Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 6, 2026

TRÁI ĐẤT THANH BÌNH - Lê Thi dịch thơ Shilpi Chowdhury

 

Hình nhà thơ Shilpi Chowdhury

TRÁI ĐẤT THANH BÌNH

 

Trong thế giới mong manh này

Từ lớp vỏ khô cằn, những mầm sống vươn lên

Như đôi tay bé nhỏ giơ về phía mặt trời 

Sau những đêm dài nhẫn nại

Bị dồn nén trong câm lặng và bóng tối.

 

Chúng chờ một tia yêu thương

Những giọt ngọc tinh khôi của bầu trời

Để hóa xanh 

Rồi dần ngả xám.

 

Chúng chỉ là những mầm non thôi sao?

Hay chính là con trẻ của chúng ta

Bị chôn vùi dưới bê tông lạnh lẽo?

 

Hy vọng, khát khao tình yêu cháy bỏng

 Niềm vui nối dài hân hoan

Của thân thể và linh hồn

Giờ đây bị nghiền nát

Bởi sức mạnh hủy diệt của bom nguyên tử 

 

Nhưng ta không khóc cho chúng

Ta chỉ mải mê thỏa mãn những ham muốn của mình.

Ta đi tìm khoái lạc bản thân 

Giữa nỗi đau riêng và muôn trùng rào cản.

 

Ta không còn thời gian thương cảm xung quanh 

Không còn thời gian để nuôi dưỡng

Bằng một giọt yêu thương

Một ngụm nước ngọt lành, một vệt nắng ban mai  

 

Ôi, hãy xấu hổ thay cho ta 

Linh hồn khát khao và lạc lối

Khi ta quên mất

Sống cùng nhau

Tỏa sáng cùng nhau

Để dựng xây

Một Trái Đất thiện lành.


Shilpi Chowdhury là nhà thơ, nhà văn và biên kịch  người Bangladesh, sinh ngày 16/12 tại Dhaka. Bà sáng tác truyện từ nhỏ và có 16 năm viết thơ, kịch, lời ca. Tác phẩm của bà được đăng tải trong và ngoài nước, gồm Ấn Độ, Indonesia, Bulgaria, Pháp và Nga.


Hình người dịch: Lê Thi



READ MORE - TRÁI ĐẤT THANH BÌNH - Lê Thi dịch thơ Shilpi Chowdhury

Monday, January 5, 2026

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ - Thơ Huy Vụ

Nhà thơ Huy Vụ

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 

Huy Vụ

 

Tơ lòng bỗng lại vấn vương 

Chuông chùa vọng khúc vô thường xa ngân 

Kinh nào xua hết si sân 

Kinh nào kéo được người gần lại nhau?

Cố nhân giờ đã về đâu 

Xót xa nhìn nửa mái đầu tuyết sương 

Nguyễn Du viết khúc đoạn trường 

Đôi câu nhân nghĩa nghe dường phôi phai 

Trăm năm cứ tưởng là dài 

Xót vầng trăng cũ vẫn cài lầu xưa 

Thân gầy trải bấy gió mưa 

Cố hương xa thẳm sao chưa thấy về 

Đường xưa bỏ rớt câu thề 

Trải bao bến hoặc bờ mê dặm trường 

Ngàn năm tơ nhện còn vương 

Có ai cảm hết một trường tương tư...


HV 05/01/2026

READ MORE - TRƯỜNG TƯƠNG TƯ - Thơ Huy Vụ

Sunday, January 4, 2026

Youtube: BÀI HỌC YÊU ĐƯƠNG - Thơ: Quách Như Nguyệt - Diễn ngâm: Kim Kiểm






Bài học yêu đương


Chắc anh đau lòng lắm

Bắt gặp em có người yêu khác

Đời sống này bẽ bàng, quái ác

Phụ tình, tình phụ… lẽ thường thôi!

Bao nhiêu năm nổi trôi

Vẫn không thể quên anh

Dẫu giờ đây anh nằm yên nơi huyệt lạnh

 

Sáng nay trời lành lạnh

Bỗng nhớ lại mối tình ngày trước

Ôi nghiệt ngã, một mối tình sa đọa

Em yêu anh, yêu bất chấp, mù lòa

 

Mỗi lần nghĩ đến anh, làm thơ… em khóc

Vết thẹo đời bị cào xới nên đau

Trái tim em tại ai mà nhướm máu?

Hai mươi năm, vẫn rên rĩ kêu trời

Chẳng thể nào lành lặn lại anh ơi!

 

Một tình yêu thay đổi cả cuộc đời

Bài học yêu đương mà anh là thầy giáo

Em ngây thơ bước vào tình chao đảo

Yêu khạo khờ, yêu mê dại xiết bao!

