Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 16, 2017

CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN

 
       Tác giả Thủy Điền


CỐ QUỐC

Đi trên cỏ, nghe nỉ non của gió
Người đi xa sao chẳng thấy quay về
Chân bước đi mà sao dạ tái tê
Cỏ, gió nói lòng ôi não ruột

Chạy trên sông theo dòng trôi trên nước
Hoa lục bình cũng than trách về ta
Mấy mươi năm xa quốc, lại cách nhà
Hồn lẫn xác cả hai đều không thấy

Dọc theo đê hai bên bờ lau sậy
Cũng giận hờn trước gió đứng im ru
Chẳng thèm chào, cũng chẳng hỏi một câu
Trông tủi phận kẻ ly hương cổ quốc

Qua lối nhỏ, đi theo con đường đất
Ngắm mái nhà lụp xụp ngõ lôi thôi
Người quen xưa giờ đã mất hết rồi
Chỉ gương lạ đứng nhìn không thiện cảm.

Thủy Điền
14-04-2017

KIẾP CẦM CA

Đêm tàn còn một mình
Ta- Chủ Quán
Ly Cà phê chưa cạn
Bốn mắt nhìn khô khan

Đêm về đi lang thang
Ta- Phố vắng
Tiết trời gieo căm căm
Gác nhỏ còn xa tít

Đêm buồn nằm khúc khích
Ta- Màn đêm
Dâng bao nỗi cô đơn
Khi màn nhung buông thả

Cuộc Đời như sân Ga
Lắm kẻ đến, rồi xa
Chỉ riêng sân Ga già
Suốt bốn mùa lặng lẽ.
  
Thủy Điền
15-04-2017

READ MORE - CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN

CẢM HƯỞNG “TIM ĐAU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Bình thơ của Nguyễn Đăng Hành


           


      CẢM HƯỞNG “TIM ĐAU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TIM ĐAU
Chẳng biết nữa
Con tim đã bao lần chắp vá
Thêm một lần đau nữa
Có sao đâu.
Hắt hiu chiều
Xao xác gió vu vơ
Lời hẹn ước ném chềnh hềnh đầu ngõ.
Ta dẫu biết trăng lúc mờ lúc tỏ
Vẫn không quen lời yêu chóng hao gầy
Ta sẽ cố để không ai thấy
Héo hắt chiều
Sưng tấy trái tim yêu.
*.
Hà Nội, chiều 03 tháng 05 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
LỜI BÌNH:
Bài thơ Tim Đau của Đặng Xuân Xuyến là một bài thơ có nỗi lòng, có tâm trạng, có ma lực ám ảnh, gây xúc cảm cụ thể mà phiêu diêu, ngôn ngữ thẳng tưng mà vẫn mênh mang ý tứ, cấu từ chữ nghĩa đời thường, không cầu kỳ trau chuốt mà thu hút...
Thú thật, thoạt lướt qua bài thơ cảm tưởng nhịp thơ tuần tự, đều đều như khúc hành ca mốt hai mốt sẽ tẻ nhạt... nhưng “bập” vào thấy khẩu khí, tốc độ chữ nghĩa kết tinh chuyển động tự nhiên, hồn vía bâng lâng, bảng lảng... Chỉ tiếc ở ngay câu đầu nhà thơ đã điềm đạm quá, tỉnh quá mà điềm tĩnh tung ngay tố từ: “Chẳng biết nữa”, làm giảm sức gợi mở và khí tiết bài thơ. Cứ đi thẳng, tạo cấu tứ ngay từ “Con tim đã bao lần chắp vá”, không có “Chẳng biết nữa” làm cánh cửa mở hờ hững, khem khép như thế thì câu thơ chân thành, trung thực, tự nhiên sẽ làm ảo ảnh rầm rầm chuyển động...
Câu tiếp sau: “Thêm một lần đau nữa/ Có sao đâu.”, tiếp ứng câu trước, khí liền mạch tạo dựng tứ thơ. Đọc đến đây chẳng ai lại cho đấy là cơn đau tim của bệnh lý, của cơn đau xác thịt mà là cơn đau của tâm sinh lý, của biểu hiện con tim hồn đang run rẩy, đau đớn trước những trắc ẩn, “chắp vá”, được mất của tình chồng vợ - lứa đôi. Tác giả thật khéo léo và thông minh khi viết Tim Đau (chứ không phải là Đau Tim), để nhấn nỗi đau tinh thần, nỗi đau tình cảm trong duyên nghĩa vợ chồng - đôi lứa. Phải kiên cường, cao đạo lắm thì mới vượt qua được những cơn đau, những lần “chắp vá” của trái tim yêu, để lòng thánh thiện tự vấn tự thán: “Con tim đã bao lần chắp vá/ Thêm một lần đau nữa/ Có sao đâu”. Riêng đoạn này, khổ này có thể đã là một bài thơ. Nhưng không, nhà thơ vẫn tiếp: “Hắt hiu chiều/ Xao xác gió vu vơ”. Lại thêm hai chữ “vu vơ”, nhà thơ lại mắc vào tính cẩn thận không cần thiết. Chữ “vu vơ” đã làm giảm nhịp điệu thơ, ì ạch tốc độ và nhòe mờ tâm ảnh thơ. Theo tôi, nhà thơ nên bỏ chữ “vu vơ” cho chiều thêm “hiu hắt”, gió thêm “xao xác” mông lung, câu thơ sẽ khắc họa bóng dáng tâm khảm bâng lâng, buồn buồn mà thanh cao thi vị, để thấy “lời hẹn ước ném chềnh hềnh đầu ngõ”, thấy cái tình đời mờ tỏ thực hư: “Ta dẫu biết trăng lúc mờ lúc tỏ” mà “vẫn không quen lời yêu chóng hao gầy”, để mà đắc đạo, chịu chấp nhận âm thầm đơn độc trong cuộc tình đôi lứa, để “không ai thấy”... “Héo hắt chiều/ Sưng tấy trái tim yêu.”.
Ôi buồn quá! Cái buổi chiều bảng lảng hoàng hôn như kiếp con người cuối thu sương khói. Nhưng thật vui sướng thay, sau bao lần “chắp vá”, vẫn thấy trái tim còn nguyên vẹn. Nếu trái tim đã vỡ nát thì làm sao “sưng tấy” được “trái tim yêu”?! Hình ảnh “Trái tim yêu sưng tấy” thật độc đáo, mới lạ, thật cảm động, hạnh phúc, đã thánh thót ngân lên khúc ca: Được yêu, được đau, được chắp vá để được trái tim yêu trọn vẹn!
TIM ĐAU là bài thơ ngắn gọn, súc tích, dễ đọc, dễ cảm nhưng thật khó bình. Chắc nhà thơ cũng phải trăn trở quằn quại lắm, phải trung thành và trung thực trở lại với chính mình, với chính trái tim thổn thức của mình mà đối ngẫu, đối cảm, phát tiết xúc cảm buồn mà cao sang, đau mà ngọt ngào thi vị...
*
Hà Nội, ngày 17.04.2016
NGUYỄN ĐĂNG HÀNH
Địa chỉ: Thôn Đa Tốn, xã Khoan Tế
huyện Gia Lâm, tỉnh Hà Nội.
Điện thoại: 0166.467.78.26 

