Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 12, 2012

BÀN THÊM VỀ CHUYỆN DỊCH THUẬT VĂN THƠ - Nguyễn Hồng Trân


Konstantin Mikhailovich Simonov 
(Константин Михайлович Симонов) (1915-1979)                                         



Vấn đề dịch thuật từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt là việc không dễ; nhất là dịch các thể loại văn thơ lại càng khó rất nhiều. Muốn xác định một bản dịch thuật tốt hay không thì phải căn cứ vào mấy tiêu chí sau:

1. Nội dung bản dịch có bám sát với nội dung nguyên bản từng câu của ngôn ngữ ấn hành.

2. Dịch giả có trình độ ngoại ngữ đó phải vững vàng, thông thạo.

3. Dịch giả có am hiểu về lĩnh vực ngành nghề, khoa học- kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật… mà trong văn bản hoặc sách báo ngoại văn cần dịch.

Nếu dịch thuật về văn thơ, về các thể loại nghệ thuật thì dịch giả phải là người có năng khiếu về lĩnh vực đó mới có thể dịch lột tả được cái ý tứ, linh hồn của bài thơ hay câu văn của tác giả. Đặc biệt dịch thơ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt là rất khó, còn dịch ngược từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài lại càng khó vô cùng.

Trong thực tế có hiện tượng bài dịch thơ rất hay, nghe rất xúc động, tình cảm hay lắm, nhưng cũng chưa thật sát với nội dung nguyên bản lắm. Tất nhiên chúng ta không nên đòi hỏi dịch giả phải sát nguyên bản 100%. Điều đó là không tưởng! Tuy vậy nội dung, ý tứ của bài thơ ít nhất cũng phải đạt tới 60-70%. Nếu chỉ đạt ít hơn 60% thì bản dịch chưa đạt yêu cầu; Nếu chỉ đạt từ 50% và ít hơn thì bản dịch tồi.

Vấn đề dịch thuật nói chung là một quá trình chuyển ngữ rất tinh vi và sinh động. Người dịch thuật phải có một vốn về ngôn ngữ; phải có kỹ năng và kỹ xảo chuyển hóa ngôn ngữ của từng thể loại văn thơ cho phù hợp với ngữ cảnh và tâm hồn của nhân vật trong thơ. Vấn để chuyển tải vào bản dịch của mình cho bạn đọc được cảm nhận phải mềm mại, thấm thía chứ không cứng nhắc, trục trặc và tối nghĩa.

Ngày nay, có nhiều bạn trẻ rất có năng khiếu ngoại ngữ nhưng lại rất yếu về ngôn ngữ Việt. Do đó làm hạn chế rất nhiều cái linh hồn ý vị của bài thơ hoặc bài văn trong những bản dịch của họ. Thậm chí có bạn trẻ có học vị tiến sĩ, có trình độ ngoại ngữ nhưng dịch một câu thơ không ra thơ, đọc lên nghe rất cứng đờ, không còn gì là thơ nữa.

Dịch thơ và dịch lời trong bản nhạc thì khác với dịch văn xuôi. Dịch văn xuôi trước tiên là phải dịch đúng nội dung và ngữ nghĩa từng câu, sau đó mài dũa thành dòng văn Việt; còn dịch thơ thì không nhất thiết phải đúng nguyên văn từng câu, từng chữ mà chỉ cần đúng nội dung và ý nghĩa trong đoạn thơ của tác giả là được. Nếu bản dịch càng sát với nguyên văn từng câu thì càng tốt. Nhưng thực tế cho thấy dịch được một bài thơ như thế là rất hiếm.

Sau đây tôi xin dẫn chứng một vài đoạn về dịch thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “ĐỢI ANH VỀ” của một nhà thơ Nga –Simonov.  Nguyên bản tiếng Nga ở đoạn đầu của bài thơ như sau:

Жди меня

Жди меня, и я вернусь.
Только очень жди,
Жди, когда наводят грусть
Желтые дожди,
Жди, когда снега метут,
Жди, когда жара,
Жди, когда других не ждут,
Позабыв вчера.