 

Sáng hôm nay, chẳng biết tại vì sao?

Em nhớ lại, nhớ đến ngày hôm đó

Ngày mà anh đau khổ, …mất em!

Cố quên anh, em có người yêu khác

Anh hiểu cho, em không hề tàn ác

Người nhẫn tâm, đào hoa chính là anh

 

Bài học tình, học mãi chẳng nên thân

Vì thầy giáo kinh nghiệm và tàn nhẫn!


Như Nguyệt

 


READ MORE - Youtube: BÀI HỌC YÊU ĐƯƠNG - Thơ: Quách Như Nguyệt - Diễn ngâm: Kim Kiểm

Saturday, January 3, 2026

Youtube: GIÓ ĐÊM ĐÔNG - Lời Phạm Anh Dũng, nhạc Phạm Anh Dũng&AI - AI hòa âm và hát

READ MORE - Youtube: GIÓ ĐÊM ĐÔNG - Lời Phạm Anh Dũng, nhạc Phạm Anh Dũng&AI - AI hòa âm và hát

GỌI NẮNG XUÂN VỀ / MÙA XUÂN VẪY GỌI / SẮC XUÂN - Chùm thơ Hạ Uyển

 


GỌI NẮNG XUÂN VỀ

 

Em đây rồi của tháng năm xa xôi

Môi thắm đỏ mà hồng tươi màu nắng

Mắt tin yêu như tình ta thầm lặng

Rộn rã cười, tà áo trắng thướt tha

 

Xuân thêm nồng xa gian khổ phong ba

Thuyền hạnh phúc đâu là nhà êm ấm

Ta bên nhau ôi tình thân sâu đậm

Nhớ nhau hoài. Mi ướt đẫm giọt thương

 

Dẫu mai này mỗi đứa ở một phương

Hơi ấm ấy như còn vương đọng lại

Bạn yêu ơi nếu tình ta mãi mãi

Thì xin rằng tình đó chẳng nhạt phai

 

Ánh tà huy thổn thức trên sông dài

Như luyến nhớ gửi ai lời nguyện ước

Đời vô thường chớ đắn đo mất, được

Bình minh lên, an phước đã ban dành.

 

MÙA XUÂN VẪY GỌI

 

Tung bừng trong nắng ánh xuân tươi

Tung tăng cánh bướm áo đỏ tươi

Xuân sang môi trẻ như hoa nở

Thỏ thẻ bên bà rộn tiếng cười

 

Đường chật người đông cờ rợp trời

Huy hoàng tráng lệ hoa khắp nơi

Xuân nồng tươi tắn màu pháo cưới

Đôi lứa bên nhau nâng chén mời

 

Hạnh phúc trao dâng đẹp cuộc đời

Thanh bình no ấm tuổi sáu mươi

Hương lan trong gió thì thầm ngỏ

Ấm áp tình thân người bên người.

 

SẮC XUÂN

 

Sắc nắng huy hoàng ửng nét xuân

Thêm duyên môi thắm vẻ ngại ngần

Mắt ai đắm đuối màu e thẹn

Xuân dâng khoe nhẹ, má bồ quân

 

Bút thả vẫn thơ lòng nhẹ lâng

Thong dong hái cỏ lướt hồng trần

Ta buông, buông nhé, tâm hoài tịnh

Tiền tài, vật chất, áng phù vân

 

Thánh thót bền đồi tiếng chuông ngân

Đời là cõi tạm, sẽ xa dần

Mơ chi ảo ảnh rồi tan biến

Được mất đầy vơi mặc thế nhân.


Hạ Uyển

hiennguyen03061960@gmail.com


Liên kết:

FACEBOOK HẠ UYỂN
READ MORE - GỌI NẮNG XUÂN VỀ / MÙA XUÂN VẪY GỌI / SẮC XUÂN - Chùm thơ Hạ Uyển

THẰNG ĐIẾC - Truyện ngắn Nguyễn Thanh Hải

 

 

Tác giả Nguyễn Thanh Hải

THẰNG ĐIẾC

 (Câu chuyện là tiếng lòng của tác giả Nguyễn Thanh Hải)  

 

    Hắn sinh ra ở một làng quê thuần nông, nơi người ta quen đo cuộc đời bằng vụ mùa, bằng con trâu cái cày, bằng những buổi chiều lặng gió và tiếng ếch nhái ngoài đồng. Tuổi thơ của hắn không có gì đặc biệt để kể, ngoài sự bình thường đến hiền lành: sáng đi học, chiều theo cha mẹ ra ruộng, ngày rảnh thì chăn trâu, cắt cỏ, tát nước. Cuộc sống cứ thế trôi, chậm rãi và nhẫn nại, như thể đời người sinh ra chỉ để tiếp nối đời người khác.

