Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 13, 2012

QUẢNG TRỊ VÀ TÔI - Bút ký Nguyễn Nguyên An

 Nguyễn Nguyên An


Từ Huế, tôi đạp xe ra Quảng Trị, dắt xe vào xóm trưa vắng vẻ. Mặt trời đã ở đỉnh cao, giội sức nóng xuống vùng cây lá lơ thơ. Cây vườn hồi sinh mười mấy năm trở lại đây chưa kịp tròn bóng mát. Tôi xa Quảng Trị năm mười một tuổi, về thăm khi đã gần năm mươi. Thời gian chưa đủ bãi bể hoá nương dâu, nhưng sức tàn phá của chiến tranh, biến cái xóm nhỏ của tôi thành xa lạ, đến đất đai cũng chẳng còn chút thân quen. Tôi trôi vào tâm trạng buồn bã, lạc lõng ngay nơi chốn mình đã sinh ra.

Dòng hồi tuởng như chảy từ cổ tích, hiện trong tôi chấp chới những người thân quen, có người thành thiên cổ. Bác Đỗ Sung - cha Thạch - bạn tôi. Tính bác khoan hoà, nhân ái. Những lần tôi hoang nghịch, ba tôi bắt nằm xuống đất, trót roi mây vào đít là bác đứng ra xin hộ cho tôi:

Anh xin chú, cho cháu mắc nợ lần này, lần sau đánh gấp đôi - Bác nhìn tôi nháy mắt - Đứng lên xin lỗi ba rồi đi rửa mặt, nhanh!

Tôi khoanh tay xin lỗi ba tôi. Cám ơn bác. Sau đó thút thít đi trong nhuề nhoà nước mắt, xuống bếp. Tai tôi vẫn nghe ba tôi dằn tức bực, phân bua với bác Sung:

- Anh coi, đêm mô nó cũng trốn ra rạp Đại Chúng coi cọp xi-nê cao bồi, xi-nê thần thoại Ấn Độ, rồi bắt chước cao bồi quăng dây vào con người ta đang ngồi sau yên xe đạp và chạy theo giựt dây như phi ngựa, bố thằng bé không hay biết vẫn đạp nhanh, dây trặt thằng con ông ta té oạch giữa đường. May tôi thấy chớ không ba thằng bé đánh nó chết rồi. Tôi không đánh nó có ngày người ta đánh nó toi mạng.

Bác Sung ngồi nghe, ve vuốt ba tôi ít câu rồi về nhà.

Gần đầu xóm Heo, nơi tiếp giáp đường Quang Trung thuộc phường Đệ Nhị, có ông Tẩu. Ông già lụ khụ rồi mà còn làm cái nghề tôi cho là gớm ghiếc, nhưng luôn gợi tính hiếu ký lũ trẻ chúng tôi. Ông nuôi nhiều đĩa trâu trong ống tre, giam dói hàng tháng. Ai bị nhọt đều đến nhờ ông lấy máu độc ra. Ông chúc đầu ống tre xuống nơi nhọt sưng tấy, con đỉa đói hút căng phồng bụng máu, ông rứt đỉa ra, thả nhúm muối lên các cái thân nhớt lầy đen láng ấy, con đỉa quằn quại phun máu ra, chờ đỉa xép ve, ông lại cho đỉa vào ống tre cất giữ, dùng lần sau. Ông thường đuổi, doạ chúng tôi, chúng tôi tò mò không chịu đi, thỉnh thoảng ông bắt đựơc một đứa, giả vờ cho đỉa hút máu...thằng cu vùng ra được, mặt tái lét chạy te, vừa chạy vừa khóc hu...hu...về nhà. Lũ chúng tôi đứa nào cũng sợ ông Tẩu, nhưng lại thích lân la đến gần cái thân cọm rọm, hôi hôi của ông vì ông có nhòêu ngón nghề đễ sợ mà lạ đời luôn hấp dẫn đầu óc non trẻ chúng tôi.

Còn bác Mót cạnh nhà bác Sung dễ nực cười bởi tưóng người phốp pháp, da thịt mát mẻ, béo tròn hin một cục. Nhà bác làm nghề mổ lợn. tính vác xuề xoà, luôn vui tươi; trên khuôn mặt nần nẫn thịt của bác không hề bợn chút phiền toái. Bác Mót vô tư, tự nhiên như cây cỏ, buổi sáng bác chạy xuống hói đi đồng, khi nào bác cũng đợi Tào Tháo đuổi mới chịu lạch bạch chạy...và thả lại trong tai bọn chúng tôi một tràng...chúng tôi đỏ mặt nhìn nhau cười rúc rích.

Tôi đang lẩn thẩn chìm trong dĩ vảng giữa ngày trưa đầy nắng. Gặp anh trung niên dong dỏng cao đi tới, tôi dón và hỏi thăm nhà bạn bè. Anh nhiệt tình cho biết người còn, nguời mất, người đi xa, nguời ở gần, nhưng không còn ai ở xóm Heo náy cả. Anh mới ở sau chia tỉnh, nhưng anh biết những người bạn cũ của tôi vì cũng là bạn anh thời học trường Nguyễn Hoàng gần bến xe. Anh nói:

- Tụi nó ở ngoài Đông Hà ơ. Thạch đóng thùng ô tô, làm nước đá. Quang nhà thơ bán cháo bột, anh ra hỏi anh em trên phường Năm ai cũng biết.