READ MORE - CẢM HƯỞNG “TIM ĐAU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Bình thơ của Nguyễn Đăng Hành

THƠ LỤC DU - Nguyễn Ngọc Kiên dịch



                        Nguyễn Ngọc Kiên


THƠ LỤC DU
                          

灌園 
少攜一劍行天下, 
晚落空村學灌園。 
交舊雕零身老病, 
輪囷肝膽與誰論?

Phiên âm:
QUÁN VIÊN
Thiếu huề nhất kiếm hành thiên hạ, 
Vãn lạc không thôn học quán viên. 
Giao cựu điêu linh thân lão bệnh, 
Luân khuân can đảm dữ thuỳ luân (luận)?

Dịch nghĩa: 
TƯỚI VƯỜN
Lúc trẻ đeo gươm đi khắp thiên hạ 
Khi có tuổi về xóm vắng học tưới vườn 
Bạn cũ tàn rụng thân mình già yếu 
Tâm sự uẩn khúc biết bàn cùng ai

Dịch thơ:
TƯỚI VƯỜN
Lúc trẻ đeo gươm khắp bốn trời
Già về xóm học tưới vườn thôi
Bạn xưa tàn rụng, thân già yếu
Nỗi lòng u uẩn tỏ cùng ai.

孤雲 
四十年來住此山, 
入朝無補又東還。 
倚闌莫怪多時立, 
為愛孤雲盡日閑。

CÔ VÂN
Tứ thập niên lai trụ thử san, 
Nhập triều vô bổ hựu đông hoàn. 
Ỷ lan mạc quái đa thì lập, 
Vị ái cô vân tận nhật nhàn.