Cho đến khi biến cố xảy ra.

Vào một buổi chiều ngày mùa khoảng đầu những năm 1990, lũ trẻ trong làng tụ tập chơi bên những thúng thóc vừa thu dọn. Chúng xếp thúng thóc chồng lên nhau, quay tròn như đu quay. Một thúng đổ. Một hạt thóc nhỏ, rất nhỏ, lọt vào tai hắn.

Hắn hoảng sợ, tự chọc ngoáy để lấy ra. Hạt thóc ra được, nhưng tai thì đau nhức. Hắn không dám nói với cha mẹ. Trẻ con là thế, sợ bị mắng, sợ bị coi là nghịch dại.

Cơn đau ấy không qua đi. Nó âm ỉ, dai dẳng, bám theo hắn suốt những năm tháng sau đó.

 

Hắn vẫn đến trường, vẫn đi chăn trâu, vẫn tắm mương như bao đứa trẻ khác. Tai viêm, nhưng hắn quen chịu đựng. Đến năm 1995, khi đang học năm cuối trung học phổ thông, cơn viêm tai bùng phát dữ dội. Đau, ù, nghe kém. Cha mẹ lo lắng đưa hắn lên Bệnh viện 103 Hà Đông.

Ở đó, hắn gặp một bác sĩ tên Lộc, người ở gần trường mầm non Hoa Phượng Đỏ. Người đàn ông ấy nói chuyện rành rọt, chắc nịch, ánh mắt tự tin của kẻ quen được người khác đặt trọn niềm tin.

– Tai nó viêm trong đầu – ông ta nói – không mổ sớm là nguy hiểm. Nhưng mổ trong bệnh viện thì các bác sĩ làm không hết trách nhiệm, dễ đụng dây thần kinh số bảy, méo mồm, xếch mắt. Để tôi mổ tại nhà riêng, không qua bệnh viện, vừa an toàn vừa khỏi hẳn.

Cha mẹ hắn là nông dân, cả đời gắn với ruộng đồng, chữ nghĩa không nhiều. Với họ, hai chữ bác sĩ đồng nghĩa với cứu người. Không ai nghĩ rằng một người khoác áo blouse lại có thể nói dối.

Ca mổ diễn ra tại nhà riêng của bác sĩ Lộc. Hai người phụ mổ. Không giấy tờ. Không hồ sơ. Không một quy trình y khoa đúng nghĩa. Mười lăm triệu đồng – số tiền tích cóp cả đời – được trao đi cùng hy vọng con trai sẽ lại bình thường.

Ba ngày nằm lại. Một đơn thuốc. Một lời dặn nhẹ bẫng:

– Đủ ngày tháo băng, cắt chỉ là nghe được.

Nhưng sau ca mổ, tai hắn chỉ nghe được lơ mơ. Hắn nghĩ do bông băng che kín. Đến ngày tháo băng, cắt chỉ, mọi thứ vẫn mù mờ như có lớp sương đặc phủ trong tai.

Ngày ra khám lại

Hắn hỏi.

Bác sĩ soi đèn, bấm huyệt, rồi phán một câu lạnh lùng:

– Mổ mất máu nhiều nên sức yếu. Về ăn uống cho lại sức là nghe lại được thôi.

Hắn tin. Cha mẹ hắn cũng tin.

Cho đến khi người ta bắt đầu gọi hắn là thằng điếc.

Những tiếng gọi ấy ban đầu chỉ là trêu đùa. Sau thành thói quen. Sau nữa, thành cái tên chính thức thay cho tên cha mẹ đặt. Hắn nghe không rõ, trả lời chậm, làm gì cũng lóng ngóng. Ánh mắt người khác nhìn hắn dần đổi khác: thương hại có, khinh thường có.

Hắn bỏ học.

Không ai hỏi vì sao. Ở làng quê ấy, một đứa học dở dang không phải chuyện lớn. Người ta chỉ tiếc cho cha mẹ hắn, chứ không ai tiếc cho hắn.

 

Hắn theo bạn đi phụ hồ, rồi mày mò học lỏm nghề xây dựng. Tai vẫn viêm, vẫn chảy nước. Hắn đi khám ở một phòng khám tư. Bác sĩ nghe kể chuyện mổ tai thì giật mình:

– Tai này chỉ viêm nhẹ, uống thuốc là khỏi. Sao lại mổ? Thủng mất màng nhĩ rồi.

Câu nói ấy như nhát dao chém thẳng vào quá khứ.