Từ giả anh tôi ra Đông Hà. Lủi thủi một mình tìm bến sông xưa sang sông Thạch Hãn. Nơi mẹ tôi tắm tắp những ngày hạ, cùng bạn gái trang lứa mười bảy, mưới tám tuổi vẫn tắm truồng, bởi thời ấy thế hệ mẹ ngây thơ trong sáng, không biết tụi tây đóng đồn gần đó, tranh nhau bắt ống nhòm, nhòm...Và cũng là nơi tôi ngụp lặn thoả thích trong lòng nước mát, quên những cơn gió Lào bỏng rộp rôm sảy trên da. Bến tắm nhiều đá cuội và nước trong veo. Dòng sông chảy dịu dàng mát ngọt vào đời tôi. Sau này tôi hụp lặn bất cứ dòng sông nào, tôi cũng nhớ dòng sông Thạch Hãn, một nỗi nhớ như nhớ bà mẹ quê hương, luôn trào dâng niềm nuối tiếc ngậm ngùi...Tôi đứng bần thần trên bến sông xưa, nay cũng mất sạch dấu vết, chỉ còn bến đò ngang, một chiếc đò rời rạc đưa khách sang sông. Sát bến đò là khu chợ Quảng Trị. Khu chợ sang trọng này xây dựng từ đổ nát điêu linh, trổi mình nghiêng bóng lung linh bên dòng Thạch Hãn, phác một nét hoành tráng ven sông, hợp với tính cách ngoan cuờng và cần cù của người Quảng Trị. Dắt xe xuống đò, tôi thả hồn theo từng mái chèo khoan nhặt của bác lái đò, đò chưa cặp bến Nhan Biều mà lòng tôi đã chạm vào kỷ niệm...Dải biền bên kia sông thuở xưa ngun ngút rừng bắp, bây giờ mơn mởn rau, đậu, cải...Dọc biền này hàng năm đuợc những cơn lụt tô bồi phù sa, mảnh đất đa dạng sinh thái phồn tạp, thổ nhưỡng màu mỡ, rất tốt cho các loại hoa màu và cả dựng vườn cây trái lâu niên. Hồi đó tôi và em trai kế tôi cùng lũ bạn xóm bơi qua Nhan Biều bắt dế và bẻ trộm bắp non, bị mấy thằng chăn trâu bên đó rượt đuổi. Khi bơi về, em tôi bị chuột rút chìm nghỉm chỗ sâu, tôi lặn theo cứu em nhưng bị uống nước, ngộp thở đành trồi lên la: "cứu...cứu em tôi với...". Một anh thanh niên đang tắm sông đã cứu em tôi, vác em tôi chúc nguợc đầu xuống đất chạy quanh cho nước ộc ra và sau đó làm hô hấp nhân tạo. Em tôi thoát chết đuối. Tôi bị bầm mông vì trận đòn của ba tôi! Cho tới bây giờ tôi chưa gặp lại anh ấy. Nhưng tôi mang ơn cứu tử của anh, người con Quảng Trị. Anh ơi, bây giờ anh ở đâu? Anh cho tôi gửi đến anh lời cảm tạ chân thành vang vọng từ đáy lòng tôi giữa chốn mênh mông sông nứơc này.

Trước đây mỗi khi tôi ngang qua Đông Hà, tôi có cảm giác thị xã đầy bụi và nắng; khu chợ lấp thấp vạt tôn gỉ, ngoi lên, tụt xuống không lớp lang thứ tự bên sông Hiếu. Nay, chợ Đông Hà mới xây bề thế tầng cao, người người nhộn nhịp trong cảnh sầm uất. Và, Đông Hà bừng lên trong không khí xây dựng, nhà nhà lộng lẫy. Đông Hà cũng từng tang thương, sập nát dưới mưa bom, bão đạn, hằng năm còn trần thân, với khô khát, bão lụt khắc nghiệt của thiên nhiên. Người Quảng Trị đã và đang chung lưng đấu cật, cung chia gian nan, khổ hạnh dựng lên trên mảnh đất này một thành trì của nhân cách của lòng dũng cãm và sự chịu đựng trường kỳ, dẳng dói một cách đáng nể, để hôm nay có một thị xã trẻ trung với vóc dáng hiện đại, đầy sức sống, phồn thịnh và chan chứa tình người. Cây xanh trên các ngã đường đang ngấp nghé xanh, mai đây sẵn sàng xoè tán mát cho người. Thị xã đầy bụi và nắng sẽ theo chuyến tàu quá khứ chạy chìm vào quên lãng.

