Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, January 20, 2019

NĂM HỢI BÀN VỀ HEO / LỢN (1) - Nguyên Lạc





NĂM HỢI BÀN VỀ HEO / LỢN (1)
                                           Nguyên Lạc 

PHẦN I 

HEO: BIỂU TƯỢNG, CA DAO TỤC NGỮ

VÀI ĐIỀU VỀ CHỮ HEO / LỢN
Tên gọi: Lợn, heo, trư, hợi, ỉn, thỉ...
Danh pháp khoa học là Sus, thuộc họ Lợn (Suidae)
Việt Nam phân biệt các loại heo -lợn như: Lợn lòi (lợn rừng), lợn sề (lợn đẻ nhiều lần), lợn nái (lợn nuôi để đẻ), lợn sữa (lợn con còn bú sữa mẹ), lợn bột (lợn mới lớn nhưng còn non), lợn tháu (lợn nói nhiều), lợn cấn (lợn đực nuôi làm giống), heo lang (heo đen có xen đốm trắng), heo voi (heo nhà loại lớn con), heo bông (heo đốm đen trắng lẫn lộn), heo nưa (heo vàng mỡ).v.v..

1. Ý nghĩa biểu tượng
Con lợn hay con heo là loài vật đã gắn bó lâu đời với con người và xung quanh đó là nhiều câu chuyện trong văn hóa đại chúng về con lợn. Trong văn hóa, con lợn cũng được cọi với nhiều tên như con heo, chú ỉn, trư, hợi. Trong văn hóa phương Đông, lợn đứng cuối cùng trong 12 con giáp (Hợi) và cũng đứng cuối cùng trong lục súc.
Lợn biểu trưng cho sự phồn thực, tính dục và sự nhàn nhã sung túc. Người ta còn dùng hình ảnh con heo đất như là một biểu tượng về tài chính. Ngoài ra, thủ lợn (đầu heo) là một món sính vật quan trọng trong một mâm cúng ở những buổi lễ long trọng và lễ nghi của người dân Việt Nam.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam, dù được xem là biểu tượng của sự may mắn và trù phú như thế, con heo trong dân gian Việt Nam cũng mang nhiều hình tượng tiêu cực:  Nói đến heo là người ta nói đến tính lười biếng (lười như heo), ham ăn, bẩn thỉu, và ngu (ngu như heo) ngoài ra còn hình tượng nhục dục (phim con heo).
Trong văn hóa dân gian Việt Nam, con lợn được thể hiện qua các bức tranh dân gian Đông Hồ, hình ảnh con lợn hiện hữu trên tấm lịch tường gia đình để thiể hiện sự sung mãn, phồn thực, vui vẻ hạnh phúc. Con lợn trong quan niệm văn hóa cổ truyền thuộc dòng Âm, ôn hòa nhã nhặn, sinh nở đầy đàn nên yếu tố phồn thực được đề cao trong loại tranh dân gian, chúc tụng năm mới gặp nhiều may mắn, con cháu đông vui, phúc lộc. Bức tranh lợn đàn là biểu tượng của sự sung túc, no đủ, phồn thực.
Trên mình lợn có vòng khoáy Âm - Dương ngụ ý phát triển, sinh sôi nảy nở, bức tranh còn thể hiện con lợn mẹ trắng xóa mắt lim dim lờ đờ, mõm tũm tĩm, năm con lợn con, con xanh, con đỏ, con trắng, con tím lúc nhúc cả dưới chân. Hình ảnh lợn Cấn sắc nét nhất là trên tranh Lợn ăn lá ráy, Nghệ nhân Đông Hồ đã quan sát kỹ con lợn phàm ăn, đang sục mõm vào máng, cành lá ráy như động đậy, ước lệ.
Ở vùng đất thuộc hạ nguồn sông Hậu, người Khmer vẫn cho rằng heo năm móng và heo ba giò là những cốt tinh lang thang của người đầu thai, nếu trong nhà có một con heo như thế thì cũng đồng nghĩa với việc nhà ấy gặp những chuyện tai ương khủng khiếp, lục đục chuyện gia đình và người ta tìm mọi cách để tống khứ. Tại Chùa Dơi còn có tên gọi khác là chùa Mã Tộc [*] ở tỉnh Sóc Trăng, là nơi chốn những con heo đặc biệt này cư ngụ, cả phần xác lẫn phần hồn. Người Khmer rất sợ heo năm móng, heo ba giò, tức là heo có tới năm móng thay vì bốn móng như bình thường. Còn heo ba giò không phải thiếu một giò mà ba giò kia một màu lông, giò còn lại có màu lông khác,  ví dụ một chân có màu đen, ba chân có màu trắng.