Dịch nghĩa: 
Bốn chục năm nay về ở núi này 
Vào triều không bổ ích gì, lại trở về phía đông 
Đứng tựa câu lơn giờ lâu, đừng cho là lạ 
Vì yêu áng mây lơ lửng, nhàn suốt ngày

Dịch thơ: 
Bốn chục năm  ở chốn non côi
Vào triều vô bổ lại Đông thôi
Bao lơn đứng tựa xin đừng lạ
Yêu áng mây nhàn lơ lửng trôi.
春日雜興 
夜夜燃薪煖絮衾, 
禺中一飯值千金。 
身為野老已無責, 
路有流民終動心。

XUÂN NHẬT TẠP HỨNG
Dạ dạ nhiên tân noãn nhứ khâm, 
Ngung trung nhất phạn trị thiên câm (kim)! 
Thân vi dã lão dĩ vô trách, 
Lộ hữu lưu dân, chung động tâm!

Dịch nghĩa: 
Vài cảm hứng trong ngày xuân
Đêm đêm đốt củi sưởi ấm chiếc mền bông, 
Bữa cơm non trưa đáng giá nghìn vàng! 
Đã làm ông lão nhà quê, thân mình không còn trách nhiệm gì, 
Nhưng thấy ngoài đường có dân xiêu, lòng ta vẫn thổn thức.

Dịch thơ:
Vài cảm hứng trong ngày xuân
Đêm đêm đốt củi sưởi mền bông, 
Một bữa cơm trưa giá vạn đồng. 
Thành lão nhà quê không trách nhiệm., 
Thấy dân cùng quẫn, chẳng an lòng.

小雨极凉舟中熟
舟中一雨扫飞蝇,
半脱纶巾卧翠藤。
清梦初回窗日晚,
数声柔橹下巴陵。

Phiên âm:
Tiểu vũ, cực lương, chu trung thục thụy chí tịch
Chu trung nhất vũ tảo phi dăng
Bán thoát luân cân ngọa thúy đằng
Thanh mộng sơ hồi song nhật vãn
Sổ thanh nhu lỗ hạ Ba Lăng.

Dịch nghĩa:
Trận mưa làm ruồi nhặng bay hết khỏi lòng thuyền
Trật nửa khăn lụa quấn đầu, nằm duỗi trên giường mây.
Vừa tỉnh mộng, mặt trời đã xế ngoài song cửa
Mái chèo nhẹ nhàng đưa thuyền về phía Ba Lăng.

Dịch thơ: 
Mưa nhỏ, trời mát, ngủ say trong thuyền đến tận chiều
Trong thuyền mưa đuổi hết ruồi bay
Khăn đầu trật nửa, duỗi giường mây
Mộng tan, bóng xế ngoài song cửa
Chèo lướt Ba Lăng nhẹ như bay.

花時遍遊諸家園
為愛名花抵死狂 ,
只愁風日損紅芳 ;
六章夜奏通明殿 ,
乞借春陰護海棠。

Phiên âm:
HOA THÌ BIẾN DU CHƯ GIA VIÊN
Vị ái danh hoa để tử cuồng
Chỉ sâu phong nhật tổn hồng phương
Lục chương dạ tấu Thông Minh điện
Khất tá xuân âm hộ Hải Đường

Dịch nghĩa:
MÙA XUÂN CHƠI VƯỜN MỌI NHÀ
Yêu mê hoa đẹp đến chết cuồng.
Chỉ e nắng gió làm phai sắc hồng và làm giảm hương thơm.
Đêm viết sớ “Lục chương” (sớ 6 chương) tâu lên điện Thông Minh.
Xin cho bóng xuân che chở cho Hải Đường.

Dịch thơ:
MÙA XUÂN CHƠI VƯỜN MỌI NHÀ
Yêu say hoa đẹp đến chết cuồng
Chi e nắng gió nhạt sắc hương
Đêm làm sớ tâu  Thông Minh điện
Xin bóng Xuân che khóm Hải Đường

                                                 Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ

READ MORE - THƠ LỤC DU - Nguyễn Ngọc Kiên dịch

Cảm nhận của Châu Thạch về ca khúc SAO CHƯA GẶP LẠI TRƯỜNG XƯA


Nhạc phẩm “Sao chưa gặp lại trường xưa”(*) của Nguyễn Khắc Phước: Một bản nhạc, một bài thơ, một dòng lệ

                                                 
  Châu Thạch


Nếu bạn là cựu học sinh của bất kỳ một ngôi trường nào, khi nghe bài hát nầy bạn cũng đã thấy buồn. Nhưng nếu bạn là cựu học sinh của ngôi trường Nguyễn Hoàng, một ngôi trường xưa của cổ thành Quảng Trị  nay đã mất tên trường thì bạn dễ dàng rơi lệ. Nếu bạn từng học Nguyễn Hoàng, nay nghe bài ca nầy mà bạn rơi lệ được thì đó là điều tốt cho bạn, vì nỗi buồn sẽ vơi đi theo dòng nước mắt. Còn nếu bạn không rơi lệ được, thì lệ ấy sẽ ở trong lòng bạn như một cơn gió lạnh, như một dòng sông băng, sẽ làm bạn đau lòng hơn nữa. Chắc chắn không mấy ai mà không thấy cảm xúc ngay từ khổ đầu của bài hát khi ca từ được cất lên mang hình ảnh một cựu sinh quay về  cô đơn nơi trường cũ:

Mênh mang nắng đổ hè trưa
Bâng khuâng đứng nhìn ngẩn ngơ
Tôi tìm trường xưa bên thành cổ vắng
Trường xưa đó nay đâu rồi
Tà áo trắng xưa đâu rồi
Và thầy cô xưa nay về đâu?