Hắn quay lại tìm bác sĩ Lộc. Người đàn ông ấy lập tức phủi tay:

– Tôi mổ xong có làm sao đâu. Bị viêm là do không biết giữ vệ sinh. Thủng màng nhĩ là do tự ngoáy tai.

Không giấy tờ. Không bệnh án. Không ai làm chứng. Một người nông dân nghèo làm sao thắng được một bác sĩ có danh có tiếng?

Hắn nuốt hận.

Từ ngày đó, hắn hiểu ra một điều: có những nỗi đau không kêu được thành tiếng.

 

Hắn học nghề dệt. Tính tình ngày càng khép kín. Từ thời học cấp hai, hắn cũng biết rung động trước con gái, nhưng chỉ dám yêu thầm. Đứng trước người mình thích, hắn run, sợ không nghe rõ, sợ nói sai, sợ bị cười.

Có những ánh mắt bật đèn xanh. Hắn quay đi.

Cho đến một ngày, đi nhờ xe cùng một cô gái. Họ nói chuyện. Lần đầu tiên trong đời, hắn thấy mình được lắng nghe. Vài tháng sau, hắn lấy vợ.

Nhưng hôn nhân không cứu được cuộc đời hắn.

Làm công nhân dệt lương thấp, hắn quay lại nghề xây. Một trận ốm vì suy nhược, không đi khám kịp. Đôi tai vốn đã tổn thương liệt hẳn hoàn toàn.

Im lặng vĩnh viễn.

 

Từ đó, cái tên Thằng điếc bám theo hắn như định mệnh. Người ta gọi một cách thản nhiên, cười cợt. Như thể bệnh tật của hắn là trò tiêu khiển.

Hắn buồn. Hắn uất. Có lúc suýt đánh nhau. Nhưng rồi hắn hiểu: đánh nhau với cả xã hội thì chỉ có thua.

Đi làm, hắn thường xuyên bị lợi dụng, bị quỵt tiền. Hắn không nghe rõ để cãi. Không nói rõ để đòi. Người ta bảo hắn ngu, chứ không ai bảo hắn bị tước mất quyền lên tiếng.

Gia đình – nơi lẽ ra phải là chỗ dựa – lại trở thành nơi im lặng nhất. Không ai hỏi hắn sống ra sao. Không ai đứng ra bảo vệ hắn trước những lời miệt thị. Thương hại có, nhưng sẻ chia thì không.

Những năm gần đây, hắn thay đổi tính tình và cách nghĩ. Hay gắt gỏng. Hay chửi. Cười cợt lại những kẻ cười mình. Người ta bảo hắn khó tính, cay nghiệt. Không ai hỏi vì sao hắn phải tự khoác lên mình lớp gai góc ấy.

 

Không nói được, hắn viết.

Hắn viết như chửi. Viết như trút. Viết để tồn tại.

Trong đầu hắn đầy hận: hận một bác sĩ vô lương tâm, hận một hệ thống y đức bị mua bán, hận một xã hội quen gọi tên người khác bằng bệnh tật, hận cả những người thân đã chọn im lặng mày điếc thì biết gì.

Bạn bè tốt ư? Có. Nhưng hiếm như vàng trong bùn.

Gia đình có phải là nơi tiếp sức cho hắn không? Có phải là nơi cho hắn niềm tin khi yếu đuối? Hay chỉ là nơi người ta quay mặt đi khi một thành viên trở nên khiếm khuyết?

Hắn không biết.

Hắn chỉ biết rằng, khi đôi tai hắn câm lặng, thì lương tâm của nhiều người xung quanh cũng im tiếng.

Và từ lúc ấy, hắn không còn là một con người có tên.

Hắn chỉ còn là một nhãn dán xã hội gắn lên số phận: Thằng Điếc.


Nguyễn Thanh Hải

From: thivanle1569@gmail.com

 

READ MORE - THẰNG ĐIẾC - Truyện ngắn Nguyễn Thanh Hải

TRĂNG Ở LẠI – Thơ Tịnh Bình

 


Bữa thu đi
Chiếc lá vàng bịn rịn
Giấc mơ sương
Bèo bọt kiếp phù trầm
Trôi chầm chậm
Muôn đời không phương hướng
Vạn nẻo trời
Vạn lối phía mây bay
 
Thương lầm lạc
Cánh chim nào biệt xứ
Gót phiêu du
Đâu là chốn quê nhà
Chiều xuống thấp
Sầu chi cơn nắng quái
Ngập chân ngày
Còn vọng tiếc hoàng hôn
 
Trăng ở lại
Trên vòm trời xa ngái
Bấc trở mùa
Chao chát phía thu đi
Đêm mở mắt
Trên cành sương lệ ướt
Soi gương hồ
Úp mặt lá sen khô...
 