                                      [Theo Nguyễn Cung Thông]
Tổng hợp tư liệu từ sưu tầm thực tế ở chùa Dơi cho biết về heo năm móng, ba giò như sau:
Bà con người Khmer rất sợ heo năm móng, ba giò (không phải thiếu một giò mà ba giò kia một màu lông, giò còn lại có màu lông khác, 1 đen 3 trắng chẳng hạn. Không rõ dựa vào đâu mà người ta tin rằng, những con heo đó là cốt tinh của người, nó là linh hồn của con người đầu thai. Những người đó vốn gây nhiều tội ác, nên bị đày làm kiếp heo.
Chính vì mang linh hồn của kẻ ác, nên những gia đình nuôi nó sẽ phải gặp tai họa. Người Khmer tin rằng, gia đình nào nuôi phải con heo này thì sẽ gặp bất hạnh, gia đình lục đục, vì bị cốt tinh của con heo quấy phá. Tuy nhiêu, nếu giết heo thì cả nhà sẽ phải đền mạng. Chính vì thế, gia đình nào nuôi phải heo năm móng, ba giò, thì phải nuỗi dưỡng và chăm sóc nó đến già. Khi heo chết, phải mai táng cẩn thận như người, mới mong thoát kiếp nạn.
Rồi cũng từ những gia đình đen đủi nuôi phải heo năm móng, ba giò, đã nghĩ ra phương thức giải hạn cho mình bằng cách đẩy “heo quái thai” cho nhà chùa nuôi. Họ tin rằng, nhà chùa là nơi thích hợp, có thể nâng đỡ linh hồn tội lỗi, bị đày làm kiếp heo. Khi con heo quái thai được nuôi dưỡng, được nghe kinh Phật sám hối thì không phá phách con người nữa và cũng vì thế mà hóa giải được tai họa. Vậy là nhà chùa tự dưng biến thành “nơi nuôi dưỡng heo quái thai”.
(Chuyện ở chùa Dơi - Hai Miệt Vườn)
2. Heo trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, danh từ “heo” có nghĩa chánh là con heo, hay con lợn. Từ đó người ta thường nói thịt heo, heo quay, heo sữa, heo nái, heo rừng; hay bánh lỗ tai heo, vân vân… Trong thành ngữ Việt Nam chữ “heo” rất thông dụng qua những câu nói bình dân như “nói toạc móng heo”, “ở dơ như heo”, “mập như heo”, “làm biếng như heo”, thậm chí “ngu như heo” (nói chung bao nhiêu cái xấu trên đời đều đổ lên đầu con vật hiền lành và tội nghiệp nầy!). Trong tiếng Mỹ cũng có những thành ngữ thông dụng như “to make a pig of oneself” (ăn phàm, ăn tham, ăn uống thô tục như heo), “to buy a pig in a poke” (mua vật gì mà không được trông thấy hay biết rõ, tiếng Việt mình hay nói là “mua trâu vẽ bóng”), hay “pigs might fly” (biết đâu một chuyện thần kỳ hay phép màu có thể xảy ra)
-- Heo: Diễn tả khí hậu hanh khô, thường vào dịp chuyển tiếp giữa thu sang đông.
 “Gió heo lành lạnh thổi về
 Thương người quan ải lòng tê tái sầu”
                                            [Ca dao]
 “Heo đường leo lên ngọn”
                         [Tục ngữ]
-- Heo may: Dịch thoát chữ "Lý Phong", nghĩa là: "Gió cá chép". Theo truyền thuyết, vào mùa thu, cá chép theo nước sông về hội ở Vũ Môn để chuẩn bị hóa thành rồng. Gió vào mùa này gọi là "Gió cá chép".
 Tháng tư cá đi ăn thề,
 Tháng tám cá về hội ở Vũ môn”
Trong văn chương và nhất là âm nhạc Việt Nam chúng ta thường nghe “gió heo may”:
 "Gíó heo may đã về, chiều tím loang vĩa hè, và gió buông tóc thề...”
               [Nhìn Những Mùa Thu Đi – Trịnh Công Sơn]

hay:

