì đằng sau vẫn lòng tốt nhẫn nhục, cam chịu thứ tha, bởi đời còn nhiều việc cấp bách hơn cần báo động.
Tác giả dành khá nhiều trang nói về gia đình và hoàn cảnh sinh sông của những người trong gia đinh nhân vật chính-nơi từ đó anh ta anh ta lớn lên và phạm tội. “Ba mẹ bỏ nhau khi tôi lên tám, chị gái lên mười, hai em còn quá nhỏ. Ba chị em ở lại với ba, còn mẹ đưa út mới mười mấy tháng tuổi. Mấy tháng sau một người bạn lái xe ghé nhà nói với ba: Tao thây con mi lem luốc bò dưới đất ăn cơm với chó… Mi vô đem nó ra kẻo tội. Ba tôi tức tốc nhảy tàu vô Hội An. Mẹ ham chơi đua đòi và không chịu đước cực khổ, chẳng đoái hoài gì đến con cái. Trước đó ba đã quỳ lạy mẹ trong hành lang tòa án: Đừng bỏ anh, tội các con. Mẹ nói: Anh buông tha cho tôi với. Mệ Quy thấy ba đang quỳ, an ủi: thôi về lo làm ăn rồi cũng lấy được vợ. Mắt mẹ long lên: chó mà lấy… Bà nội chửi mẹ: Đồ đàn bà đoản hậy, chỉ một đứa con nuôi không nổi!... Ông nội đối với cháu không cân phân, con chú thì yêu chiều, con ba là chúng tôi làm cái gì sai ông đánh đập, ngày ngày cứ đợi ba đi làm ló mặt về là chửi. Ba nuốt hết những lời cay đắng, còng lưng chịu đựng, rểu rảo khắp nơi chụp ảnh dạo kiếm tiền nuôi bốn “con tàu há mồm”. Chiều tối ba về lủng lẳng trên chiếc ghi đông xe đạp một gói cá nục hay nữa ký thịt mỡ; nghe ông nội chửi:” Cha cô bà đẻ con không dạy”, điên tiết ba lôi chúng tôi ra đánh tiếp. Chúng tôi không có mẹ, luôn bị đói khổ chửi bới đòn roi đên ù lỳ. Tôi thường bỏ học, cầm đâu tụi bạn cùng lứa lang thang, ngoài đường ngoài công viên, mười tuổi đã biết ăn hiếp, trấn lột bạn; mười ba tuổi học lớp tám đã nổi tiếng là “đầu gấu” ở sân trường. Thăng em út ốm yếu bụng ỏng da chì, xổ ra đúng một rổ 39 con giun đũa. Xổ xong, nó cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, ngồi đâu là ngồi đù một cục. Dù vậy, nó vẫn lớn lên như cây cỏ. Nó đụng đến việc gì là hỏng việc ây, rửa ly bể ly, rửa chén bề chén. Nó thường lang thang ngoài công viên, các qúan cà phê; bị tụi bụi đời đánh vác cái mặt máu sưng vều về nhà. Đêm nào nó cũng đi mười một mười hai giờ mới về nhà, bị ba phạt có, đánh có, không cho ăn cơm, trói, xính, đủ cả… nhưng nếu hở ra một chút là nó chuồn liền. Rồi dì Hạnh lấy ba khi di đã băm chín tuổi, cái tuổi mà thời gian đã gọt dũa đến nguội lạnh những háo hức khát khao của người phụ nữ, nhưng dì-mẹ cám cảnh gà trống nuôi con của ba, cảnh chúng tôi đầu xanh không có bàn tay chăm sóc của người mẹ. Có lần hai người mẹ của chúng tôi gặp nhau, một bên là nhà giáo chịu thương chịu khó, một bên là người đàn bà chơi bời hoang toàng, trang sức màu mè, ăn nói lấc cấc uống rượu hút thuốc liên miên, đến nỗi không nhận ra mặt tôi nữa…”