Tôi tìm nhà các bạn tôi không mấy khó. Các bạn ngần này tuổi đầu ai cũng có chút danh thơm loang trong thiên hạ. Thạch cẩn trọng đăm chiêu. Quang dận dày bão tố, khuôn mặt sần sùi của Quang nói lên một quãng đời khổ ải. Ba đứa chúng tôi quây quần chuyện vãn suốt buổi. Nhắc cho nhau biết những nhau biết những đứa đang ở rải rác các tỉnh. Thành phố miền Trung như Nguyễn Thái Sơn bán cà phê ở quán Thiên Đàng Huế. Phạm Đình Quát nhà báo, bác sĩ Nguyễn Thái Viện dịch tễ Buôn Ma thuột... đều sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị. Đến nay đứa nào cũng có sản nghiệp khấm khá, chỉ tôi và Quang còn xất bất chuyện cơm áo. Khi chưa gặp nhau, tôi tưởng chúng tôi sẽ ùa vào nhau nói năng sỗ sã cho thoả lòng bao năm xa cách. Nhưng khoảng cách gần bốn mươi năm gặp lại kìm chúng tôi giữ gìn ý tứ với nhau. Ai cũng lớn cả rồi, đâu dám buông tuồng suồng sã như thuở thiếu thời. Tôi ăn ở nhà bạn nào cũng dược nhưng ở lại với ai thật là khó xử. Ở Quang buồn Thạch. Ở Thạch sợ mang tiếng chê Quang nghèo.Thôi thì rũ Quang ngủ chung với tôi ở nhà Thạch. Đêm ấy, khi chui mùng lên đi văng ngủ, tôi định chiếm chỗ ở sát tường, giành cho tôi một góc tự do, ai dè Quang cũng ngại nằm giữa, đã giành chỗ sát tường. Thuở nhỏ, chúng tôi ôm nhau ngủ qua đêm là thường. Đây có phải thái độ tôn trọng nhau hay không? Tôi nhăn nhó nói với Quang :'' Ông cho tôi nằm trong đi ''.Quang cười hê... hê... ''Mình cũng thích nằm trong vì hay gác lắm, có gì gác vào tường ''. Đêm ấy, tôi không ngủ được. Xoay qua bên nào cũng ngại làm phiền bạn. Quang, Thạch cũng nằm thẳng tắp, im re, hai bạn cũng không ngủ được? Thì ra, con người càng lớn càng dè dặt nhiều điều. Năm tháng chồng chất, dạy người ta thận trọng trong quan hệ, đối đãi với nhau chừng mực và lễ nghĩa hơn.

Tạm biệt Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi, nơi đã sinh ra tôi lớn dậy làm người. Tạm biệt bạn bè quấn quýt một thuở, giờ này vẫn còn lưu luyến, thương nhau đến bạc đầu. Tôi đạp xe vào Huế lòng hân hoan...

N.N.A

Địa chỉ liên lạc: NGUYỄN VĂN VINH (NNA) -
 50 Trần Thái Tông, Huế -
Tel: 01688971486
nguyenan009@gmail.com

READ MORE - QUẢNG TRỊ VÀ TÔI - Bút ký Nguyễn Nguyên An

ÔNG HƯƠNG TỪ THIỆN - Lê Đức Việt

Hơn 31 năm làm chi hội trưởng chi hội chữ thập đỏ thôn, bằng tấm lòng nhân ái và bầu nhiệt tâm, ông đã mang đến niềm vui cho rất nhiều gia đình có hoàn cảnh nghèo khó, những mảnh đời bất hạnh. Đã 68 tuổi nhưng dường như bước chân của ông vẫn chưa dừng lại...


Ông Hương và hai đứa cháu 

Về thôn Thi Ông, xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), hỏi ông Võ Đình Hương “Chữ thập đỏ”, một người dân sốt sắng chỉ giúp: “Chú đi thẳng, qua trường THCS một quãng nữa là tới. Ở đây ai cũng quý ông Hương, ông ấy tốt và uy tín với dân làng tôi lắm”.

Căn nhà nhỏ của ông Hương nằm giữa một khu vườn rộng, trước sân nhà, những cây mai nở muộn ươm một màu vàng rực. Đón chúng tôi bằng nụ cười hiền, ông Hương bảo nếu tôi đến chậm thì có lẽ giờ này ông đã đi công chuyện. Hỏi ra mới biết, ngoài việc đang giữ chức Chi hội trưởng Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông thì ông còn là một thú y viên được bà con tín nhiệm.
Bên chén trà nóng, người đàn ông tóc đã hoa râm với dáng người quắc thước chậm rãi kể chuyện đời mình. Sinh năm 1944, từ nhỏ dù nghèo nhưng ông được gia đình cho theo học tử tế, và ông đặc biệt thông minh, học giỏi có tiếng thời bấy giờ. Năm nào ông cũng là học sinh giỏi toàn diện.

Những năm học ở Trường Nguyễn Hoàng ông là một trong những học trò xuất sắc của trường. Kỳ thi đại học năm 1971, ông xuất sắc đỗ cùng lúc hai trường đại học là Đại học Sư phạm, ngành Toán và Đại học Luật khoa Huế với số điểm cao. Ông quyết định học cả hai trường.

Năm 1974, ông tốt nghiệp loại ưu của Trường Đại học sư phạm Huế, còn Trường Đại học Luật khoa ông chỉ mới học đến năm 3 thì đất nước giải phóng nên ngừng học, chỉ được cấp chứng chỉ. Từ năm 1975 đến năm 1977, ông được phân về dạy môn Toán tại một số trường THCS ở huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế.

Sau đó, vì nhiều lý do nên ông xin nghỉ dạy học về quê ở thôn Thi Ông sinh sống, lập gia đình. Sau khi về quê ông làm ruộng, chăn nuôi để nuôi gia đình. Nhờ có vốn kiến thức rộng lại chịu khó ông làm ăn rất hiệu quả và trở thành một nông dân tiêu biểu.

Năm 1979, ông vinh dự được cử đi dự hội nghị nông dân sản xuất giỏi của tỉnh Bình Trị Thiên. Cùng thời gian này ông được tín nhiệm bầu vào làm ở bộ phận định mức của HTX Hải Vĩnh. Một thời gian sau, ông lại được bầu làm thêm chức Trại trưởng Trại giống chăn nuôi của xã Hải Vĩnh.

“Hồi đó trại giống xã Hải Vĩnh cùng với trại giống xã Triệu Thuận là hai trại giống lớn nhất tỉnh Bình Trị Thiên đấy. Trại giống xã tôi chuyên sản xuất lợn giống Móng Cái, cung ứng cho toàn tỉnh Bình Trị Thiên...”, ông Hương kể.