 “Lạnh lùng sương rơi heo may,
 Buồn se sắt nhớ thu xưa,
 Tôi nhớ em chiều gió mưa…”
[Thu Ca - Phạm Mạnh Cương]

-- Heo hút: Hẻo lánh và hiu quạnh. "Đi xuống lũng sâu heo hút" [Huy Cận]. Chữ nầy đồng nghĩa với“đèo heo hút gió”. Tuy nhiên trong đối thoại thực tế người ta hay nói “Ở nơi đèo heo hút gió”, chớ ít ai nói “Ở nơi heo hút”.
-- Heo hắt (desolate): Cảnh vật heo hắt (hoang tàn, tiêu điều). Sống cuộc đời heo hắt (cô độc).
Chữ “heo” sử dụng trong heo heo, heo may, heo hút, heo hắt hoàn toàn không có một sự tương quan (correlation) nào với “con heo” cả. Đây chính là một trong những tính cách đa dạng và phong phú của tiếng Việt: Chỉ cần đổi một con dấu, hay xử dụng trong trường hợp khác nhau thì ý nghĩa của nó hoàn toàn thay đổi.  
                     [Heo May - Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang]
Chữ Việt tuyệt với như ta vừa xét vậy mà có ngài tiến (hay lùi) sĩ Bùi Hiền đòi thay đổi nó bằng loại chữ "trời ơi" nào đó, ngu chưa?
-- Kinh nghiệm xã hội và truyền thống dân tộc ta gắn liền với hình ảnh con lợn qua ca dao tục ngữ như:
‘Mẹ em tham thúng xôi chiêm
Tham con lợn béo tham tiền hoa-viên’
                (Việt Nam Tự Điển, 1954)
‘Con lợn trắng mắt thì nuôi
Con người trắng mắt là người bỏ đi’

"Nói toạc móng heo": Làm mất cái vỏ bề ngoài, làm rõ cái bên trong.

3. Phát âm Heo trong tiếng Anh

Heo là tiếng Việt, phát âm nghe giống tiếng Anh “hell”
Hell (noun): Địa ngục.
Thơ rằng:
Chữ heo liền với chữ "hell" một vần
Hãy ăn đi lũ quan ôn!
Ăn cho tàn mạc nước non dân nghèo
Ăn đi rồi chết xuống "hell"!
                      (Nguyên Lạc) 
...
[Còn tiếp phần II -HEO: TRONG ĐỜI SỐNG, VĂN CHƯƠNG]

                                                                 Nguyên Lạc 
..................
Tham khảo:
Thảo Trường, Chu Vương Miện, Nguyễn Viết Tân, Nguyễn Cung Thông, Lý Lạc Long, Wikipedia, Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang, Wikipedia, Facebook...

Ghi chú:
[*] Mã Tộc đọc trại từ Mahatup: Mahatup là trận kháng cự lớn (Tup: kháng cự; Maha: lớn). Theo người Khmer, nơi đây đã diễn ra một trận đánh ác liệt của phong trào nông dân nổi dậy chống nhà cầm quyền ngày xưa. Ngoài ra dân gian còn gọi là chùa Dơi bởi vì trong chùa này có nhiều dơi.
                                                               (Nguyên Lạc)