Nghĩa là:   

Hãy đợi anh
Hãy đợi anh, rồi anh sẽ về.
Hãy cứ đợi nhé.
Hãy đợi, khi lòng buồn tái tê
Dù mưa rơi chiều vàng
Hãy đợi, khi tuyết rơi ngập tràn,
Hãy đợi, khi nắng cháy,
Hãy đợi,khi không còn ai đợi chờ
Dù họ ngày qua đã quên rồi…

Ngôn ngữ Nga là thế, dân Nga người ta hiểu tình thơ và ý tứ qua những câu đó với dòng thơ của họ. Khi Tố Hữu dịch sang tiếng Việt qua bản tiếng Pháp (vì Tố Hữu không biết tiếng Nga), ta thấy nó vẫn lưu giữ được nội dung mà lại hay thêm nhiều. Vì hồn thơ nó phù hợp với tình cảm dòng thơ Việt.

Đoạn này, nhà thơ Tố Hữu đã dịch lại từ bản dịch tiếng Pháp như sau: 

Em ơi đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có dài lê thê
Thì em ơi cứ đợi
Em, em ơi cứ đợi
Dù tuyết rơi bão nổi
Dù nắng cháy em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài em nhé.

Đoạn này theo bản dịch tiếng Pháp:


Attends-moi
(Simonov, 1941)

Si tu m’attends, je reviendrai,
Mais attends-moi très fort.
Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse,
Attends quand la neige tournoie,
Attends quand triomphe l’été
Attends quand le passé s’oublie
Et qu’on attend plus les autres.
Attends quand des pays lointains

Mặc dầu trong đoạn này bằng tiếng Nga hay tiếng Pháp đều không có câu « Ngày dài lê thê » mà chỉ có câu với ý là buồn. Nếu thế thì nên dịch là  « lòng có buồn lê thê » thì sẽ hay hơn.

Tố Hữu cho điệp khúc lại câu “Đợi anh hoài em nhé” cũng làm tăng thêm lời dặn dò của người chiến sĩ ở ngoài mặt trận rất tha thiết muốn được gặp lại người vợ ở quê nhà sau chiến tranh kết thúc. Tố Hữu dùng chữ “hoài” ở đây là cứ đợi mãi rất hợp tình cảm. Chứ không phải chữ “hoài” là hoài phí như một vài bạn người miền Bắc (tôi không tiện nêu họ tên) hiểu nhầm, không năm vững được ngôn từ tiếng Việt và đã phê phán Tố Hữu dịch không đúng.

Mặt dầu đoạn này có một vài câu, vài từ không sát nghĩa lắm(như đa nêu trên) nhưng cũng lột tả được tình ý của nội dung đoạn thơ và chúng ta cảm thấy rất hay.

Tôi xin dẫn chứng một đoạn cuối bài thơ để chúng ta thấy rõ thêm về cách dịch của Tố Hữu.

Đoạn cuối của bài thơ nguyên bản tiếng Nga như sau:

 Как среди огня
Ожиданием
своим
Ты
спасла меня.
Как
я выжил, будем знать
Только
мы с тобой,-
Просто
ты умела ждать,
Как
никто другой.

Nghĩa là:  

Trong lửa đạn chiến tranh
Bởi lòng mình mong đợi
Như em đã cứu anh
Sao anh đã không chết
Vì chúng ta sẽ biết
Chỉ chúng ta với nhau
Chẳng có ai khác hơn
Chỉ một điều giản đơn
Em đã biết chờ đợi.

Trong đoạn cuối của bài thơ “Đợi anh về” này, Tố Hữu đã dịch như sau:

Tan giặc bước đường quê
Anh của em lại về
Vì sao anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như em chờ đợi.

Đoạn này trong bản dịch tiếng Pháp là :

En plein milieu du feu,
Ton attente M’a sauvé.
Comment j’ai survécu,
seuls toi et moi
Nous le saurons,
C’est bien simple,
tu auras su m’attendre,
comme personne.

Tuy mấy câu cuối này của bài thơ không sát nghĩa từng câu, từng từng từ với nguyên bản tiếng Nga lắm (vì Tố Hữu dịch qua tiếng Pháp), nhưng cũng bảo đảm nội dung và ý tứ rất phù hợp và khi đọc lên,  chúng ta nghe thật tình cảm và hồn thơ rất hay.

Theo tôi nghĩ, dịch thơ là như vậy. Phải đảm bảo nội dung trong từng đoạn và thể hiện được linh hồn của thơ chứ không phải cân đo từng lời, từng chữ được.

Một bản dịch hay hoặc dở thì bạn đọc sẽ bình luận, phán xét và nó sẽ được tồn tại lâu, nếu bản dịch hay và ngược lại, nếu dở thì sau một thời gian rất ngắn nó sẽ bị lãng quên.          
            