Tịnh Bình
       
READ MORE - TRĂNG Ở LẠI – Thơ Tịnh Bình

TƠ LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


 

Tơ Lòng
 
1.
Nhớ thời mình có nhau rồi
Trăm năm thề hẹn một đời tóc tơ
Anh giờ nửa tỉnh, nửa mơ
Nhớ thời dệt mộng, ươm tơ… tình nồng
Nắng nghiêng rơi vạt áo hồng
Áo cài hoa nắng bềnh bồng mông lung
Lời yêu em nói ngập ngừng
Để cho anh hóa người dưng hôm nào
Trong vòng tay ấm nôn nao
Mắt đen lung liếng ngọt ngào lời em
Hôn lên đôi cánh môi mềm
Hôn rồi, hôn nửa, hôn thêm… ấm lòng
Em đưa tay ngắt nụ hồng
Hoa chanh, hoa bưởi ướp nồng ngón tay
Bên nhau, ngày đã cạn ngày
Trời tuôn mưa bụi lây rây đường về…
 
2.
Em giờ xa xứ, xa quê
Hỏi em còn nhớ lời thề tình yêu
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao năm thương nhớ, bấy nhiêu tình nồng
Em đi về phía phiêu bồng
Chỉ xin gìn giữ tấm lòng, con tim
Người chờ chim Nhạn đưa tin
Thuyền về tới bến mà tình lặng êm
Nỗi đau trầm tích rồi em
Hồng hoang, thiên địa say mèm chênh chao
Chuyện tình giờ đã xanh xao
Gói vào miền nhớ, cất vào cõi mong
Trời cho bảy sắc cầu vồng
Người về nhặt nắng đem hong tơ tinh
Bỗng dưng lại muốn thất tình
Yêu người xa xứ… đinh ninh một lòng…
 
                       Nha Trang, tháng 01. 2026
                                Lê Kim Thượng

READ MORE - TƠ LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng

Friday, January 2, 2026

PHIÊN CHỢ NGÀY CUỐI NĂM - Thơ Nguyễn Văn Trình

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình

Phiên chợ ngày cuối năm 

Nguyễn Văn Trình                            

 

Phiên chợ ngày cuối năm

vui tươi, rộn rã

tiếng nói cười râm ran

khắp một vùng huyên náo

ngày xuân gõ cửa trước thềm

cô bán hàng chào mời đon đả

hàng hóa la liệt bày ra…

Hoa xuân choáng ngợp, ngập tràn lối đi

đào, mai, lan, cúc…rạng ngời sắc xuân

tranh Đông Hồ, còn tươi màu mực cổ

hoành phi câu đối gợi niềm xa xưa

trái cây chợ tết, thêm phong phú

bưởi, cam, xoài, quýt… ươm vàng

sầu riêng, nhãn tím, dừa xiêm ngọt ngào

vú sữa, măng cụt dịu dàng hương xuân…

  

Bên này rau củ, muối dưa

su hào, bắp cải, dứa thơm, mùi tàu  (1)

cà chua, ớt tỏi nồng cay

sắc màu trái, quả lung linh ưa nhìn…

kia là những xấp lá dong

từ trong rừng thẳm, nhọc nhằn về đây

lạt giang gói bánh chưng dày

miến dong  mộc nhĩ, là màu nhớ nhung

tôm cua, cá, thịt …cho đầy vị xuân

nhang đèn đồ mã, cúng đêm giao thừa

con gà trống thiến, để dành đầu năm

bức tranh thư pháp, thêm phần tết xưa…

 

Phiên chợ ngày cuối năm vội vã

xôn xao người bán, người mua

náo nức người đi chợ tết

mẹ già lụm đụm

tay xách nách mang

thương con, thương cháu

sắm sửa đủ đầy, đợi tết đoàn viên…

ông cụ đeo đôi mục kỉnh

nheo nheo nhìn ngắm cành đào

ước ao có cành cắm tết

để minh niên, tấn lộc tấn tài

mấy đứa trẻ lon ton theo mẹ

mong sao có được mang về

món đồ chơi bằng nhựa

tay kiếm cung

múa cùng những đứa bạn xóm giềng

bày trò trận giả

trong ba ngày tết vui chơi

những cô gái má thắm, môi son

nụ cười duyên dáng

nghiêng nghiêng vành nón, ánh mắt nhìn

vai nặng trĩu gánh hàng chợ tết…

 

Phiên chợ ngày cuối năm dân giả

nông, mẹt, rỗ, rá…phơi đầy

thúng, mủng , cuốc xẻng, hái liềm

thớt, dao lỉnh kỉnh từ làng mang ra

chen bát, sành sứ Thanh Hà  (2)

Bát Tràng, Chu Đậu… đem ra trưng bày

trầu, cau, vôi thắm mặn mà

sắn, khoai, ngô, đậu, môn, cà …

điểm tô sản vật nông thôn quê nhà

nôn nao phiên chợ cuối năm

vẫn còn đậm nét, nặng lòng tết xưa …

 

                   Đông Hà, 2021

                   N.V.T.