READ MORE - NĂM HỢI BÀN VỀ HEO / LỢN (1) - Nguyên Lạc

NGƯỜI CON GÁI QUẢNG TRỊ TÔI YÊU - Chùm thơ Lý Thuần Tâm

Tác giả Lý Thuần Tâm

Chùm thơ Lý Thuần Tâm
NGƯỜI CON GÁI QUẢNG TRỊ TÔI YÊU
Tôi say đắm nàng tiên Quảng Trị
Em dịu dàng duyên dáng biết bao
Mái tóc thơm hương bồ kết thuở nào
Theo anh mãi chặng đường ngày ấy
Em khép kín niềm yêu như vậy
Anh dại khờ không biết em yêu
Đón bước em đi qua ngỏ mỗi chiều
Tà áo thướt tha tóc bay trong gió
Tôi cứ mãi theo em ngày nọ
Ôi! Dáng Kiều em đẹp dưới trời quê
Làn my cong gió thổi tóc thề
Em thỏ thẻ giọng quê nhà trầm ấm
Tìm làm chi HUẾ SÀI GÒN HÀ NỘI
Một chút mỉm chi em cũng đẹp lắm rồi
Người con gái QUẢNG TRỊ hiền lành nhưng bao nỗi
Chiến tranh về tôi đã mất em
Nay dưới trời Nam xuôi ngược bao miền
Em còn đó U sáu mươi duyên dáng
Em ơi! biết nói sao với tình yêu ngày tháng
Với nụ cười e ấp mĩm chi
Với dáng em đi của tuổi xuân thì
Em đẹp lắm dưới trời quê lồng lộng
Biết tìm đâu những ngày xanh như mộng
NGƯỜI CON GÁI QUẢNG TRỊ TÔI YÊU!!!
Lý Thuần Tâm



QUÊ HƯƠNG QUẢNG TRỊ   
Ai đã từng sinh ra nơi quê hương Quảng Trị
Mảnh đất nghèo nhưng đượm nét thân thương
Có núi Mai, sông Hãn đẹp lạ thường
Có Mỹ Chánh chè xanh, La Vang đồi núi đất
***
Đây Hải Lăng, ruộng sâu đồng ngập lúa
Kia cửa Tùng, cửa Việt cá tươi ngon
Xóm Ngã Tư Sòng, Dốc Miếu, Cồn Tiên
Cam quýt ngọt hương thơm chờ đón bạn
***
Dãy cát trắng chạy dài vùng chợ Cạn
Khoai lang bùi ấm dạ sáng ra khơi
Đông Hà ơi! Bên bờ tây Sông Hiếu
Công Lập, Bồ Đề, Đắc Lộ, Bán Công
Áo trắng bay, bay trắng đường vòng
Vòng thị xã Đông Hà ôi đẹp lắm!
Trường Nguyễn Hoàng tuổi xuân, xanh như mộng.
Bao nhân tài xuất phát từ nơi đây
***
Vùng biển xanh, Gia Đẳng sáng trời mây
Tôm cá sẵn, dân chài tung lướt sóng
Bưởi Cam Lộ đầu mùa ôm trái mọng
Tiêu vùng Cùa chín đỏ thấy mà ham.
***
Đây Trung Lương điểm nối giữa Bắc – Nam
Kia Bến Hải chiếc cầu ngăn lối rẽ
Mấy mươi năm tình con xa mẹ
Vợ xa chồng, quạnh quẽ sống cô đơn
***
Đây Gio Linh bom đạn khoét hố sâu
Kia Thành Cổ gạch trơ xương chất trắng
Bãi Cầu Dài hồn oán than đêm vắng
Với Dãy Dương buồn đứng lặng đếm thời gian
***
Kia Trường Sơn hùng vĩ dưới mây ngàn
Anh nằm xuống cho quê hương được sống
Vi vút Nam Lào vang vọng tên anh
Quê mẹ bẽ bàng bao nỗi chiến tranh
Máu anh nhuộm thắm, xóm làng nát tan
Quảng Trị quê tôi sao lắm phũ phàng?
Thương đứt ruột nhưng đành xa để sống
Hẹn một ngày trở lại quê hương ./.
(2001)

DÒNG HIẾU GIANG CAM LỘ
Hiếu Giang ơi! Dòng sông xanh
Vẫn con đò xưa xuôi chèo mát mái!
Người ra đi, đi mãi không về!
Ngậm ngùi bên luỹ tre quê.
Ai đi, ai ở, ai về nơi đây.
Sông xanh quyện sắc trời mây.
Gió xuân se lạnh bồi hồi vấn vương.
Con đò đưa khách  nhớ thương.
Xuôi dòng Cam Lộ rẻ dòng Hiếu Giang.
Cầu Than đã gãy nhịp ngang.
Nửa thương cánh nhạn, nửa hoài bóng câu.
Nhớ lời xưa hẹn mùa Ngâu
Bao mùa Ngâu đổ nhịp cầu mãi thưa.
Trăm năm bến cũ còn lưa
Con đò người khác đón đưa ai về
Lẽ loi cánh nhạn lê thê
Dòng sông xuôi chảy, câu thề nặng mang
Về đi con nước nhịp nhàng
Ngó sang bên nớ lòng vương vấn lòng
Bến ni cứ mãi đợi trông
Người thì ngàn dặm biệt mong chân trời.