Các nhân vật mỗi người một nét điển hình với dấu ấn không thể lẫn đã được ngòi bút Nguyễn Nguyên An vẽ nên khá rõ, đạt độ chân thực sinh động một cách bất ngờ. Đặc biệt là dì Hạnh, người mẹ kế. Khi mới về nhà cha con Nô, Hạnh gây cho mọi người một cảm giác hơi khó chịu: người cao to, đi đứng hậm hụi nhưng ăn mặc lại chải chuốt, làm đẹp bằng kính trắng, lắc, nhẫn, dây chuyền… Nhưng “phụ tùng” ấy không giúp cho Hạnh bớt thô, trái lại làm giảm phần trí thức của một cô giáo. Nhưng rồi sau đó, Hạnh đã bán dần cho đến hết để lo cho gia đình và thăm nuôi Nô với tình cảm không khác chi Nô do mình rứt ruột đẻ ra. Sau mười mấy năm, Hạnh có từ gia đình Nô là vóc dánh ngày càng gầy gò, tóc tai ngày càng bạc vì phải quần quật việc nhà việc trường; đêm về lại bận bịu với giáo án với các em Nô. Trong thâm tâm Nô tự hỏi: sao mẹ Hạnh cam tâm là vợ ba, làm mẹ chúng tôi cho khổ vậy? Có phải đó là đức tính nhân hậu, đảm đang của một người phụ nữ Huế xưa? Nô thấy vô cùng có lỗi với mẹ Hạnh vì đôi ba lần trách cứ mẹ đưa lên trại đồ thăm nuôi ít, rồi lại hối hận tự xủ vả mình hư hỏng, đòi hỏi gia đình này nọ. Biết làm sao xin lỗi mẹ Hạnh đây? Nô chỉ biết nguyện cầu trời đất phù hộ cho mẹ Hạnh và tha thứ tự mình sau này không làm điều gì để mẹ và gia đình phiền lòng nữa…
Toàn bộ cuốn tiểu thuyết, ở khía cạnh này hoặc góc độ khác đều là những mãnh đời, những tấm chân dung nhìn nghiêng của tác giả. Và một điều hết sức đặc biệt là không chỉ với tác phẩm này mà ở mấy tập truyện ngắn của Nguyễn Nguyên An, như Người đi săn hoàng hôn, Ngọn đèn vẫn tỏ ta bắt gặp bóng dáng người đàn bà đã thành ám ảnh, lúc ẩn lúc hiện. Và hình như là người đàn bà ấy là kể phụ tình, quên đi lời nguyện ước trăm năm để đến một chốn giàu sang, đô hội nào đó, mặc trong căn nhà xiêu vẹo với bốn đứa con thơ dại đang sống trong tinh yêu khắc khổ của một người bố bị tình phụ. Và lạ thay, ở họ không hề có tiếng trách móc, dẫu có lúc không tránh khỏi xót xa. Họ có lòng tốt “chi sơ” của bản chất người - một phép mầu huyền nhiệm để thương yêu, tồn tại. Hình tượng người đàn bày ấy chính là Yên - mẹ Nô, “Vợ tôi” trong truyện ngắn Chờ chút nằm trong tập truyện Người đi săn hoàng hôn, là Miên trong truyện Đất sau mưa được im trong cuốn Ngọn đèn vẫn tỏ. Phải chăng chi tiết này cứ lặp đi lặp lại chính là sự ám ảnh không nguôi trong tâm trí Nguyễn Nguyên An, khi người vợ yêu dấu đả nỡ bỏ ông và các còn theo người khác để chạy trốn cuộc sống khó ban đầu. Tôi còn nhớ trong một cuộc nói chuyện, hoa hậu Nguyên Thị Huyền đã giới thiệu bài viết về sự “cô đơn” đã làm tôi rất tâm đắc, trong đó có đoạn: “Cô đơn là quê hương của thiên tài, những bậc thiên tài thường hay sống trong âm thầm, lặng lẽ để khám phá, sáng tạo nhưng cũng vì không tìm được đối tượng có cùng nhận thức để chia sẽ và cảm thông. Nhưng khoảng cách khác biệt ấy chỉ thể hiện ở lĩnh vực tài năng nào đó mà thôi…”. Vậy có lẽ nhà văn đã sống những ngày trong khổ đau và cô đơn vì bị phụ bạc nên đã cho ra đời những đứa con tinh thần của mình cũng như vậy?
Về các nhân vật công an, cảnh sát trong tác phẩm, có lẽ là điều người đọc quan tâm nhất. Thượng ta Khá, thiếu úy Hiệu rồi các cảnh sát trại giam, những tự giác viên trong trại… được Nguyễn Nguyên An miêu tả trung thực và công bằng, không tô vẽ ngợi ca quá đáng những gì tốt đẹp của các anh, cũng không “bức xô” hành động hoặc có những ý nghĩ nặng nề với những gì còn hạn chế của họ. Làm sao chúng ta lại không chỉ chịu trận với cái xã hội đầy thói hư tật xấu do những người tù mang lại, mà còn chịu cảnh năm này qua năm khác chung thân với núi rừng hiu quạnh, xa rời sự êm ấm gia đình yêu thương nơi phông phường rực rỡ, tiện nghi thoải mái.