Lúc làm trại giống ông còn được cử đi học kế toán rồi kỹ thuật chế biến thức ăn chăn nuôi, công tác thú y do huyện Triệu Hải tổ chức. Làm trại giống một thời gian thì Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông thành lập, ông lại tự nguyện xin vào làm chi hội trưởng. Năm ấy ông 37 tuổi.

“Tuy làm nhiều việc nhưng tôi đều cố gắng sắp xếp để hoàn thành. Và công việc mà tôi chuyên tâm và dành nhiều thời gian nhất có lẽ là làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Tôi muốn dành sức lực còn lại cho công việc này, bởi người nghèo rất cần được sẻ chia, giúp đỡ. Họ cũng là bà con làng xóm, như là người thân của mình vậy...”, ông tâm sự.

Trong hơn 31 năm làm công tác từ thiện xã hội, ông không nhớ mình đã giúp đỡ được bao nhiêu người nghèo khó, bởi “làm từ thiện thì biết chừng nào cho đủ, ráng giúp được người ta bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu. Có lúc mình còn phải tự bỏ tiền túi ra giúp thêm, vì nhiều gia đình có hoàn cảnh tội nghiệp lắm”.

Như gia đình bà Võ Thị Quý, năm nay đã sắp bước sang tuổi 80 mà vẫn đơn thân nuôi người con tâm thần hàng chục năm. Hai mẹ con bà sống trong căn nhà nhỏ với mái ngói rệu rã, tài sản chẳng có gì đáng giá. Bà Quý lúc khoẻ còn đi mót lúa, làm thuê nhưng từ ngày đau yếu thì chẳng làm được gì.

Cám cảnh trước hoàn cảnh này, ông Hương đã vận động những tấm lòng hảo tâm giúp đỡ thường xuyên cho gia đình bà mỗi tháng từ 200- 300 nghìn đồng để sinh sống qua ngày. Vừa rồi, ông Hương cùng với hội viên chữ thập đỏ thôn cũng đã trực tiếp lợp lại mái ngói, làm thêm tầng cấp trước hiên nhà rồi tặng quà cho gia đình bà Quý đón tết.

Hay như bà Bùi Thị Gấm ở đội 5, thôn Thi Ông sống một mình trong căn nhà được thưng bằng phên tre, bạt ni lông tạm bợ lại đau ốm triền miên. Tuy có 2 con gái nhưng do nghèo quá nên cũng bỏ xứ đi làm ăn rồi lấy chồng xa, chẳng đỡ đần bà được gì. Trước hoàn cảnh đó, vào năm 2004, ông Hương kêu gọi người dân trong thôn quyên góp được 600 nghìn đồng, riêng cá nhân ông vận động bạn bè thêm 200 nghìn đồng giúp đỡ bà Gấm.

Đó chỉ là 2 trong số hàng nghìn trường hợp được ông và Chi Hội Chữ thập đỏ thôn giúp đỡ. “Ngoài giúp đỡ tiền, anh em chúng tôi còn sữa chữa nhà, thường xuyên tặng quà, thăm hỏi những gia đình này, bởi họ gần như không còn khả năng lao động, hoàn cảnh lại quá bi đát. Trong hoạt động của mình, chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt cho những mảnh đời như vậy”, ông Hương nói thêm.

Hiện toàn thôn Thi Ông có khoảng 45 hộ cần sự giúp đỡ, trong đó cần giúp đỡ thường xuyên là 12 hộ. Đó là những hộ nghèo, neo đơn, người tàn tật, người nhiễm chất độc da cam có hoàn cảnh khó khăn... Ngoài những gia đình này, Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông còn thường xuyên tham gia cứu trợ bão lũ, thăm hỏi những trường hợp tai nạn, ốm đau.

Với lòng nhiệt tình và những bước chân không mệt mỏi của mình, ông Hương đã mang đến niềm vui, sự an ủi cho rất nhiều mảnh đời kém may mắn. Những đóng góp thầm lặng và ý nghĩa ấy của ông đã được Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, UBND tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, huyện và các ban, ngành nhiều lần tặng kỷ niệm chương, bằng khen, giấy khen như một sự ghi nhận đầy trân trọng.

Lúc chia tay, tôi hỏi, hồi ấy bác học cao như vậy sao không đi dạy học hay làm việc gì đó nhàn nhã hơn mà về quê làm ruộng, chăn nuôi, làm từ thiện? Ông Hương lặng im trong chốc lát rồi tâm sự: “Làm gì không quan trọng, miễn sao thấy lòng thanh thản và tìm được niềm vui. Đã chừng này tuổi nhưng chưa bao giờ tôi thấy hối hận vì quyết định của mình, bây giờ tôi chỉ mong có sức khoẻ tốt để tiếp tục công việc đang làm. Thế là vui và hạnh phúc rồi”.


Lê Đức Việt 
Theo Báo Quảng Trị
(Võ Văn Hoa chuyển đăng)
READ MORE - ÔNG HƯƠNG TỪ THIỆN - Lê Đức Việt

Monday, March 12, 2012

Hoàng Yên Linh - KÝ ỨC ...


Ai lên Cam Lộ chợ Phiên
Ai về chợ Sãi , Kẽ Diên thì về ...


Tôi xa xứ nhọc nhằn ký ức ...
Khói đốt đồng ngai ngái hoàng hôn
Ấm chè xanh nồi khoai sắn luộc
Thương chị tảo tần
Gánh nặng chồng con ...