Lý Thuần Tâm
Thân tặng Ngọc Thơ cùng anh em bằng hữu Cam Lộ, Quảng Trị quê miềng.

Lý Thuần Tâm
BRVT
lythuantam@gmail.com

READ MORE - NGƯỜI CON GÁI QUẢNG TRỊ TÔI YÊU - Chùm thơ Lý Thuần Tâm

CUNG LÒNG MẸ - Lê Liên bình thơ Vũ Miên Thảo

Nhà thơ Vũ Miên Thảo



CUNG LÒNG MẸ 
Lê Liên bình thơ Vũ Miên Thảo

DA, THƯA MẸ CHÚNG CON ĐÂY

Giờ xa lắm tuổi mười lăm
chạm mây trắng
tóc lâm râm màu chiều
buổi về, lay dấu chân xiêu
thềm xưa mẹ đợi
gió liu riu mùa
thương nhiều lắm những thiệt thua
còng lưng gánh sống
chợ trưa – vườn chiều
cho trăng sáng mắt tin yêu
cho hoa rạng má môi điều ngây thơ
chòng chành suốt chặng đường mơ
áo sương, khăn gió
làm ngơ cuộc tình
têm trầu
thêm nữa linh đinh
cau thâm môi
chát chữ tình trăm năm
trắng tinh ly ngọc âm thầm
sợ giao bôi rượu
rót lầm đắng cay
mẹ cười
lời gió trăng bay
chiều ba mươi tết
vui vầy đón xuân
lá mai mẹ lặt hôm rằm
đếm ngày hoa nở cuối năm
con về

Dạ thưa Mẹ!
chúng con đây
hoa vườn nở cánh
môi đầy nụ xuân!

          Vũ Miên Thảo


Lời Bình

Thơ của Vũ Miên Thảo rất ngộ! Tứ thơ luôn quyện vào nhau! Thi pháp của ông tràn đầy nội lực!

Tôi vốn mồi côi Mẹ, nên trong tôi khái niệm về Mẹ chừng như rất mơ hồ! Nhưng với bài Thơ DẠ,THƯA MẸ! CHÚNG CON ĐÂY của ông đã làm sáng lên trong tôi tình mẫu tử.

Ngay tựa đề bài thơ tác giả như ngầm chia sẻ với chúng ta về người Mẹ của ông, Cho nên chúng ta chẳng dại gì mà không nhận đó là "Mẹ chung" của chúng ta kia chứ?
Và
Tôi viết bài này như một  tâm tình chung của "những Người Con" khi hướng lòng về Mẹ, Mẹ của tất cả chúng ta .
Thật vậy,
Tạo hóa ban cho Nhân Loại kỳ quan vỹ đại nhất đó là TRÁI TIM NGƯỜI MẸ.               
Cho dù tâm hồn ta cằn cỗi, trái tim ta chai sạn thì ta cũng không bao giờ VÔ CẢM trước TẤM LÒNG của Mẹ. Trong suốt cuộc đời mình có biết bao lần chúng ta quay về ẩn náu trong trái tim của Mẹ?
Tác giả VMT cũng thế, khi mệt mỏi với thế sự, thì tóc đã điểm hoa râm, sự dày dạn của một người từng trãi  cũng phải có lúc quay về  nương bóng Mẹ hiền.

Như nhà Thơ Chế Lan Viên đã từng nói thay cho Mẹ, mà đó cũng là tiếng lòng của ông, và cho cả tất cả chúng ta nữa:
"Con dù lớn vẫn là con của Mẹ
Đi hết đời, lòng Mẹ vẫn theo con" 

Trong bài thơ này tác giả không phải tìm về Mẹ của thời thơ dại, (lúc đó, cứ thích là sà ngay vào lòng Mẹ, bất kể lúc nào, bất kỳ ở đâu) hoặc  như:
"Ngồi buồn nhớ Mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương"

(Í chà! Lúc đó, nhỏ tí xíu, chỉ biết nuốt cơm theo phản xạ tự nhiên như mặc nhiên đón nhận tình yêu của Mẹ mớm cho, rồi cứ thế là lớn.)    ...
Mà ngay trong khổ thơ đầu tiên là hoài niệm của một người lớn tuổi, từng lăn lóc ngoài trường đời nhớ về Mẹ.