Trường đại học của tôi còn đưa tới một vấn đề không mới những chẳng bao giờ cũ trong nghệ thuật ngôn từ mà giờ đây không phải nhà văn nào cũng quan tâm đây đủ và chính xác: vấn đề sử dụng thổ âm địa phương trong văn học.
Sử dụng ngôn ngữ địa phương là sở trường của Nguyễn Nguyên An, hầu như trên mỗi trang văn cảu ông người đọc đều bắt gặp một chất giọng, một thứ “chất liệu” văn chương rất đỗi gần gũi, nhiều lúc gần gũi, giản dị đến gí dỏm, hồn nhiên.
Trong tiểu thuyết của mình ông đã khéo lựa chọn (chứ không mô tê răng rứa…) để bổ sung và đặc tả tính cách con người và sự việc chỉ ở vùng đất bối cảnh - Huế mới có: “ngồi dù một cục”, “lớn sượng”, “chịu đèn nhau” (yêu nhau), “mừng quớ ông điếu”, “thôi đừng buồn nữa anh Nhã. Đã vậy cố chịu cho qua anh hèo”(T49), “Nô đừng lo. Anh tự xoay xở được mà. Tháng ni nỏ ai bới anh chúng sống nhăn đó sao, chết chóc chi mà sợ. Nô có thì bớt anh chút ít, không thì đành nhịn, chớ biết làm sao!”(T125), “Ừ. Sau này tao bận không đi nữa. Mi cũng biết rồi, lên đó gần ba mươi cây số chớ ít sao, rồi phải chờ cả buổi mới thăn gặp được. Mi thấy tao công việc cả đống chưa làm xong đầy nì”(T222).
Trường đại học của tôi là tấm gương phản chiếu chân thực nhất cuộc sống đời thương. Là những kinh nghiệm sống đáng quý của tác giả đã trãi qua, qua bao cuộc bể dâu trước tình đời, tình người. Dù cho cuộc đời có khắc nghiệt tới đâu, dù cho lòng người có đa đoan, bắt ta hứng chịu bao nhiêu đọa đày thân xác và tinh thần thì ta vẫn không thể gục ngã. Và là lời nhắc nhủ của tác giả đến những người lỡ đánh mất lương tâm của mình thì hãy quay về phục thiện, hãy hướng về cái vinh hằng đề lấy lại cuộc sống tươi đẹp cho mình, cho người thân và xã hội.
Thành công của tác phẩm là đáng giá, là tiềm ẩn cho những thành công sắp tới của nhà văn Nguyễn Nguyên An. Đúng như nhà văn Nam Cao đã từng nói: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trắng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Trăng sáng). Đó là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao nhưng cũng chính là tuyên ngôn cho những ai cầm bút để tạo nên những tuyệt tác văn học sáng mãi như những vì sao tinh tú trên bầy trời văn nghệ. Tất cả đều hướng về con người và cuộc sống cùng những ước mơ và hạnh phúc vĩnh hằng.
Những tác phẩm của Nguyễn Nguyên An tham gia vào nền văn học Việt Nam như dòng sông chảy mãi không bao giờ cạn. Năm tháng sẽ qua đi cùng bao biến đổi thăng trầm, song những trang biết đầy tính nhân văn của ông sẽ mãi rợp bóng văn đàn, che mát con người suốt trang viết đầy tính nhân văn của ông sẽ mãi rợp bóng văn đàn, che mát con người suốt bao năm tháng, đó là một tình cảm thiết tha đầy nhân ái như những lời nhắn nhủ từ trái tim không bao giờ ngừng.