                                                     Nguyễn Hồng Trân
Cựu GV Đại học Huế
READ MORE - BÀN THÊM VỀ CHUYỆN DỊCH THUẬT VĂN THƠ - Nguyễn Hồng Trân

ĐỒNG CHÍ MÙA XUÂN - Nguyễn Xuân Nghiêm


Tôi là một người lính, đã qua một thời đạn bom. Hình ảnh những người lính chưa trở về sau chiến tranh cứ như một món nợ đối với tôi, càng về già càng nặng lòng hơn và thôi thúc tôi phải làm một điều gì để tưởng nhớ các anh. Một đêm tôi nằm mơ về những người lính vô danh thành cổ, thức dậy, tôi liền cầm bút viết bài thơ này, coi đây là tấm lòng tri ân của tôi với đồng đội.

Đồng Chí Mùa Xuân

Anh ngã xuống ôm lá cờ Tổ quốc
Môi hé cười dép lốp ấm bàn chân
Chưa biết được tên chưa dành địa chỉ
Đất Mẹ ôm anh - đồng chí mùa xuân

Mắt đã rưng rưng lệ tràn hàng lệ
Giờ cỏ non tơ mướt chỗ nằm xưa
Chết liệt oanh trang đời lẫm liệt
Thành cổ thơm hương ngát bốn mùa.

                                            Nguyễn Xuân Nghiêm
                                        Bình Lãng, Tứ Kỳ, Hải Dương
                                              Đ/T: 0982 966 310
nguyenxxuannghiem@gmail.com
READ MORE - ĐỒNG CHÍ MÙA XUÂN - Nguyễn Xuân Nghiêm

Sunday, November 11, 2012

"NGƯỜI HAM CHƠI" NÓI THẬT - Phạm Xuân Dũng

Tác giả PHẠM XUÂN DŨNG
                                                                                    

     Ở đời cũng lạ, có những văn bản mũ cao áo dài, hình dong đạo mạo lại chỉ như đùa. Còn nhàn đàm như "Người Ham Chơi" Hoàng Phủ Ngọc Tường thì người ta tin là thật, vì biết đó là những giải bày gan ruột.

      "Người Ham Chơi" nói thật nhiều chuyện, có vẻ như thượng vàng hạ cám đều đủ cả.Từ con mèo tuổi thơ đến triết học hiện sinh, từ Kinh Dịch Trung hoa đến cơm hến Huế ...Trên "cái mẹt" nhàn đàm, Người Ham Chơi ngẫu hứng bày ra những thứ nhặt nhạnh được từ chiếc túi Xê Dịch (của thể xác và tâm linh), không phải để đổi chác, bán mua, mà để trần tình, khơi gợi."Đại học chi đạo" khuyên rằng: phái Tân dân và phái Thân dân đều đúng, như hai mặt của một đồng tiền.Trong tư duy cũng như trong ngôn luận, chỉ có đối thoại thực sự bình đẳng mới làm sáng danh chân lý. Sự vật chỉ phát triển khi còn mâu thuẫn, nếu cố tình triệt tiêu mâu thuẫn, sự vật dường như ngừng tiến hóa. Bởi vậy, đáng sợ nhất là những kẻ suốt đời chỉ đọc một cuốn sách. Cũng với nguyên lý bổ sung uyển chuyển như vậy, bài "Chim nhạn và cây thông" là một cách nhìn xác đáng về hai tính cách văn chương trái ngược nhau, đó là Tồn Chất Nguyễn Công Trứ và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.Trái ngược nhau nhưng không có nghĩa là loại trừ nhau. Như nước với lửa, như âm với dương, tương khắc tương sinh. Từ đó, tác giả rút ra phương châm sống của kẻ sĩ thời nay trước sự lựa chọn nhập thế và xuất thế: "Thế nên dám chọn cuộc dấn thân kèm theo một khoảng cách tâm thức để nhìn rõ chân tướng sự vật chính là phương thế hành xử khôn ngoan của trí thức Việt". Tác giả cũng đã phát hiện và đinh danh về con người ham chơi bên cạnh con người ham làm, con người ham nghĩ trong văn hóa Việt nam. Thực chất Người Ham Chơi là người sau khi đã nghĩ rất nhiều và làm cũng không ít cho đời mới dám chơi, dám sống và chơi cho ra chơi và sống cho ra sống."Bởi vì ham chơi phải đâu là do lười biếng. Ham chơi là cách sống đạt đạo của con người đã nhìn thấy từ lâu bản chất phù hư của thế giới, hiểu rõ rằng những giá trị vật chất có khả năng đến đâu trong cuộc mưu cầu hạnh phúc cho con người". Nhàn đàm nhưng không hề tếu táo cho vui mà đã có những bài viêt tỏ rõ chính kiến về những điều bất cập của lịch sử, hay nói đúng hơn những định kiến sai lầm khi phán xét lịch sử .Tác giả đã lập công án trong bài "Vương triều Nguyễn trên đường phố Huế" đề nghị đặt tên đường với sự xem xét các danh nhân lịch sử đã bị đánh giá bất công như  Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần, vua Minh Mạng, Hàm Nghi, Duy Tân. Cũng với cái nhìn nhàn đàm nhưng thâm thúy, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra một cách thuyết phục những vấn đề tưởng chừng thuần túy học thuật cao siêu. Đó là khi luận giải về "quẻ Càn" trong Kinh Dịch, vốn là một kinh thư khó đọc vào bậc nhất. Thì ra ý nghĩa thâm sâu, gốc rễ của quẻ Càn bác học kia lại là chuyện hết sức đời thường, hết sức thế tục nhưng không thể thiếu được: đó là cái ăn của con người. Thảo nào người xưa tâm niệm: nước lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn làm gốc .Vậy đó, chân lý thường là giản dị, có những điều tưởng chừng cao xa mà ý nghĩa lại vô cùng gần gũi, thiết thực.Đáng tiếc là chỉ ít người hiểu  được như thế. Cũng  như khi luận về quẻ Vị tế trong Kinh Dịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra thâm ý của người xưa. Đó là quẻ cuối cùng của Kinh Dịch nhưng tên gọi của nó có nghĩa là: chưa qua sông, kết thúc mà vẫn chưa kết thúc. Hành trình của triết học và loài người không thể có giới hạn cuối cùng. Quẻ Vị tế, vì thế thấy rất nghịch lý nhưng đầy minh triết. Nó luôn nhắc nhở và cảnh báo con người về đoạn đường phía trước.