Đã có nhiều văn thơ rất cảm động viết về người học trò quay lại thăm trường, thấy lại chiếc bàn mình ngồi, gặp lại ông giáo già hay bất kỳ một ngóc ngách kỷ niệm nào còn lưu lại bao năm. Nhưng có lẽ không có trường hợp nào đau đớn giống như một cựu sinh Nguyễn Hoàng quay lại thăm trường cũ của mình, vì: “Trường xưa đó nay đâu rồi, tà áo trắng xưa đâu rồi, và thầy cô xưa nay về đâu?”. Không còn gì cả! Trường mà không còn thì tà áo trắng, thầy cô xưa làm sao còn được!

Đoạn hai của bài ca có âm thanh như nhịp chảy của dòng sông, vang lên một âm điệu vui nhưng cũng tìm ẩn một nỗi buồn mênh mang như nỗi buồn khi đứng trước dòng nước lặng lờ, nơi tiếp giáp của sông và biển:

Quên sao những giọt mồ hôi
Quên sao những ngày sục sôi
Có người rời xa nẽo đường muôn lối
Đàn em bé vẫn yêu đời
Thầy cô vẫn cất cao lời
Từ dòng sông em ra biển đời.

Biển đời của học sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị không phải là đại dương bình lặng. Mỗi cựu sinh Nguyễn Hoàng đều phải cởi trên sóng to gió lớn của một thời ly loạn và không biết bao nhiêu người đã chìm đi trong cơn ba đào ấy. Những người vào được bờ cũng phải mang một linh hồn bạc thếch phong sương.

Bước qua phần ba và bốn của bài ca là tiếng kêu thương buồn não nuột, tiếng kêu gọi đàn của bầy chim tan tác:

Nguyễn Hoàng ơi!
Bao năm lưu lạc đường xa
Mang theo giấc mộng tuổi hoa
Mang theo lời dặn của thầy cô

Nguyễn Hoàng ơi!
Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa
Bao nhiêu bè bạn trang lứa
Sao chưa về đây với trường

Đây là tiếng kêu mà các tập san “Chân dung  kỷ niệm Nguyễn Hoàng”, “Hương quê Nhà” và nhiều tập san trong ngoài nước của cựu học sinh Nguyễn Hoàng khắp nơi đã cố gắng bơi ngược dòng sông ký ức để mời nhau trở về đoàn tụ cùng nhau.

Thật ra thì biết bao người đã vượt ngàn dặm xa xôi để quay về với mảnh đất trường xưa, nhưng, chưa có ai trở về với niềm vui trọn vẹn, vì: “Trường theo khói hương lên trời” như một câu trong đoạn cuối bài ca. Trường đâu còn nữa, trường mất cả tên rồi:

Mong sao đếm ngược thời gian
Cho viên phấn còn dở dang
Kể về trường xưa bên thành cổ vắng

Trường theo khói hương lên trời
Trường gieo nắng cho xanh đời
Trường vẫn còn đây trong tim mọi người.

Lời hát ở vế chót thâm thúy và như một bản bi hùng ca, nó mang âm hưởng của nỗi lòng cựu sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị, muốn quay về để viên phấn kể lại trường xưa. “Mong sao đếm ngược thời gian, cho viên phấn còn dở dang, kể về trường xưa bên thành cổ vắng”: Trí tưởng tượng tuyệt vời và ca từ đầy tính chất thơ, đầy hương vị.

Với tôi, “Sao chưa gặp lại trường xưa” không những là một bài ca mà còn là một bài thơ bi hùng và là một dòng lệ thương nhớ trường xưa chứa đầy cảm xúc.   
                                                                
Châu Thạch 
truongvantran@hotmail.com


(*)
: Bấm vào liên kết này để nghe bài hát.