Huế, tháng 7 năm 2011
N.T.T.H
01674566848
READ MORE - TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI – TIỂU THUYẾT THÀNH CÔNG CỦA NGUYỄN NGUYÊN AN - Nguyễn Thị Tú Hằng

Sunday, June 10, 2012

Truyện ngắn của Phan Trang Hy - BỘ ÓC RÔ-BÔ


Không ai biết ông ta tên thật là gì. Người ta gọi danh ông ta dựa vào tấm quảng cáo treo ở góc đường. Nhà Đại Tiến Sĩ - đó là biệt danh của ông ta. Khắp xứ đều nhắc tới tên ông như một vị anh hùng của thời đại với chiến công hiển hách chưa từng có trên thương trường từ trước đến nay. Các buổi tiệc tùng của chính quyền đều mời ông ta tới dự, bởi vì hai phần ba ngân khoản dành chiêu đãi là do lòng hảo tâm của ông ta đóng góp. Các quỹ bảo trợ xã hội đều có phần ông ta tài trợ. Nói chung, ông ta là “Mạnh thường quân” đáng mặt để mọi người học tập.

Người ta không thể đoán biết vốn liếng kinh doanh của ông ta là bao nhiêu. Nhiều tin đồn đại, có thể vốn ông ta khoảng một thùng phuy vàng là ít. Ông ta bắt đầu phất khi nền kinh tế của xã hội chuyển sang sự cạnh tranh của cơ chế thị trường. Quả thật bộ óc ăn nên làm ra như thế thật là hiếm, thật là mẫu điển hình để mọi người ham có vàng phải bắt chước.

Ông ta về thành phố này cách đây vài năm. Món hàng kinh doanh của ông ta thật là lạ : Kinh doanh óc. Nó cũng kì lạ như con người của ông ta. Đầu ông ta là một khối vuông nhỏ xíu được gắn trên cơ thể lập phương. Chưa hết, mọi vật ông ta sử dụng đều vuông vắn đến cỡ nếu dùng thước đo có sai số một trên một triệu cũng không tìm ra độ chênh lệch. Và điều kì lạ hơn nữa, mặc dù ở độ tuổi năm mươi, ông ta vẫn còn trinh trắng.

Nhiều cô gái đẹp ngấp nghé muốn thân trao phận gửi cho ông ta nhằm kiếm nơi yên phận cái kiếp làm đàn bà, nhưng ông ta nhìn các ả bằng cặp mắt dửng dưng. Nhiều người cho ông ta khó tính. Nhưng điều đó trái ngược với bản chất của ông. Tới một con rắn hổ mang, ông cũng không dám xuống tay hạ sát khi nó leo lên người và liếm vào môi ông. Ông chỉ cười với nó. Và rồi khi thấy ông bị lâm nguy, các nhân viên giúp việc cho ông phải tìm gậy gộc để đánh chết con rắn. Hú hồn, hú vía, may cho nhà Đại Tiến Sĩ không hề hấn việc gì. Ông cũng chỉ cười khi thịt rắn trở thành món nhậu cho đám nhân viên. Bữa tiệc chiến thắng rắn, ông hào phóng xuất tiền để mua thêm thức ăn và nước để uống.