      Một mảng đề tài mà nhàn đàm thành công là chân dung, hành trạng của các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học như Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Lê Bá Đảng, Trần Quốc Vượng ... Tác giả vẽ thần thái Văn Cao, nhà nghệ sĩ đốn ngộ: "Ông đã ngồi như thế mấy chục năm trời trong căn phòng nhỏ của ông ở phố Yết Kiêu, trong tư thế của Bồ Đề Đạt Ma nơi hang núi, để thấu suốt tất cả, và từ đó, đã cưu mang hết số phận của dân tộc mình và báo trước những nguy cơ đang đến với con người". Đó là chân dung của Phùng Quán, thi sĩ của Sự Thật, sứ giả của Sự Thật. Một con người thà cuộc đời chìm nổi, thà ăn nửa ổ bánh mì cầm hơi chứ nhất định không chịu nói nửa vời Sự Thật. Một Trần Quốc Vượng, vị giáo sư thông thái, nhà ký ức học lịch sử, người có khả năng chuyện trò cùng đất đá, cảm thông với tiền kiếp và hậu vận của đất đá và không chỉ của đất đá mà thôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện ra rằng trong âm nhạc của người bạn tâm giao Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ đã chọn Người Tình để tâm sự những "Ý tưởng triết học đa đoan", rồi mỗi khi hát lên dòng Kinh Nhật Tụng ấy sẽ thấy thân phận con người chấp chới bay. Đó là âm nhạc đã phiêu bồng qua muôn vàn huyền thoại và tư tưởng, giác ngộ sự hữu hạn của con người trong cõi vô thường, áo ước một tấm lòng "để gió cuốn đi".