                           nguyenvantrinh58@gmail.com

                        

(1) Dứa thơm, mùi tàu:  là những loại lá dùng trong gia vị nấu nướng.

(2&3) Tên các thương hiệu gốm sứ nổi tiếng của Việt Nam .

 

READ MORE - PHIÊN CHỢ NGÀY CUỐI NĂM - Thơ Nguyễn Văn Trình

TÌNH VIỄN XỨ - Song Ngàn

 


TÌNH VIỄN XỨ

(Thân tặng L.A.)

 Song Ngàn


Tôi tình cờ đọc được tản văn của em vào một buổi chiều cuối đông, khi thành phố tôi ở vừa lên đèn, tuyết mỏng phủ nhẹ trên bậu cửa sổ. Bài viết của em xuất hiện lặng lẽ trên Facebook, không ồn ào, không phô trương, như chính con người cô: nhẹ nhàng mà sâu thẳm. Tôi đọc chậm, từng câu, từng chữ, và rồi bất giác thấy cổ họng mình nghẹn lại. Dường như mỗi con chữ trong tản văn ấy không chỉ được viết bằng mực, mà bằng nhịp đập của một trái tim đã đi qua nhiều ngày sóng gió.

 

Lan viết như đang thì thầm, trải lòng với chính mình, nhưng tôi biết, ở đâu đó giữa những dòng chữ, có một phần dành cho tôi – người vẫn lặng lẽ dõi theo cô từ phương xa. Tôi thương Lan, như thương một đóa hồng viễn xứ: đẹp người, đẹp nết, đảm đang và kiên cường. Một đóa hồng đã nở rộ giữa xứ người, chịu nhiều sương gió, mà cánh cửa hạnh phúc dường như vẫn còn khép chặt, như thử thách sự nhẫn nại của trái tim.

 

Tôi và Lan là hai con người đến từ hai miền khác nhau của cuộc sống. Chúng tôi khác nhau từ mùi hương quen thuộc của ký ức, từ nhịp sinh hoạt hằng ngày, cho đến những sở thích tưởng chừng không thể giao nhau. Tôi quen với những buổi sáng lạnh, cà phê đen và nhịp sống công nghiệp đều đặn. Lan lại gắn bó với nắng, với gió, với căn bếp nhỏ ấm mùi cơm mới, và những buổi chiều thảnh thơi nghe thời gian trôi qua hiên nhà. Vậy mà, giữa muôn trùng khác biệt ấy, chúng tôi lại được gắn kết bởi một thứ keo vô hình mang tên yêu thương.

 

Thứ keo ấy không cần nhãn mác, không cần lời quảng bá. Nó bền bỉ theo năm tháng, dính chặt mọi khoảng cách, thích nghi với mọi khí hậu – từ Á sang Âu, từ cái nắng cháy da của mùa hạ đến cái lạnh tê người của mùa đông tuyết phủ. Có những ngày, chúng tôi chỉ kịp gửi cho nhau một tin nhắn ngắn ngủi, một lời hỏi han vội vàng, nhưng chỉ thế thôi cũng đủ để lòng tôi ấm lại, đủ để tin rằng ở đầu kia của thế giới, có một người đang nghĩ về mình.

 

Tôi không xem mình là bậc chân tu, cũng chẳng phải đấng cứu rỗi. Tôi chỉ là một người đàn ông bình thường, mang trong lòng những khuyết thiếu rất người. Nhưng trước Lan, tôi luôn muốn dành cho cô những gì dịu dàng và tử tế nhất mà đời người có thể trao. Tôi từng nghĩ, nếu cuộc đời bớt đi những biến động, nếu không có những khoảng cách địa lý và những nỗi lo cơm áo, tôi sẽ là người đưa tay cho Lan vịn khi trời trở rét, là người dắt cô bước chậm qua từng bậc thềm cửa nhà, cùng nhau sưởi ấm những ngày dài cô đơn.

 

Có những buổi tối, tôi ngồi một mình trong căn phòng yên tĩnh, nhìn ra phố vắng và tưởng tượng về Lan. Tôi hình dung cô trong gian bếp nhỏ, cặm cụi nấu ăn, tiếng dao thớt hòa cùng tiếng radio cũ. Tôi nghĩ đến nụ cười hiền của cô, đến cách cô lắng nghe người khác bằng cả sự kiên nhẫn và bao dung. Những hình dung ấy không làm tôi buồn, trái lại, chúng cho tôi thêm sức mạnh để đi tiếp những ngày xa cách.