Và rồi, cả xứ đều xôn xao khi đọc mục quảng cáo nhắn tin trên tờ báo Kim Tiền : Nhà Đại Tiến Sĩ - chuyên kinh doanh các loại óc văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ, bác sĩ, kĩ sư, luật sư, bác học - muốn tìm vợ tuổi khoảng 15 đến 25. Ai muốn làm vợ Đại Tiến Sĩ hãy nộp đơn đăng kí từ ngày 1 tháng Giêng đến ngày 31 tháng Chạp năm nay. Mọi thủ tục xin liên hệ tại văn phòng của Đại Tiến Sĩ số 666, Đại lộ 13.

- Ôi ! Ông Đại Tiến Sĩ chuẩn bị lấy vợ. Tuyệt thật !

- Ôi ! Ngài Đại Tiến Sĩ sẽ có vợ. Chắc chắn đất nước này còn duy trì được gien của những người tài.

- Ông ta lấy vợ thật à ?

- Đây nè ! Đọc kĩ thì rõ ! Thật là phước đức cho nòi giống chúng ta…
Cứ thế, một đồn mười, mười đồn trăm, đồn theo cấp số nhân. Cả làng cả nước chờ đón tin mừng Đại Tiến Sĩ kén vợ.
*
* *
Việc định lại biên chế cho tờ báo Kim Tiền làm nát óc chủ nhiệm kiêm chủ bút. Để phóng viên, biên tập viên nào ở lại công tác, cho người nào về. Khi cần thì nhận, khi không cần thì thải sao ? Nhưng đã hạch toán kinh tế thì phải sòng phẳng, phải tính công sức của từng người để chi trả lương. Mà ở cơ quan này tính đi tính lại thừa 12 người trong tổng số 21 người. Giảm biên chế những trên 50%. Không lẽ chủ nhiệm kiêm chủ bút Thức Thời phải về vườn. Không lẽ Nữ Sĩ, người yêu trẻ của ông ta, phóng viên trẻ nhất trong số nữ phải nghỉ việc ?

Ông ngồi thừ trước bàn làm việc. Nữ Sĩ vai mang xách chạy vào cười nũng nịu với ông :

- Nè anh ! Tối nay chúng mình đi khiêu vũ nhé?

Ông im lặng.
- Chiều em một tí đi nào ! - Nữ Sĩ quàng vai ông, tựa má sát vào hàm râu đen rậm của ông.

- Anh bực muốn chết được !

- Chuyện gì mà bực ? Ai làm anh bực ? Ai qua mặt được anh ở cơ quan này ? - Nữ Sĩ hét toáng lên khi buông tay ra khỏi con người ông…

- Thì chuyện giảm biên chế đó ! - Ông vừa nói vừa thở dài.

- Hơi đâu anh lo cho mệt xác. Không lẽ anh không giữ được em ở lại làm việc sao ? Hơi sức đâu anh nghĩ thế. Ai lo cho mình cái ăn cái mặc. Đời này không đạp nhau thì làm sao sống nổi ? - Nữ Sĩ vừa nói vừa khoanh tay, ngước mắt nhìn cái quạt trần đang quay chậm rãi - Anh không đạp họ thì anh có chỗ để đứng không ? Anh và em chết đói trước hay họ chết đói trước ? Tùy anh !
*
* *
Đã hơn sáu tháng mà Đại Tiến Sĩ vẫn chưa kén được vợ cho nên mục quảng cáo nhắn tin phải in đi in lại nhiều lần trên báo kèm theo ảnh toàn thân của ông ta để các cô gái lượng sức nộp đơn đăng kí. Bên cạnh đó, báo cũng giới thiệu một phần tài sản của ông ta. Mục giới thiệu tài sản gồm có một số nội dung chính như sau: Ngài Đại Tiến Sĩ làm chủ một cao ốc trên 1000m2. Trang bị 5 karaôkê ở phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ, phòng tắm và cầu tiêu. Có 2 xe hơi kiểu tiên tiến nhất của Nhật Bổn còn chờ người lái v.v… và v.v… Nếu đọc hết nội dung đó, có thể chúng ta choáng ngợp trong số tài sản đó.