Vâng! VMT nhớ lại Mẹ của mình dạo ông ở tuổi mười lăm! Cái tuổi quá lứa của trẻ con, nhưng cũng chưa được công nhận là người lớn!  Ương ương, ngạnh ngạnh, thích tự khẳng định mình, thích làm người lớn, cho nên chỉ chực thoát ly ra khỏi cung lòng của Mẹ!

"Giờ xa lắm tuổi mười lăm
chạm mây trắng
tóc lâm râm màu chiều
buổi về, lay dấu chân xiêu"
         
Ở tuổi mười lăm có rất nhiều ấn tích mâu thuẫn nội tâm khi hướng về Mẹ. Bỗng dưng tôi yêu âm thanh ồm ồm của mấy cậu con trai "thời dậy thì, bể tiếng" gọi " Mẹ! Mẹ, Mẹ Ơi !" chi lạ.

Nếu cuộc sống không mĩm cười với mình, thì chúng ta luôn tìm về với gia đình, bởi vì, nơi đó luôn có vòng tay rộng mở và trái tim ấm áp của Mẹ hiền !

"buổi về, lay dấu chân xiêu
thềm xưa Mẹ đợi
gió liu riu mùa" 

"Gió liu riu .... " nghe sao chạnh lòng ... cứ như nỗi buồn tẩm quất vào lòng triền miên vậy! Lại kèm theo từ " ..... mùa " làm  ta  liên tưởng đến sự mặc nhiên lập lại theo chu kỳ, khiến ta hiểu  sự nín chịu, dẻo dai của Mẹ biết chừng nào! Cho nên tác giả thốt lên : 
" ....thương nhiều lắm những thiệt thua"

Phải!
Mẹ luôn có sức bật phi thường, không bao giờ toan tính với các con của mình. Đôi khi Mẹ phải nhẫn nhịn với đời để mưu cầu cho cuộc sống chỉ vì các con của mình

"thương nhiều lắm những thiệt thua
còng lưng gánh sống
chợ trưa – vườn chiều"

Tự  nhiên tôi nhớ tới 2 câu thơ được nhiều nhà thư pháp viết bằng cả lòng thành tín khi phóng nét son :                                   
"Cánh Cò cõng nắng cõng mưa,
Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương"

Chợ trưa: không gian yên ắng, quạnh quẻ khi chợ đã tàn, dẫu chỉ biết họa hoằn lắm mới có khách vãng lai, nhưng Mẹ cũng nán lại, cố vớt vát xem có kiếm thêm được chút gì nữa không? Mẹ vốn thế! Ngày ngày tần tảo. Bòn mót, chắt chiu từng chút, từng chút một cho con.

Vườn chiều: nghe sao hoang vắng quá! Cuối một ngày lao nhọc: thân thể rã rời,  Mẹ vẫn mỗi ngày bương chãi, lam lũ, chịu thương chịu khó, không tính thiệt thua với gia đình miễn là các con trưởng thành.

Chợ trưa, vườn chiều biểu thị cả cuộc đời cần mẫn lao nhọc của Mẹ!

Rồi thì:
"Cho trăng sáng mắt tin yêu
 cho hoa rạng sáng môi điều ngây thơ"

đọc tới đây tôi nhớ câu ca dao :
 "Mẹ già hết gạo treo niêu
 Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai" 

Tác gỉa Lê Liên.

Mẹ là vậy! Bao giờ cũng muốn chăm chút cho con những gì tốt đẹp nhất, bởi vì mỗi chúng ta đều là báu vật của Mẹ! cho HOA, cho TRĂNG là ẩn dụ cho ta biết đó là các con của Mẹ. Hoa và Trăng đều có thì khắc cấp thời nếu không kịp vun đắp thì Hoa tàn, Trăng rụng!  Cho nên với Mẹ, Các con luôn là ưu tiên số một! Và Mẹ cho con hết cả nhựa sống Mẹ có .