 

Còn Lan, ở nơi quê nhà, vẫn sống cuộc đời của mình một cách lặng lẽ. Cô như cánh sen e ấp giữa sương mai, không phô bày rực rỡ nhưng vẫn tỏa hương theo cách rất riêng. Lan vui cùng gió và mây, cùng những niềm vui nhỏ bé đời thường. Cô viết, cô chia sẻ, và cô học cách chấp nhận những điều chưa trọn vẹn. Lan hiểu rằng, không phải bông hoa nào cũng nở đúng mùa, không phải hạnh phúc nào cũng đến đúng lúc mình mong.

  

Lan biết, rồi sẽ có một ngày, búp hồng ấy khép lại để chuyển sang một mùa khác của đời người. Cô không vội vàng, không thúc ép số phận. Cô tin vào sự an bài của thời gian, tin rằng những gì đủ duyên rồi sẽ tự tìm thấy nhau. Và ở đâu đó trong niềm tin ấy, hình ảnh tôi hiện lên như một điểm tựa bình yên, không ồn ào nhưng bền vững.

 

Tôi cũng mang trong lòng một linh cảm rất người. Tôi tin rằng, những kết nối chân thành không tự nhiên mà có, cũng không dễ dàng mất đi. Tôi tin rằng, nếu trái tim đủ kiên nhẫn, đủ bao dung, thì một ngày nào đó, những con đường tưởng chừng song song sẽ giao nhau. Khi ấy, tôi sẽ đến bên Lan, không phải để hứa hẹn điều gì lớn lao, mà để cùng cô đi qua những ngày tháng còn lại với sự thấu hiểu và trân trọng.

 

Tản văn của Lan khép lại, nhưng dư âm thì còn mãi trong lòng tôi. Ngoài kia, tuyết vẫn rơi, xuân vẫn đang đến rất gần. Ở hai phía chân trời, có hai con người vẫn đang sống trọn vẹn phần đời của mình, mang theo một niềm tin lặng lẽ: rằng yêu thương chân thành, dù muộn, vẫn sẽ tìm được cách nở hoa.

 

Tản văn khai bút – Xuân 2026

Song Ngàn

From: thivanle1569@gmail.com

READ MORE - TÌNH VIỄN XỨ - Song Ngàn

Truyện ngắn: HƯƠNG KHUYA - Trần Thị Lan Anh

Tác giả Trần Thị Lan Anh


HƯƠNG KHUYA 

Trần Thị Lan Anh

  

    Đêm buông xuống, chỉ còn nửa vầng trăng treo lửng lơ trên nóc nhà, soi nhẹ những bóng cây bên sân. Phố vẫn còn những cơn gió sớm, lùa qua khung cửa, kéo theo mùi hoa và lá, khiến lòng tôi bâng khuâng, vọng chờ. Trong căn nhà nhỏ của mình, hương khuya giấu dưới tấm rèm, như giữ một tín hiệu mềm mại, chỉ dành riêng cho một ai đó chưa tới.

 

Tôi vẫn nhớ những ngày xưa, khi còn bận rộn với công việc và những trách nhiệm đời thường, vẫn có một lửa xuân âm thầm cháy trong lòng. Lửa ấy không dữ dội, mà dịu dàng, đủ để nhắc tôi về những cảm xúc đã từng, những mùa hoa đã qua, những nhịp tim từng rộn rã vì một niềm tin đơn sơ. Ba mùa nhụy biếc đã sang trang, cành xanh vẫn giữ nhịp, lá vàng vẫn chưa quen, nhưng tôi đã học cách an yên với thời gian và chính mình.

 

Ngôi nhà tôi đang sống không gấm vóc, không khoe mẽ; giường hoa vẫn để nửa che bóng mình, như giữ lại một phần riêng tư của cuộc đời. Tôi đã từng lỡ để sai màu, tựa vào những gốc cây tưởng bền hoài, để rồi nhận ra rằng tuổi trẻ cũng như nhụy hoa, đôi khi phai nhạt không vì thiếu yêu thương mà vì chưa đủ thời gian để lớn. Tôi vun hết những ngọt mềm, nhưng cây không chịu lớn, thời gian mỏi thêm, để rồi tôi học cách chấp nhận, học cách kiên nhẫn và tự vun xới cho cuộc đời mình.