READ MORE - Cảm nhận của Châu Thạch về ca khúc SAO CHƯA GẶP LẠI TRƯỜNG XƯA

Saturday, April 15, 2017

HOA VƯỜN NHÀ - Ảnh của Chu Vương Miện


 


 


 


 



 

READ MORE - HOA VƯỜN NHÀ - Ảnh của Chu Vương Miện

Mùa Hè Tới - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Ca sĩ: Thái Hiền

READ MORE - Mùa Hè Tới - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Ca sĩ: Thái Hiền

CHẦN CHẦN ƠI HỠI CHẦN CHẦN - Hoàng Long Hải


Thau ốc chần chần 
















                              


CHẦN CHẦN ƠI HỠI CHẦN CHẦN

(Tặng Trần Quốc Phiệt, “người Chợ Cạn” - Tác giả)

“Chần chần ơi hỡi chần chần,
Ham ăn bỏ việc không mần mạ la”
                                (Ca dao)

      Ốc chần chần nhỏ bằng hột nút áo, dẹp, xoắn ốc theo chiều kim đồng hồ. Tất cả đều xoắn theo một chiều đó mà thôi, cả triệu con chưa chắc đã có con ốc nào có đường xoắn ngược lại. Tỷ lệ đường xoắn rất đều, từ trung tâm mà ra, ở tâm thì nhỏ, to ra dần dần. Nếu dùng thước mà đo - có lẽ cũng khó đo lắm - hay như bây giờ, dùng computer mà đo, tỷ lệ trong nhỏ ngoài to không xê xích chút nào. Đó là sự nhiệm mầu của Tạo Hóa.

       Ốc chần chần thường màu trắng, có những đường viền theo hình xoán ốc màu đỏ nhạt, kèm theo là những đường xanh nhạt; trông cũng không đẹp lắm, nhưng cũng không xấu. Mùa hè - chỉ mùa hè mà thôi - người miệt biển gánh lên thị xã Quảng Trị bán chần chần nhiều lắm. Ốc chần chần đã nấu chín, đựng trong thúng cạn, đong bằng cái chén nhỏ, hay bằng cái “loon” sắt, không bán chung với nước như hến hay chắt chắt. Thường người bán cho thêm mấy cái gai cây bưởi. Dùng gai đó để lể, tức là móc con chần chần từ trong vỏ ốc ra.


       Ăn chần chần không cần thêm nước chấm - nước mắm pha ớt, gừng chẳng hạn, luộc bằng nước biển hay vì con chần chần ở biển, đã mặn sẵn. Cái gai bưởi dùng nhiều lần bị cùn, không móc được nữa, thì dùng “kim găm”, có nơi gọi là “kim băng”, mấy cô bà thường dùng găm ngang túi áo, để đồ đạc trong túi khỏi rớt ra ngoài; mũi kim băng bằng sắt, nhọn, móc đầu con chần chần ra nhanh và dễ hơn.


       Con hến hay con chắt chắt đã nhỏ, con chần chần lại nhỏ hơn, thường người ta chỉ móc được cái đầu chần chần, nhỏ bằng nửa hột gạo, bỏ vào miệng chẳng thấm vào đâu cả. Ruột mắc phía trong, ít khi lấy ra được. Nhưng cái vị mặn, thịt hơi dòn, dễ làm cho người ta “say”. Hết hột nầy, qua hột khác, cứ thế ngồi mà lể hằng giờ. Người ăn chần chần phải kiên trì, ngồi lể hoài, chẳng bao giờ được no, chẳng bao giờ hết “khoái khẩu”, vừa ngồi ăn vừa nói chuyện, có khi là  “ngồi lê đôi mách”, thành ra vui chuyện, ngồi lâu, bỏ đi không được. Cái công việc nầy chỉ thích hợp cho “mấy đứa con gái”. Bọn con trai không có cái kiên trì ngồi lể chần chần như thế.


     Dĩ nhiên, ngồi hoài thỉ bỏ việc, nên ca dao mới có câu than:


            Chần chần ơi hỡi chần chần,
            Ham ăn bỏ việc không mần mạ la.


     “Ham ăn”? Tức là tham ăn, ăn hoài không thấy chán! Cứ nghe ngôn ngữ trong câu ca dao: “mần việc” thay vì “làm việc”. “Mạ” thay vì mẹ hay má, thì rõ ràng chần chần ở xứ tôi mới có. Chỉ ở Quảng Trị mới có ốc chần chần.


      Từ phá Tam Giang trở vào, cho tới miền Tây Nam Bộ, nơi tôi “lặn lội” ở đó nhiều năm dài, tôi không thấy ở vùng đó có ốc chần chần bao giờ. Ngay Thuận An cũng đã không có rồi, nói chi xa hơn về phía Nam.