Lụt trắng đồng
Nắng bổng bàn chân
Bếp rơm chiều khói bầm mái rạ
Gió mênh mông
Cồn cát mênh mông ...

Đêm Tháp Mười ngọt làn hơi vọng cổ
Đôi mắt em lúng liếng điệu huê tình
Nhớ chén rượu lang Kim , mắt biếc
Nắng Đông Hà mưa trắng núi Khe Sanh .

Có dòng sông trôi mãi
Đi đến cuối biển trời
Có một thời tuổi dại
Theo con nước đầy vơi .

Ơi một thời sông Hiếu
Tắm mát cả đôi bờ
Con sông tràn kỷ niệm 

Vổ về những ước mơ .

Vẫn con sông ngày ấy
Đời xuôi mãi chưa về
Theo tháng ngày bươn chải
Biền biệt chốn sơn khê .

Ai gọi đò sông Hiếu
Tình quê đến não lòng
Giọng hò ơi thê thiết
Trời phương Nam mênh mông .

Vẫn con đò bến đợi
Với sông nước mây trời
Có một người xa xứ
Ngậm ngùi tóc trắng rơi.

 
HOÀNG YÊN LYNH*
                                                           


                                                            Hoàng Mỹ Lynh
                                                             Đông Hà 1952 
                                               Sinh sống tại Lâm Đồng
                                               hoangmylinh@live.com

Ảnh đầu trang: Sông Hiếu - Ảnh của Phạm Văn từ trang Sites.google.com
READ MORE - Hoàng Yên Linh - KÝ ỨC ...

LỤC BÁT - Hoàng Văn Chẩm


            
       Nửa mùa xuân qua

Một ngày như không có em
Bên lề  xa khuất chợt thèm tiếng thơ
Cuối ngày xin một giấc mơ
Tan theo mộng mị một bờ sông quê.

Còn đây một tối đi về
Áo xưa thầm lặng vai kề gối hoa
Thì thầm nữa mùa xuân qua
Em chưa giấu kín phôi pha cuộc chờ

Buồn theo nhịp bước bơ vơ
Bỏ thương nhớ lại tóc tơ muộn màng
Nữa xưa còn chút mênh mang
Nữa nay nỗi nhớ lỡ làng mùa trăng.



Mắc cạn một mùa xuân

Nắng cho em bén hương nồng
Xuân cho môi thắm giữa mông mênh tình
Tha hương một cõi riêng mình
Góc đời em cạn thác ghềnh bể dâu.

Đêm ngày chia nhau nông sâu
Em về chia hết bạc đầu phôi pha
Ta về mắc cạn mùa hoa
Bỡi thương nhớ một bước xa cuối trời.....

Xuân xưa mắc cạn một lời
Chia đôi con mắt một thời tóc bay
Không nhau giữa những tháng ngày
Xuân qua còn lại tỏ bày tình xưa.


Hoàng Văn Chẩm
                             hoangvancham@yahoo.com



READ MORE - LỤC BÁT - Hoàng Văn Chẩm

THƠ HAIKU TƯỞNG NIỆM MỘT NĂM SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN – Lê Đăng Mành



Đất Trời mịt mù
Xuân phân tàn tạ
Cứa bờ HAIKU !



TÂM động Phù hoa
Mực pha thảm họa
Xước nét HAIGA !*



Đất Tâm sân hận
Gieo phủ Phù Tang
………Hải chấn !



Năm sau phục hồi !


Vẫn rực đông phương
Từ bùn vươn dậy
Một cành hướng dương !


Tưởng niệm một năm sóng thần ở Nhật Bản 
(11/3/2011- 11/3/2012)
                                                       ledangmanh@gmail.com






*Tranh haiga của Họa sư KIKAKUDO (giản ước, nhẹ nhàng, trống vắng). Xem haiga sẽ có ấn tượng như đọc haiku !



READ MORE - THƠ HAIKU TƯỞNG NIỆM MỘT NĂM SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN – Lê Đăng Mành

HỌA SĨ LÊ THỊ HẢI : HỌA SĨ CỦA TRANH LỤA



Họa sĩ Lê Thị Hải sinh năm 1985 tại Quảng Trị.
Tốt nghiệp ngành Hội họa chuyên khoa Lụa 
- Đại học Nghệ thuật Huế. 
Hội viên hội Mỹ thuật Thừa Thiên Huế. 
Hiện đang làm việc và sáng tác tại Huế.

Triển lãm Nhóm:

+ Năm 2006 - 2008:
- Triển lãm sinh viên ĐH Nghệ thuật Huế tại trường ĐHNT Huế, Số 10 Tô Ngọc Vân, Huế.
- Năm 2007 Triển lãm Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường Mỹ thuật Huế.

+ Năm 2009:
- Tháng 9: Triển lãm Nghệ thuật Nhóm Tác giả tại Huế do Trung tâm NCTH Âm nhạc - Mỹ thuật Đại học Mỹ thuật Huế tổ chức tại Khách sạn Celadon Palace Huế tại 105A Hùng Vương, Huế
+ Năm 2010:
- Tháng 06: Triển lãm tranh Cổ động "Ngày môi trường thế giới" tại NVH Trung tâm tỉnh Thừa Thiên Huế, 41 Hùng Vương, Huế
-Tháng 06: Triển lãm "Thầy và trò" Festival Huế tại Gallery của họa sĩ Vĩnh Phối -12 Bạch Đằng, Huế.