Mọi lo âu đều hiện trên gương mặt của những người chăm chú vào thời cuộc. Ngài Đại Tiến Sĩ sẽ chọn ai trong 6 tháng cuối năm để làm vợ. Người ta bàn bạc, kháo nhau và cá độ về đường tình duyên của Đại Tiến Sĩ.
*
* *
Người yêu của Đại Tiến Sĩ là Nữ Sĩ. Nàng thường cặp kè bên cạnh ông, trở thành thư kí riêng cho ông. Sau khi bàn bạc với chủ nhiệm tờ báo Kim Tiền, nàng đã đăng tin : “Nữ Sĩ, phóng viên tờ Kim Tiền, tuổi 24, đẹp, dễ thương, cần tìm chồng khoảng 50 tuổi, giàu có…” Nhờ tin ấy, nàng cùng Đại Tiến Sĩ trở thành đôi tình nhân tuyệt vời. Mọi bí mật làm ăn của Đại Tiến Sĩ nàng hầu như biết gần hết. Nhân viên khi gặp nàng đều bẩm thưa “bà chủ”. Thế nhưng, họ vẫn chưa làm lễ cưới. Họ đợi đến gần tiết Tiểu Hàn sẽ tổ chức vì khí hậu hợp với chuyện ăn nằm. Còn khoảng 25 ngày nữa mới đến thời điểm làm lễ động phòng hoa chúc.

Gần đến ngày cưới, một hội nghị khoa học kinh tế được tổ chức dưới sự bảo trợ của Viện Hàn lâm khoa học, có các đại trí thức của thời đại tham dự để nghe Đại Tiến Sĩ báo cáo tham luận kế hoạch kinh tế một thiên niên kỉ tới. Bản tham luận của Đại Tiến Sĩ dày trên ba ngàn trang in. Ông ta đã bỏ vốn ra in trên triệu bản phát trước cho các nước có tham dự hội nghị và ông ta dự tính bỏ ra một số tiền thù lao cho những vị chịu đến tham dự Hội nghị để nghe ông ta đọc tham luận. Cứ một trang in, ông sẽ chi trả cho mỗi người nghe một đô la. Vị chi, một người ngồi nghe tham luận, ông sẽ chi trả trên ngàn đô la. Mọi người đều phấn khởi mong đến ngày Hội nghị khai mạc.

Dù bận bịu với công việc sắp đến của Hội nghị, Đại Tiến Sĩ vẫn không quên ngày cưới của ông ta sẽ tổ chức một tuần lễ sau đó. Ông dành thời gian rảnh rỗi đưa Nữ Sĩ giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng.

Cơ sở làm ăn của ông, nàng đều biết và quen thuộc cả. Ngoại trừ trại cấy giống lấy óc, nàng chưa một lần ghé thăm. Nàng ao ước được đến đó. Nàng đã rủ rỉ bên tai Đại Tiến Sĩ. Cuối cùng, ông ta bằng lòng dẫn nàng đến trại.

Một buổi sáng đẹp trời, cả hai đáp phi cơ trực thăng đến trại giống. Sau khi các nhân viên ở trại làm thủ tục chào đón ông chủ và vị hôn thê của ông ta xong, họ đâu vào đấy trở lại vị trí làm bổn phận của mình. Đại Tiến Sĩ dẫn Nữ Sĩ đi từng lán trại để nàng tham quan. Hàng đàn khỉ được nhốt trong các chuồng trại. Nàng ngợp với quang cảnh kì lạ của khỉ. Tới một chuồng khỉ, Đại Tiến Sĩ khoe với Nữ Sĩ :
- Đây là chuồng nuôi óc kinh tế. Ai mua óc của lũ khỉ này sẽ ăn nên làm ra.