"Môi điều ngây thơ" hình ảnh đôi môi đỏ thắm, khuông mặt sáng ngời tin yêu, hồn nhiên, vô tư của con, cũng là động lực cho Mẹ vượt qua những lao đao của cuộc đời không những chỉ vật chất, mà ngay cả nỗi niềm thầm kín Mẹ cũng không dám đón nhận cho riêng mình. Mẹ thức khuya dậy sớm (áo sương), Mẹ đối phó lặng thầm, đơn độc trước sóng gió cuộc đời, và hy sinh cả ước mơ của mình:
           
"chòng chành suốt chặng đường mơ
áo sương, khăn gió
làm ngơ cuộc tình"

Bởi,
Mẹ sợ khi bước thêm bước nữa, sẽ có những biến động trong cuộc sống làm tổn thương người thân,  gây ra khó xử cho nhau :
"Cau thâm môi, chát chữ tình trăm năm"

Mẹ hy sinh giữ cho : "Trắng tinh Ly Ngọc âm thầm"  mà tự an ủi :
"sợ giao bôi rượu
rót nhầm đắng cay"

Bà Mẹ nào cũng thế! 
"Con cái là Lựa-Chọn-tiên- quyết"  của Mẹ!  Chúng chi phối mọi tổng hòa cảm xúc của Mẹ, cho nên cái gì liên quan đến con cái luôn có sức bật diệu kỳ cho tình mẫu tử. Sau rốt, cái gì còn lại mới là phần của Mẹ.
Và, từ ái vốn dĩ là nguồn vô tận của Mẹ khi :
"mẹ cười
lời gió trăng bay"

rất mỏng mảnh phiêu diêu mà tấm lòng thì bao dung quảng đại, Ôi! Mẹ thật hào phóng, chẳng dành gì cho riêng Mẹ cả .


Và Tâm tình của Mẹ được chăm chút:
"Lá mai Mẹ lặt hôm rằm
 đếm ngày mai nở cuối năm
con về"          
Những nhà chăm sóc cho Hoa Mai cho kịp đón tết, thường lặt lá trước đó khoảng 2 tuần, (tùy theo thời tiết) để cho sức sống của cây Mai tập trung nẩy lộc, đâm chồi rồi dưỡng hoa, chứ không nuôi lá ! 
            
Mẹ cũng thế, có lẽ trong năm, hai tuần cuối cùng này Mẹ ở trong trạng thái nôn nao, mong đợi các con của Mẹ trở về. Sức sống này thật là mãnh liệt
"chiều ba mươi tết
vui vầy đón xuân"


Với Khổ Thơ cuối, không những chỉ tác giả mà ngay cả chúng ta cũng mang cả tâm tình trìu mến, kính yêu, hân hoan cùng:   
"Dạ thưa Mẹ!
chúng con đây
hoa vườn nở cánh
môi đầy nụ xuân!"


Đến đây sao tôi thấy hạnh phúc lâng lâng trong lòng. Ai cũng rạng rỡ niềm vui trao ban cho nhau. Hai câu thơ cuối là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn ngữ:

Hoa vườn là kết quả của nổ lực yêu thương đã hình thành nên con cái, (nở cánh) để  lớn lên mạnh mẽ .

"Nụ xuân" của tác giả làm tôi hình dung đến nụ cười móm mém của Mẹ mãn nguyện, tràn đầy yêu thương. Rất đổi mộc mạc với cung lòng khiêm nhu.

Cảm ơn nhà thơ Vũ Miên Thảo đã cho mỗi chúng ta biết yêu chiếc bóng lặng thầm của Mẹ .
Mẹ chỉ biết hành động  theo mệnh lệnh của trái tim luôn  quy hướng về con cái.
Cảm ơn Mẹ. Mẹ hiền của chúng con.  

Phải chăng, tựa đề của bài thơ nhắc cho chúng ta nhớ những câu ca dao thay cho lời kết :
       
  "Mẹ già bất khả viễn du 
   anh đi chơi cho cách mấy
   tối công phu anh cũng phải về"

Lê Liên

READ MORE - CUNG LÒNG MẸ - Lê Liên bình thơ Vũ Miên Thảo

THIÊN THU - Thơ Châu Thanh Thủy





THIÊN THU

Chàng à, yêu hết cõi này
Kiếp sau cát bụi, xương gầy hồn hoang

Rong chơi trong chốn hỗn mang
Ta say vũ khúc, còn chàng du ca

Phiêu diêu tận cuối trời xa
Yêu nhau sương khói, tình là thiên thu!

                              Châu Thanh Thủy
                                  18 -1 - 2018

READ MORE - THIÊN THU - Thơ Châu Thanh Thủy