+ Năm 2011:
- Tháng 01: Triển lãm "Xuân Tân Mão 2011" tại Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế.
- Tháng 04: Triển lãm mỹ thuật " Nguyện cầu cho nạn nhân động đất  tại Nhật Bản" tại Liên hiệp các Hội VHNT TT Huế.
- Tháng 04: Triển lãm "Của nhà" tranh lụa, sơn mài Festival Huế 2011 tại 15 Lê Lợi Huế.
- Tháng 08: Triển lãm Mỹ thuật Khu vực Bắc miền Trung lần thứ XVI - 2011 tại Hội Mỹ thuật Quảng Bình (Đồng Hới - Quảng Bình).
- Tháng 09: Triển lãm Hội chợ du lịch Quốc tế ITE tại Khách sạn Kumho InterContinental Asiana Saigon (13/9/2011). Địa chỉ: đường Hai Bà Trưng, Quận1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 09: Triển lãm Chương trình Sen Việt Nam (17/9/2011) tại Nhà hát Bông Sen Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 09: Triển lãm trưng bày Kỷ niệm 50 năm Nhà hát Bông Sen (18/9/2011) tại Nhà hát Bông Sen, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 12: Triển lãm Mỹ thuật mừng ngày truyền thống Mỹ thuật Việt Nam Ngày 10 tháng 12 Năm 2011 tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán 15 Lê Lợi, Tp. Huế.

- Năm 2012:
+ Tháng 01: Triển lãm Mỹ thuật xuân Nhâm Thìn tại Hội Mỹ thuật T.T Huế - 26 Lê Lợi, Huế.
+ Tháng 03: Triển lãm tranh cổ động chào mừng Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI (2012 - 2017) do Hội Liên hiệp Phụ nữ Thừa Thiên Huế phối hợp với Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, số 07 Lê Lợi - Huế.

Liên hệ: 
Họa sĩ Lê thị Hải
Email: lehaiartist@gmail.com
Điện thoại: +84.988.53.30.30
website: http://duongkinhart.com

TRANH CỦA HỌA SĨ LÊ THỊ HẢI

Hát Bội Trao Duyên



Cửu Đỉnh Huế


Dừng Chân Ven Đường


Nét Đẹp Xuân Thì


Nỗi Đau


Suy Tư
READ MORE - HỌA SĨ LÊ THỊ HẢI : HỌA SĨ CỦA TRANH LỤA

Trang thơ Đường của Sông Thu, Sonata, Võ Làng Trâm, Thu Vân


Cửa hàng hoa ngày 8 tháng 3
Rực rỡ khoe màu muôn sắc hoa
Ruy băng phất phới cánh nơ quà.
Ra vào tấp nập như đi hội
Mua bán lao xao tựa hát ca.
Người trẻ đắm say hồng đỏ thắm
Kẻ già mê mẩn ly kiêu sa.
Riêng ta chọn một cành lan tím
Về cắm thư phòng, nhớ bạn xa....
Sông Thu


BÀI HỌA
Nói với tháng ba

Đẹp ngày xuân mộng rạng muôn hoa
Thân ái trao nhau những món quà
Bóng nguyệt trong veo - trong tiếng hát
Cành hồng thắm sắc - thắm lời ca
Lung linh phố thị dòng trăng rót
Rực rỡ đường làng chuỗi nắng sa
Gió trải hương nồng thơm nụ biếc
Muộn phiền xin gửi khói bay xa
Sonata (Trần Hằng)
           

Thông cảm giùm anh

Sáng nay dạo bước phố hàng hoa 
Thấy lắm người mua để tặng quà
Mấy cụ ga lăng đùa đệm tếu
Các anh vồn vã nói pha ca
Nam nhi đắc chí  tay hào phóng
Phụ nữ  kiêu kỳ dáng nhạn sa
Bởi dịp xa nhà đành nợ vợ
Mong sao nàng hiểu cảnh chồng xa . . .
Bình Dương ngày QTPN
Võ Làng Trâm
             

Một thời

Sắc nước, hương trời cũng kiếp hoa
Thanh danh khắp cõi được làm quà
Sáng ra phơi phới vui thi hội
Tối đến rã rời bặt giọng ca
Kiêu hãnh một thời khoe sắc thắm
Ngậm ngùi phút chốc giọt châu sa
Còn thời, còn sắc còn tham vọng
Hết nghĩa, phai tình chịu xót xa
Thu Vân



READ MORE - Trang thơ Đường của Sông Thu, Sonata, Võ Làng Trâm, Thu Vân

Thursday, March 8, 2012

THĂM QUÊ - DÒNG SÔNG QUÊ - Trương Nguyễn


THĂM QUÊ


về quê xưa tim tím nhuốm hoàng hôn
mây xám đè lên đỉnh núi
đất ...
phần nhiều đá sỏi
cánh đồng làng loang lổ 
dấu đạn bom

đồng bào tôi lam lũ sớm hôm
một đời...lưng chai vai phỏng
dù gian lao vòng tay vẫn rộng
đã vun bồi bao thế hệ lớn khôn

xa quê man mác nỗi buồn
trên da thịt còn thơm mùi khoai sắn
giọt mồ hôi mang chung vị mặn
cửa Tùng-cửa Việt quanh đây

bao năm xa quê
về lại mấy ngày
ôm mặt đất thương người đi trước
bước phiêu linh nửa đời xuôi ngược
quê hương ơi...
                   đau lắm
                               dấu phong trần .