     Thông thường bờ biển Việt Nam nhiều vùng có cát. Cát ở Cửa Tùng, Cửa Việt, ở các làng Cát Sơn, Thủy Bạn, An Mỹ… trắng lắm, màu của tờ giấy trắng. Cát ở Cửa Thuận An vàng hơn. Như vậy, có phải chỉ ở vùng có cát trắng như tờ giấy trắng mới có con chần chần, cát vàng thì không?! Khi tôi lớn lên thì nước ta chia làm hai miền ở sông Bến Hải nên tôi không được ra phía bắc của con sông nầy để biết vùng ngoài đó có chần chần hay không.


     Năm 1947, khi gia đình tôi chạy tản cư ra ở làng Huỳnh Công, phủ Vĩnh Linh, dự trù ra Thanh Hóa, theo lệnh của Việt Minh thì Tây đổ bộ lên Đồng Hới, con đường ra Bắc không đi được nữa. Gia đình tôi lại chạy về phía Nam sông Bến Hải, đường đi là dọc theo bờ biển, theo các làng Thủy Tú, Thủy Bạn. Bờ biển vùng nầy cũng toàn cát trắng, nhưng vừa chạy giặc, lại không ở lâu nên tôi không nhớ ở các làng đó, có con chần chần hay không!


      Điều nầy, độc giả muốn biết rõ hơn, xin hỏi “Nhà Thổ Nhưỡng Học Thái Công Tụng”, ông quê ở Cam Lộ, ông sẽ giải thích cho. Tôi hy vọng như hế! Nhưng chợ Cạn thì nhiều lắm.


     Chợ Cạn có thể coi như một cái chợ nhỏ, nhưng lại là trung tâm của các làng vùng biển Quảng Trị: Phía bắc Chợ Cạn có các làng Việt An, Tường Vân, Gia Đẳng, phía nam có các làng Linh (hay Liên?) Chiểu, Đồng Bào, Phương Lang… Chợ chỉ đông vào buổi sáng, hình như mỗi tháng có mấy phiên, tan cũng rất nhanh. Buổi chiều thì chợ vắng tanh, buồn ghê! Buồn như chợ chiều mà. Ca dao đã nói vậy.


             Chợ chiều nhiều khế, ế chanh
             Nhiều con gái tốt nên anh chàng ràng
             Chàng ràng như ếch hai hang
             Như chim hai ổ, như nàng hai nơi...


     Khế thường chua, còn chanh thì không ngọt bao giờ. Chanh ngọt thì ai mua? Con gái tốt là con gái đẹp. Thấy con gái đẹp thì “anh chàng ràng”, chắc cũng không sai. Nhưng tại sao lại đem con gái đẹp mà ví với chanh hay khế? Tại vì con gái “chanh chua” hay con gái như trái khế, trái chanh chua. Ngó thì ngọt nhưng ăn vào thì chua lắm… Kinh nghiệm của tôi đó mà!!!


      Những năm cuối thập niên 1950, nhiều nhà đua nhau làm rèm cửa. Do một “sáng kiến” nào đó, họ dùng báo “Thế Giới Tự Do” của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ cắt nhỏ rồi cuốn lại, làm rèm như rèm trúc. Dĩ nhiên, sau đó, việc phát không báo “Thế Giới Tự Do” không dễ dàng như trước kia nữa.


       Có người lại “sáng kiến” dùng ốc chần chần thế vô. Người ta đục lỗ xuyên qua chiều dẹp của con chần chần, xâu một sợi chỉ vải hay gấc vào đó. Bức rèm trông cũng đẹp, nhưng vỏ ốc chần chần không bền. Vỏ mỏng quá, không bao lâu, cái lỗ xâu rộng ra, cái vỏ ốc nằm ngang, “mất trật tự”, trông xấu quá, người ta phải bỏ đi.


      Trở lại chuyện năm 1947, gia đình tôi chạy tản cư về Chợ Cạn, trước khi ra Vĩnh Linh. Chợ Cạn nằm bên con đường đất, từ phía Linh Chiểu, Phương Lan ngang qua chợ mà ra phíc bắc, có các làng Gia Đẳng, Tường Vân… Con đường nầy bây giờ có tên là Tỉnh lộ 68(?). Từ con đường đất ngó vào, bên phải là một dãy nhà, gian ngoài cùng là quán “chạp phô” của chị Ba, người gọi mẹ tôi bằng dì. Chị đã có chồng, có con. Tôi chỉ thấy mấy đứa con mà không thấy chồng chị. Ông “theo Việt Minh” rồi, có lẽ. Phía trong cũng có một dãy nhà song song với con đường đất. Một người thợ hớt tóc, chạy tản cư về đây, mở tiệm hớt tóc. Tiệm ế lắm, buổi chiều, anh cùng đám thanh niên trong làng đánh bóng chuyền ở sân chợ.
Kế sân, sát đường đất là một cây bàng già, lưu niên. Điều tôi nhớ nhất ở gốc bàng nầy là cái gì? Một đống vỏ chần chần. Ai ăn chần chần xong, cứ đổ vỏ vào đấy, chẳng ai la rầy gì cả. Đống vỏ chần chần nầy cũng “lưu niên”, có nghĩa là người ta đổ vỏ vào đây từ mấy năm trước. Đống vỏ cũ chưa tiêu hết thì đống vỏ năm sau được đổ chồng lên.