     Đọc nhàn đàm Hoàng Phủ Ngọc Tường chợt nhớ chuyện Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đi sứ. Khi vua Tàu hỏi: "Trên đường phố hàng ngày có bao nhiêu người qua lại?" Trạng Bùng điềm nhiên trả lời: Bẩm, chỉ có hai người, một người đi vì danh, một người đi vì lợi." Đúng quá, đúng đến gai người, nhưng đó là sự thật. Lạ quá, không thấy nhắc đến người đi chơi vì ham chơi, dường như đó là thiểu số đớn đau và hạnh phúc. Nói vậy không có nghĩa là tác giả nhàn đàm đã toàn tâm rũ bỏ lợi danh nhẹ nhàng như người ta rũ bụi trần khỏi áo, song chí ít cũng đã luyện được tâm thế xem thường danh lợi, biết khước từ những cám dỗ mật ngọt và cả những ảo ảnh sa mạc dọc đường hành hương của một kiếp người.Viết đến đây, chợt hình dung những bóng Người Ham Chơi sau bao nhiêu lang bạt kỳ hồ, rồi ngày kia, độc hành từng bước một, bỏ lại sau lưng tiếng sóng vỗ lao xao, từ biển, quay về với núi ...

                                                                         Phạm Xuân Dũng
Đài PTTH Quảng Trị
ĐT: 0985 972 975
dpthachthao@gmail.com
READ MORE - "NGƯỜI HAM CHƠI" NÓI THẬT - Phạm Xuân Dũng

Saturday, November 10, 2012

CHÙM THƠ CỦA THẦY CÔ GIÁO HUYỆN HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ - Văn Ẩm - Nguyễn Quang Nam - Nguyễn Thành Liêm

Trích từ tập san HOA ĐẦU MÙA số 15 của Phòng Giáo dục Đào tạo Hải Lăng





VĂN ẨM
Phó GĐ Trung tâm KTTH-HN Hải Lăng

QUAN HỌ NGƯỜI ƠI

Chưa một lần anh ghé đến hội Lim 
Sao câu hát xốn xang người Quan Họ?
Đến hẹn lại lên, rồi em về bên đó
Để chiều tím cả bờ sông…

Mai em về có nhớ anh không?
Nhớ những mùa đông trắng đồng nước lũ
Trường học đơn sơ, mấy phòng nội trú
Lại phập phồng khi bão sắp qua đây

Mai em về đi dưới bóng hàng cây
Có nhớ chăng cái nắng hè bỏng rát
Gieo hạt mới em ươm mầm trên cát
Đêm lại về thao thức một mình em…

Bởi yêu nghề đất lạ hóa thành quen
Như cuộc đời dẫu quen hóa lạ
Ta vẫn chờ dù ngàn sau hóa đá
Lại tìm về Quan Họ hát giao duyên

Xin một lần anh ghé đến hội Lim
Theo câu hát anh tìm người Quan Họ
Nắng tắt, hội tàn bạn về qua ngõ
Ai lặng thầm câu hát lý thương nhau?

                                                     V.Â


NGUYỄN QUANG NAM
Phòng GD&ĐT Hải Lăng

TÌM LẠI DẤU CHÂN                                                  
Mến tặng mái trường Trung học yêu dấu

Về tìm lại dấu chân xưa
Ướt mềm trên cỏ cỏ lùa bàn chân
Bước thầy cô, bước bạn thân
Hai mươi năm ấy đã gần hóa xa.

Bước chân em bước đợi chờ
Dùng dằng lối cũ ngẩn ngơ lá vàng
Nỗi niềm chân bước lang thang
Tiếng ai trong gió miên man cõi lòng. 

Ve ơi nắng cháy phượng hồng
Rưng rưng sắc đỏ nâng lòng bàn tay
Cài hoa lên mái tóc mây
Ngậm ngùi lưu bút từ đây giã từ.

Bước chân… chân bước… thẫn thờ
Tìm về kỷ niệm mộng mơ một thời
Tuổi xanh áo trắng xa rồi
Còn trong sâu thẳm những lời yêu thương…

                                                        N.Q.N


NGUYỄN THÀNH LIÊM
GV Tiểu học Thị trấn Hải Lăng

BÓNG THỜI GIAN
  
Chiều thu vàng nắng ngẩn ngơ
Hồn ai vương mãi vu vơ nỗi buồn
Bâng khuâng tìm lại cố hương
Tìm trong xa vắng vấn vương ngày nào!
Đông về lòng những ước ao
Tóc ai hóng gió má đào ngày xuân
Ngỡ như xa thoáng như gần
Nhớ thời áo trắng trong ngần lối ra
Em về  thuở ấy kiêu sa
Bóng thời gian ấy ru ta hạ về ...