DÒNG SÔNG QUÊ

đứng trên cầu
bắc đôi bờ thuở ấy
ta lắng lòng soi bóng nước sông xanh
dòng Hiếu Giang vắt vẽo lượn quanh
bờ cát mịn giữ phù sa cho đất
 
sông yêu thương
            cho con người tắm mát
cam chịu điều trong đục với thời gian
sông trầm mình lặng lẽ...
                        chẳng thở than
luôn tươi mát qua bao mùa nắng lửa
 
dòng sông quê...
            ngát xanh từ muôn thuở
man mác buồn...
            đâu bóng tuổi thơ xưa?
nghiêng mái đầu
            chợt thấy nét già nua
nơi quê cũ...
                ta như người xa lạ.
TRƯƠNG NGUYỄN
truongnguyen49@yahoo.com.vn  

READ MORE - THĂM QUÊ - DÒNG SÔNG QUÊ - Trương Nguyễn

ĐÂY THÔN VỸ DẠ - Thơ Hàn Mặc Tử - Lời bình Phạm Ngọc Thái



ĐÂY THÔN VỸ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?


                       Hàn Mặc Tử
       (Rút trong tập "Đau thương" - Thơ điên của HMT)
                                           ***
  
        Bài thơ được mở đầu với lời trách móc của người con gái. Lời trách ấy có lẽ do một hoàn cảnh gặp gỡ nào trước đó được thi nhân nhớ lại:
                   Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
    Câu mở đầu như thế giúp cho ý tưởng kiến thiết bài thơ thôn Vỹ gắn với nỗi nhớ người xưa được gợi lên trong kỷ niệm:
                Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
               Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

       Nghĩa là từ hàng cau đến cái nắng mới vào buổi sáng ấy, màu xanh của vườn cây đều là cảnh hiện trong hồi tưởng. Thôn Vỹ nói riêng cũng như mỗi làng quê Việt Nam nói chung: hàng cau thường đọng lại những ấn tượng sâu sắc, nhất là với những người khi đã phải xa quê. Ta cũng thấy ở trong thơ Nguyễn Bính từng viết:
                Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
      Hàng cau dưới cái nắng mới buổi sớm thì trong mát, thanh thiên lắm! Cảnh quê cô đọng được hoà quyện vào mối tình đầu trong sáng, mơ mộng của thi nhân, dù mối tình với nàng Hoàng Cúc ấy chỉ đơn phương về phía Hàn Mặc Tử. Nhưng sự sâu lắng đã trở thành hoài niệm mãi trong cõi nhớ của ông, bởi thế màu xanh của lá cây trong vườn cũng lung linh mà "xanh như ngọc"... 
                                                           
    Như vậy "cảnh nhớ" ở ba câu đầu tuy chỉ là hồi tưởng nhưng lại xuất phát từ "cảnh có thực"! Sở dĩ tôi nhấn mạnh về chữ "thực" ở đây? vì chỉ đến câu thứ tư hình ảnh thơ đã có ý nghĩa tượng trưng:
                Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
     "lá trúc" và "chữ điền" thuộc những ngôn từ mỹ học! Hình tượng cây trúc làm tượng trưng trong thơ HMT, ta còn thấy ở trong bài thơ Mùa Xuân Chín:
                Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
    "trúc" là hình ảnh biểu tượng cho làng quê, còn "mặt chữ điền": theo cách nói cổ nho là ví cho gương mặt nam nhi! Trong bài thơ này gương mặt chữ điền ấy để biểu tượng cho chính bản thân thi nhân.  Hai chữ "che ngang" kia, nghĩa là thôn Vỹ với nhà thơ giờ đây chỉ còn ở trong kỷ niệm, nỗi nhớ... mãi mãi phải cách xa nên đã bị... "cắt ngang"!
     Ngay trong bốn câu của khổ thơ đầu ta đã nhận thấy cấu trúc, tư duy thơ HMT theo cảm súc đã được thiết lập theo trình tự suy lý về nỗi cảnh mà lập thành tứ, để phát triển sâu hơn ở khổ thơ thứ hai khi nói đến tình duyên dang dở giữa hai người:
                Gió theo lối gió, mây đường mây...
      Ý là:
                Em theo đường em, anh đường anh
                Duyên phận đôi ta có thế thôi!

      Tả cảnh nhưng chính để nói nỗi đời:
                Dòng nước buồn thiu (tĩnh), hoa bắp lay (động)...
      Cái (tĩnh) và (động) ấy chỉ để bộc lộ một cõi lòng, một tâm trạng cô đơn và buồn! Thi nhân ngồi nhớ người xưa, lòng ông lặng lờ buồn bã như dòng nước hắt hiu, nhưng trái tim ông vẫn bổi hổi, xốn xang như làn "hoa bắp lay"... 
                Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                Có chở trăng về kịp tối nay?

       Đây là hai câu thơ thần cảm - Hình ảnh thuyền và sông trăng theo cảm súc ùa vào trong thơ mà bật ra... làm cho tình thơ thêm rộng rãi, rung rinh, nỗi thơ càng mênh mang, da diết. 