      Mấy năm sau, khi lớn hơn tí chút, sau “trận Thanh Lương” năm 1953, Tây thua một trận te tua ở Thanh Lương, ông Đội Trọng, làm “đơ dzèm buya rô” cho Tây ở thị xã Quảng Trị, bị Việt Minh bắt, bị Việt Minh xử tội, treo cổ ở cây bàng nầy. Đó là điều tôi nghe kể lại. Mới đây, hình như ông Trần Quốc Phiệt cải chính tin ấy, nói là ông Đội Trọng bị bắn chớ không phải bị treo cổ ở cây bàng nầy. Đằng nào cũng chết, “một đời theo Tây”.


      Hồi ấy chị Sâm, con gái chưa chồng, cũng có gian hàng bán ở chợ. Buổi chiều, ra về, chị thường cầm ở tay một cuốn sách, dày như cuốn tự điển. Tôi nghĩ chị là người có học. Vậy mà cũng mấy năm sau, khi gia đình tôi đã “hồi cư” về thị xã. Tôi lại gặp chị. Chị đã có chồng, một ông đội Tây. Chị thuê nhà ở cạnh nhà tôi. Một hôm, chị nhờ tôi viết một cái thư gởi về cho mẹ còn ở Chợ Cạn - Tôi đang học lớp nhì. Khi đó tôi mới “tá hỏa” ra là chị không biết chữ. Vậy mà hồi ở chợ Cạn, chị thường ôm cuốn tự điển trong tay. Đó là cái hộp gỗ, trang trí như cuốn sách dày. Cái hộp gỗ cũng “hù” người ta được vậy!


      Phía đối diện với chợ, có ngôi nhà lớn trở mặt ra phía con suối cạn, tôi “phục” ông chủ nhà nầy lắm. Ông ta khoéo tay, dùng cái cọng dù cũ chế thành cây súng bắn chim. Phía Bắc chợ, cách khoảng chừng nửa cây số la nhà anh Trần (?) Văn Mai, đã có vợ con. Anh cả tôi thường đến chơi, có lẽ anh Mai là người có học. Anh có bằng “ri-me”. Nhà anh Mai khá giả. Con đường đi vô nhà khá dài, hai bên là hai hàng chè tàu. Cũng mấy năm sau, tôi lại gặp anh ở thị xã Quảng Trị, anh làm việc cho ty Công-An Việt Nam.


      Nhà tôi ở sát chợ, phía bên kia con đường đất, đối diện với chợ. Hồi đó tôi đã biết hát vài bài: Ngoài những bài như “Không Quân VN”, “Hải Quân VN”, “Lệnh vua hành quân…”, tôi thường hát “Chinh phụ ca”: “Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y, và hồn nương bóng quốc kỳ…” Dân nhà quê, không rành hát hỏng, với lại đó là những bài hát mới, thường gọi là “Nhạc cải cách”, họ ít khi được nghe, nên thường “yêu cầu” tôi hát cho họ nghe. Hát xong, chẳng ai cho gì, ngoài tiếng khen…


      Buổi chiều, ba anh em tôi: Anh cả, anh kế và tôi thường đi qua phía làng Linh Chiểu, nơi có nhiều đám ruộng, lúa đã cao nhưng chưa trỗ bông. Phía làng đó có một cô “nữ học sinh” còn trẻ, nhà ở trong Thành cổ Quảng Trị, cũng “chạy tản cư”; nhiều ngày, cô thường mặc một bộ đồ trắng, áo dài tha thướt, lửng thửng ở Chợ Can! Ông anh cả tôi “ngấp nghé” cô nàng nầy chăng?


       Từ những đám ruộng và từ trong những cánh đồng ấy, tiếng giun dế kêu liên tu bất tận, dễ làm cho tôi nhớ nhà, ngôi nhà cũ ở thị xã, mà tôi xa cách gần một năm nay, kể từ khi có lệnh tản cư của Việt Minh. Những âm thanh mùa hè đó, rời khỏi Chợ Cạn, tôi không còn nghe nữa. Tuy vậy, nếu độc giả nghe “Four Seasons” của Vivandi, sẽ gặp nó đấy. Té ra, âm nhạc, tiếng hát, tiếng gọi của đồng quê, Đông Tây cũng giống nhau!