 

Hai mươi bốn năm trôi qua, gió dập đầy, hương hoa rã nửa, phai bay nửa. Tôi đã đổi lối, tìm đến sự an bình. Trăng soi lại sáng, gương mình lại trong, và tôi nhận ra rằng, việc tròn, con vững, lòng không vướng gì – chỉ còn thiếu một vòng cánh vai. Một người tri kỷ, một đôi vai để dựa, không phải là mộng tưởng xa xôi, mà là điều đời thường, đủ để làm dịu đi những nhọc nhằn và những nhớ nhung âm thầm.

 

Sáng mai, tôi sẽ lại dậy sớm, tự tay pha trà, nhón vài chiếc bánh khô trên kệ, nhìn ra phố vắng. Mùi trà ấm hòa cùng hơi sương còn đọng trên lá cây khiến tôi cảm thấy từng khoảnh khắc giản dị cũng đủ vun đắp cho tâm hồn. Tôi bước ra phố, lắng nghe âm thanh cuộc sống, nếm trải từng hương vị đời thường, từ mùi bánh mì nướng đến tiếng trẻ con ríu rít trên sân chơi, để thấy rằng tình yêu, hạnh phúc và bình yên đôi khi không ở đâu xa, mà nằm ngay trong những điều giản dị nhất.

 

Chiều xuống, khi phố xá bắt đầu vắng người, tôi lại cùng con đi dạo quanh công viên gần nhà. Tiếng chim hót muộn và gió thổi qua hàng cây như thì thầm rằng dù cuộc đời có nhiều sóng gió, vẫn luôn có những khoảnh khắc bình yên cho mẹ và con. Tôi kể cho con nghe những câu chuyện nhỏ về những cô bé, cậu bé dũng cảm vượt qua thử thách, để con hiểu rằng trong những đêm tối, mẹ và con đều là những chiến binh, cùng nhau đi qua mọi khó khăn.

 

Đêm đến, khi con đã ngủ say, tôi ngồi bên khung cửa sổ, viết nhật ký, ghi lại từng giây phút vất vả và niềm vui nhỏ bé. Ánh đèn vàng rọi xuống trang giấy như muốn nhắc nhở tôi rằng, mỗi nỗi đau, mỗi giọt mồ hôi, đều sẽ trở thành sức mạnh, là hành trang cho con trên đường đời sau này. Tôi nhận ra rằng, mỗi mùa hoa qua đi, mỗi đêm dài trôi qua, đều dạy tôi cách bình thản với cuộc đời, cách yêu thương mà không vội vàng, và cách để trái tim đón nhận tri kỷ đúng lúc.

 

Trong ánh sáng mờ ảo của trăng khuya, tôi thấy mình vừa mạnh mẽ vừa mềm mại, vừa tự do vừa có trách nhiệm với chính trái tim. Mọi khoảnh khắc đều là bài học nhân sinh, dạy tôi cách sống bình thản, cách yêu thương mà không vội vàng, cách đợi chờ mà vẫn biết vun xới cuộc đời. Và tôi tin, ai đó phù hợp sẽ nhận ra mùi hương thầm lặng của đời tôi, nhận ra nhịp tim và những gì tôi cất giấu, và đôi bên sẽ cùng nhau đi qua những mùa hoa tiếp theo, không gấp gáp, không áp lực, mà bằng sự đồng điệu tinh tế.

 

Hương khuya, trăng soi, gió thổi – tất cả dường như nhắc nhở rằng tình yêu và nhân sinh là những điều giản dị, nhưng lại sâu sắc và bền vững. Tôi giữ riêng mình, nhưng không đóng kín trái tim; tôi mở lòng, nhưng vẫn biết trân trọng những gì mình đang có. Cuộc đời này, với tôi, chính là những khoảnh khắc ấy – những hương khuya, những cánh trăng, những nhịp tim, những trải nghiệm và những duyên lành được đan kết khéo léo, đủ để tôi thấy bình yên và trọn vẹn.

 

Và khi đêm khuya trôi qua, tôi biết rằng mọi chờ đợi đều có giá trị, mọi trải nghiệm đều là bài học, và khi tri kỷ xuất hiện, chúng tôi sẽ gặp nhau không chỉ bằng tình yêu, mà còn bằng sự thấu hiểu, sự đồng cảm và những gì chân thật nhất của đời người. Hương khuya vẫn còn vương trên rèm cửa, nhắc nhở tôi rằng, đời sống và tình yêu, khi được nuôi dưỡng bằng lòng kiên nhẫn và sự chân thành, sẽ trở thành ánh sáng dẫn lối, dù ở giữa đêm khuya hay giữa những mùa xuân chưa tới.

Đêm viễn xứ 2025

Trần Thị Lan Anh

From: thivanle1569@gmail.com

READ MORE - Truyện ngắn: HƯƠNG KHUYA - Trần Thị Lan Anh