     Xin nói thêm, cảnh thuyền và sông trăng ở đây theo như một số nhà bình luận: Người thì cho đó là cảnh trong một bức ảnh về Huế mà nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân khi đang lâm bệnh phải điều trị ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng cũng có người lại nói rằng nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân tấm ảnh mặc áo dài trắng?... chứ không phải là phiến cảnh "thuyền" và "sông trăng" đó. Nếu vậy thì cảnh trong thơ chỉ là cảnh mà thi nhân nhớ lại nơi thôn Vỹ chăng? - Cũng chưa thật ngã ngũ về hướng nào.
        Nhưng tóm lại cảnh của hai khổ thơ đầu ấy là cảnh thuộc về trí tưởng, dù là vào buổi sớm dưới hàng cau hay trong một đêm trăng trên sông nước. Trong bài bình của nhà bình thơ Vũ Quần Phương, đến đây có nhận xét rằng:
   "Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một... thoáng nhìn bài thơ có vẻ đầu Ngô mình Sở...", (hay là) "Những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hoá ra lại vẫn có chỗ liền nhau..."  và nhà bình thơ cho rằng "chỗ liền nhau ấy trong thơ HMT chỉ là nhờ vào tâm trạng súc cảm"...
        Theo tôi: HMT là một thi nhân viết thơ bằng nội tâm theo tư duy thế giới trong, súc cảm chỉ làm đà cho mạch thơ, hơi thơ tuôn chảy... còn ý tứ thường được diễn tả rất mạch lạc, rõ ràng. Mượn cảnh làm biểu tượng để diễn đạt nỗi tình thơ  - Đoạn thơ thứ hai ấy cần phải hiểu sâu sắc bằng thế giới bên trong như đã bình trên, mới thấy cảm súc về ý tứ của bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ hoàn toàn liên kết chặt chẽ với nhau, từ đoạn thơ đầu tiên cho đến đoạn cuối cùng.  Đấy chính là cốt lõi để tạo ra thi phẩm của ông. Đây thôn Vỹ Dạ là một tuyệt tác thi ca! Nếu cho rằng đoạn thơ thứ hai chỉ là để tả cảnh buồn mênh mang... thì sẽ không thấy hết được cái hay và sâu sắc của bài thơ!
    Tôi xin bình sang khổ thơ thứ ba:
              Mơ khách đường xa, khách đường xa
              Áo em trắng quá nhìn không ra
              Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
              Ai biết tình ai có đậm đà? 
   Như đã nói mối tình giữa HMT với nàng Hoàng Cúc chỉ là một mối tình đơn phương về phía thi nhân, có thể nàng không hay biết về tình yêu của chàng? Hơn nữa trong lễ giáo phong kiến thời ấy, giữa gia đình thi nhân với gia đình nàng còn có một khoảng cách về đẳng cấp xã hội. Hoàng Cúc thuộc gia đình một quan lại, còn HMT là gia đình lớp bình dân. Ông vốn tính lại rụt rè,  hay bẽn lẽn, yêu tha thiết mà chỉ dám đứng từ xa chiêm ngưỡng người đẹp  như trong mộng... rồi thương thầm, nhớ trộm. Thi nhân đã dồn hết tình yêu của mình vào thơ ca... sáng tác cả một tập, gọi là tập "gái quê" để tặng nàng!
     Giờ đây thì cả cái mối tình đơn phương ấy cũng đang trôi vào dĩ vãng. Thi nhân lâm bệnh nặng phải sống cách ly, sự ngăn trở giữa hai người càng xa hơn. Nên trong bài thơ nói về người yêu mà thi nhân lại dùng chữ "khách" là vì thế! Ông mơ về nàng dẫu tình thì sâu nặng... mà vẫn như mơ về một người khách lạ...
    Hình ảnh: Áo em trắng quá.../ - Hẳn  là màu áo trắng  của nàng Hoàng  Cúc thường mặc  phải gây ấn tượng trong trí nhớ của HMT hơn các màu áo khác!  Nhưng màu áo trắng ở đây còn là ảnh ảo, khi thi nhân mơ tưởng người đẹp ở trong trăng...  Màu trăng ấy thường hay thấy trong thơ HMT:
               Người trăng ăn vận toàn trăng cả...
       Còn tại sao "áo em trắng quá" mà lại "nhìn không ra"? Ý là: Mối tình ấy đã cách biệt, giờ đây khoảng cách giữa hai người xa vời như người khách lạ qua đường.  Còn cảnh tượng:
                  Ở đây sương khói mờ nhân ảnh 
       Đó là cảnh thực của nơi Ông đang sống và chữa bệnh... hiu quạnh, khói sương heo hút ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng đồng thời cũng để nói lên trong cảnh ngộ của Người về thân phận "mịt mờ nhân ảnh". Tâm trạng Ông đang rơi vào trong vực thẳm trước sự quên lãng của người đời.  Lòng ông càng da diết mà hỏi:
              Ai biết tình ai có đậm đà?
      Tiếng "ai" bộc lộ một tâm trạng  vẫn rất tha thiết của Ông:  Liệu nàng còn nhớ đến ta chăng? Cái tâm trạng xa xót ai oán ấy, ông cũng đã từng bộc lộ nhiều lần khác:
          Một mai kia ở bên khe nước ngọc
          Với sao sương, anh nằm chết như trăng
          Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
          Đến hôn anh và rửa vết thương tâm!

      "Đây  thôn Vỹ Dạ" là một bài thơ được dệt  thành một bức tranh trong mộng, không gian đa sắc đa chiều, đan xen giữa hiện tại và kí ức.  Ý, tình  khúc triết, sâu xa. Dù rằng tình thơ được rút trong tập "thơ điên",  nhưng nó không những không phải là thơ điên mà còn là một tình thơ đằm thắm chứa chan, trái tim của nhà thơ đã thấm đầy huyết lệ!
                                                                                Phạm Ngọc Thái 
 thai_quanthanh@ymail.com
READ MORE - ĐÂY THÔN VỸ DẠ - Thơ Hàn Mặc Tử - Lời bình Phạm Ngọc Thái