       Được ít lâu thì Tây về lùng, có lính Bảo Vệ đi theo. Tây thì đốt nhà, giết ai họ nghi là Việt Minh, lính Bảo Vệ thì bắt gà, bắt heo. Bọn trẻ ở chợ như chúng tôi thường nói câu, không biết ai dạy cho: “Cắc, bụp, tùng xeo, mấy thằng Bảo Vệ bắt heo đồng bào” hoặc “Cắc bụp tùng xòa, mấy thằng Bảo Vệ bắt gà bắt heo.” Khi Tây về lùng, thanh niên trai gái chạy cả, chạy vô phía làng Đồng Bào, Phương Lang. Thanh niên thì sợ Tây bắn. Con gái thì sợ bị hiếp dâm. Tôi chạy núp dưới cây cầu tre, mặt cầu đan bằng tre, ở con suối giữa chợ và làng Linh Chiểu. Hai chiếc máy bay đang đảo vòng quanh, chuẩn bị bắn xuống Chợ Cạn lần thứ hai hay lần thứ ba, tôi không nhớ. Tôi chợt nghĩ, núp dưới cầu như thế nầy, người đang chạy trên cầu, máy bay sẽ bắn họ. Bắn họ những lại trúng tôi! Vậy là tôi bỏ cây cầu chạy ra phía biển. Nhà dì tôi, mẹ chị Ba, ở phía ấy. Tây về lùng tới Chợ Cạn thì rút lui. Mọi người lại về. Chị Ba kể: “Có thằng lính Bảo Vệ, nói với thằng Tây: “Mì xự, mì xự. Lấy bún mà măng-giê”. Thằng Tây không ăn. Tên lính Bảo Vệ biểu chị Ba làm cho nó một “đọi” (tô) bún, chan nước mắm và ớt vô. Trước khi ăn, nó đưa tay làm dấu Thánh giá.


     Còn tôi? Khi máy bay bắt đầu xả súng, tuị chun nằm dưới gầm giường, bên cạnh chị tôi. Không hiểu sao, tôi lại trồi lui, rồi chạy ra con suối cạn. Một thằng bé cùng xóm chui vô nằm ngay chỗ tôi, bên cạnh chị tôi. Thằng bé lãnh ngay một viên đạn ở ngực, chết liền tại chỗ, thế mạng tôi. Mấy chục năm rồi, tôi vẫn không quên đống vỏ chần chần ở gốc cây bàng trong sân chợ và lần thoát chết ở đó, năm chạy tản cư.


                                              Hoàng Long Hải

     C/c: Tôi có đứa cháu nội, cháu gái, mẹ nó quê ở Chợ Cạn. Mẹ đặt tên con là “Juliany”, dân Mỹ mà! Đứa cháu bé làm tôi nhớ Chợ Cạn, nên thay vì gọi nó bằng tên Mỹ, tôi lại gọi nó bằng cái tên nhiều kỷ niệm với tôi: “Con Chần Chần.” Vợ tôi thường nói: “Đưa Chần chần cho nội bồng” mỗi khi vợ chồng nó bồng con tới thăm!


READ MORE - CHẦN CHẦN ƠI HỠI CHẦN CHẦN - Hoàng Long Hải

HOA VƯỜN NHÀ - Ảnh của Chu Vương Miện



 



 



 



 



 

READ MORE - HOA VƯỜN NHÀ - Ảnh của Chu Vương Miện

Friday, April 14, 2017

ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ - Thơ Nguyễn An Bình





ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ

Tháng ba mang đi chiếc lá tội tình
Ô cửa lớp lạc vào vườn cổ tích
Tình yêu tôi rất thơm màu mực tím
 Chưa kịp phai khi phượng trổ đầu cành.

Tiếng ve rền đâu đó giữa trời xanh
Sao xa ngái tiếng cười tan nắng vỡ
Tôi đứng lại nhìn thời gian ngược gió
Chợt nghe tim mình lỡ nhịp run lên.

Cũng đâu còn tiếng guốc mộc êm êm
Buổi sáng vừa lên nắng hồng đôi má
Màu mắt trong veo chao nghiêng sắc hạ
Bỏ mặc mình tôi nắng sớm chuyển mùa.

Tôi theo mưa về tìm tháng tư xưa
Trong nỗi nhớ vụng về thời mới lớn
Thương vạt nắng chông chênh vừa qua cổng
Đỏ một trời màu phượng của tôi ơi.

                        Nguyễn An Bình

                             12/04/2017
READ MORE - ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ - Thơ Nguyễn An Bình