                                              N.T.L
                                              11/2012





READ MORE - CHÙM THƠ CỦA THẦY CÔ GIÁO HUYỆN HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ - Văn Ẩm - Nguyễn Quang Nam - Nguyễn Thành Liêm

MÙA THU XA XỨ - thơ Hoàng Đình Quang

Mùa đông ở Hartford, Connnecticut, USA.
Ảnh từ trang National Geographic Magazine


Rừng cây xanh lá đỏ lá vàng
Mùa thu về trên vùng Hartford
Ngọn gió đông từ đâu về tha thướt
Nhẹ nhàng lay những cuống lá cuối cùng
Một mùa đông Hartford sắp đến gần
Trời vẫn trong những mảng màu mây trắng
Bông tuyết rơi như những chùm pháo sáng
Lạnh hồn tôi cô quạnh giữa trời Tây
Tôi nhớ về những ngọn gió heo may
Thuở còn thơ co ro trong chăn mỏng
Trời Quảng Trị mùa đông chắc lạnh lắm ?
Nhưng không bằng cái lạnh kẻ xa quê
Price Blvd vẫn sáng như mọi khi
Nhưng tuyết phủ mênh mông một màu trắng
Người xa xứ lẻ loi buồn câm lặng
Tôi nhớ nhiều hình ảnh của quê hương
Những anh em bè bạn thân thương
Quây quần bên tách cà phê còn nóng hổi
Nhưng ở đây người người đều rất vội
Làm gì có thời gian ngồi lại với nhau ?
Như ở quê có tuyết trắng một màu
Anh em sẽ ngồi với nhau quên ngày tháng
Những bông tuyết đua nhau khoe sắc trắng
Bay nhẹ nhàng rất đẹp trong không trung
Nhưng lòng tôi trĩu nặng nỗi u buồn
Của một kẻ tha hương trên xứ lạ.

Connecticut –USA ngày 08/11/2012
HOÀNG ĐÌNH QUANG
hoangdinhquang1@yahoo.com



READ MORE - MÙA THU XA XỨ - thơ Hoàng Đình Quang

Friday, November 9, 2012

KHÔNG NGOẢNH LẠI MỘT LẦN - Thơ: Nguyễn Ngọc Hưng - Nhạc: Thế Bảo - Ca sĩ: Cẩm Vân





Nguyễn Ngọc Hưng 
Thị trấn Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quãng Ngãi 

Email: nguyenngochung204@gmail.com 
ĐT: +84 55 3861312
READ MORE - KHÔNG NGOẢNH LẠI MỘT LẦN - Thơ: Nguyễn Ngọc Hưng - Nhạc: Thế Bảo - Ca sĩ: Cẩm Vân

CHỢ CẦU - Linh Đàn

Chợ Cầu ngày nay


Hồi xưa Linh Đàn đi học lớp Đồng Ấu trường Gio Linh gần đình làng Hà Thượng, trước cổng trường là Chợ Cầu, chính giữa chợ có hai cây đa thật lớn nhang khói suốt ngày, người bán hàng ở đó họ tin tưởng vào Thần Cây Đa, nên mỗi khi soạn hàng ra bán là lo việc CẦU NGUYỆN mua may bán đắt, nên có tên là CHỢ CẦU. Chợ nầy có từ xa xưa, nghe người ta kể lại, Quan Tri Huyện Gio Linh khoảng những năm 1930 là ông Lê Định thấy hai cây đa giữa chợ bị trảy nhánh nên ông có vịnh bài thơ:

    Đề Vịnh Cây Đa

Trách tay rìu búa bạc như vôi
Cổ thụ sum sê trảy nhánh rồi
Hàng quán chói chang vì nắng hắt
Dãy lầu mừng rỡ hết cành rơi
khiến chim ngơ ngác nhìn nơi đậu
Dục khách bâng khuâng lạ chỗ ngồi
Trơ trọi một thời quen vẫn chịu
Rồi đây cây sẽ nẩy trăm chồi

             
Vào năm 1958, ngôi chợ nầy được dời qua bãi cát Hao Hao cùng lúc dời quận lỵ Gio Linh. Đến năm 1967, chiến tranh bạch hóa Gio Linh, Trung Lương nên dời chợ vào bãi cát Hà Thanh là Quán Ngang. Sau năm 1975, Chợ Cầu được đặt tại Quán Phượng là ngôi chợ hiện hữu ngày nay.