Nữ Sĩ trố mắt nhìn từng con khỉ đang học cách mua bán. Từng chỉ vàng, từng lượng vàng được chúng chuyền nhau. Chúng ngửi, thè lưỡi liếm, chúng giấu vào tai, vào háng, vào hậu môn…

Qua khỏi chuồng kinh tế, trước mắt Nữ Sĩ một chuồng khỉ có đầy đủ các nhạc cụ. Nào là pianô, viôlông, ghi ta, măngđôlin v,v…được các con khỉ đang chơi những bản nhạc tuyệt vời của Bêthôven, Môda…

Nàng sửng người lắng nghe những âm thanh kì vĩ. Một cái đập vai nhẹ nhàng làm nàng giật mình. Đại Tiến Sĩ cười nói :

- Em thấy lạ lắm hả ? Đây là chuồng nuôi óc nhạc sĩ. Chính những con khỉ này sẽ cung cấp óc cho các nhạc sĩ đại tài trong tương lai…

Chưa hết, nàng được Đại Tiến Sĩ dẫn thăm các chuồng trại, cả thảy 33 chuồng, đủ mọi ngành nghề, đủ mọi tri thức và đều có thể bán ra thị trường dưới dạng óc.
*
* *
Trong hội trường đông nghẹt người chờ đón Đại Tiến Sĩ đọc tham luận. Gần đến 11 giờ mới đến phiên ngài. Ngài bệ vệ tiến lên bục diễn thuyết. Pháo tay vang lên như sấm dậy tưởng bay trần ximăng ở trên đầu. Không có việc gì xảy ra cả. Chỉ có sự hoan hô nồng nhiệt.
Khi ngài Đại Tiến Sĩ cất giọng như catxet, cả hội trường im phăng phắc. Ngài say sưa đọc. Các phóng viên chụp ảnh, quay phim lia lịa.

12 giờ, ngài Đại Tiến Sĩ đọc đến trang 101.

12 giờ 30, ngài đọc đến trang 162.

13 giờ, ngài đọc đến trang 222.

14 giờ 30, ngài đọc đến trang 402. Cả hội trường không có một tiếng thở để nghe ngài đọc.

14 giờ 32, ngoài căng tin, mọi người đang kháo nhau sẽ sắm được những gì qua đợt Hội nghị này bởi đồng tiền hào hiệp của Đại Tiến Sĩ.

14 giờ 36 phút, ngài Đại Tiến Sĩ vẫn đọc.

15 giờ, ngài vẫn đọc. Và mọi người ở căng tin đang say mèm, nằm dài trên sàn nhà, trên cả lối đi và kể cả nơi vệ sinh.

15 giờ 10 phút, ngài Đại Tiến Sĩ vẫn say sưa đọc.
*
* *
Hai ngày sau, tờ báo Kim Tiền phát một tin giật mạch máu :

“Lúc 15 giờ 20 phút ngày 25-12-…, ngài Đại Tiến Sĩ đã đột ngột xỉu khi đọc tham luận. Các bác sĩ đã tận tình cứu chữa, nhưng vì tuổi cao, sức cạn, Ngài đã từ trần, hưởng 52 tuổi”.

Và trong tờ báo này cũng đăng tin cuộc giải phẫu bộ óc kì vĩ của Đại Tiến Sĩ, nguyên văn như sau :

“Sau khi tiến hành phẫu thuật bộ óc của Đại Tiến Sĩ, các bác sĩ, tiến sĩ, bác học trên thế giới vẫn không xác định óc của Ngài thuộc chủng loại nào vì không có não bộ. Và sau khi làm việc suốt 24 giờ liền, máy vi tính đã xác định : óc Ngài Đại Tiến Sĩ thuộc chủng loại rôbô ra đời cách đây 4 tỉ năm”.

1991
Phan Trang Hy
READ MORE - Truyện ngắn của Phan Trang Hy - BỘ ÓC RÔ-BÔ