                                           Linh Đàn
linhdanhk@gmail.com
READ MORE - CHỢ CẦU - Linh Đàn

CHUYỆN KHUẤT NGUYÊN - thơ Thế Lộc












Đêm nằm nghiêng canh Vạc
Nghe lá Thu vàng rơi
Gió về gieo nốt nhạc
Mang hơi thở chơi vơi


Cõi lòng nghe tan nát
Khuất Nguyên, Khuất Nguyên ơi,
Một Người đi gieo hạt
Nằm chết không trối lời


Hạt nẩy mầm xanh tốt
Bám xác chết lên khơi
Rể ăn nhiều cho trái
Hồn người gieo cuối trời .
  
THẾ LỘC
theloc108@yahoo.com.vn
READ MORE - CHUYỆN KHUẤT NGUYÊN - thơ Thế Lộc

TRẢ LẠI TÊN EM - thơ Vĩnh Thuyên



(Cảm ơn “Người đàn bà đuổi theo vầng trăng” - Truyện Nguyễn Thị Mây)


Em chạy theo vầng trăng
Những giọt trăng màu tím
Giăng giăng khắp đời
Mang theo nước mắt
ướt vạt áo em
Tội tình...


Em chạy theo ước mơ
Lắm khi không thật
Anh ơi!
Không ước mơ em không sống nổi
Vì yêu anh là điều có thật
Mà thật...phũ phàng


Em chạy theo giòng sông
Có con sông nào không cong không lượn
Và cuộc tình nào không dỗi thành thương
Hạnh phúc đâu ai cho
Tự nhận
Giờ không của hai, còn một của anh


Em chạy theo biển
Đuổi theo vầng trăng
Những giọt trăng tím vàng
Mong manh tuyệt vọng
Biển không gọi
Em vội về....
Vụn vỡ


Tóc thôi bay bềnh bồng sóng vỗ
Biển nghẹn ngào !
Trả lại tên em


Tây Ninh 11/2012
VĨNH THUYÊN
duongvinhthuyen@gmail.com
READ MORE - TRẢ LẠI TÊN EM - thơ Vĩnh Thuyên

MỘT THOÁNG TÂY NGUYÊN - Phạm Hòa Việt



Đường xuyên Buôn sóng lượn
Mưa nhẹ phủ Tây Nguyên
Chiều mùa thu lơ lửng
Hoa bằng lăng vệ đường... 

Ngừng chân vùng lũ cuốn
Gỗ vạn khúc bồng bềnh
Dáng thuyền ai cập bến
Rừng đầu nguồn nhẹ tênh...

Cầu treo chia mấy ngả
Lạc bước giữa thiên thai
Gió cuộn hương trong lá
Rượu đắng lại mềm môi...

Gập gềnh chân voi bước
Qua sông cạn chia dòng
Lắng nghe tiếng chim hót
Giữa cánh rừng mênh mông...

Rừng cao su tơi tả
Dưới bầu trời xanh trong
Có ai đang thổn thức
Trắng đêm trắng cõi lòng...

Nhớ ai ngoài tĩnh thất
Mờ mờ bóng Hải Vân
Tìm em trong ánh mắt
Nắng ngập ngừng Tây Nguyên...

Tìm em  trong hơi thở
Cách biệt giữa muôn trùng
Biết bao giờ gặp lại
Gió lạnh lùng cuối đông...

Tìm em trong giấc ngủ
Chốn địa đàng hư không
Gặp nhau rồi lệ ứa
Phảng phất tiếng tơ lòng...

Bờ Y chiều lặng lẽ
Vắng bóng nàng Viên chăn
Vắng em Hà Nội phố
Vắng tháng ngày Hải Vân...

Đêm Tây Nguyên lướt thướt
Nâng chén Ama Công
Ngày mai xuôi phố núi
Rẽ lối giữa đôi lòng...

PHẠM HÒA VIỆT
READ MORE - MỘT THOÁNG TÂY NGUYÊN - Phạm Hòa Việt

CHÙM THƠ TRẠCH AN-TRẦN HỮU HỘI




Lầm lỡ!
        
Giữa đêm sâu hiu hắt
Hoang lạnh gió thu lùa
Gặp nhau đời nghiệt ngã
Cùng nhau qua tháng năm

*
Ta chia nhau cùng cực
Vất vả những ngày mưa
Những trưa hè nực nội
Bươn bả, mĩm môi cười!

*
Dòng đời trôi, trôi xuôi…
Khi bóng chiều lặng đến
Sau lưng ta quãng dài
Những khó khăn vừa qua

*
Mắt em long lanh ướt
Môi ta gợn chút hồng
Chợt ngoái đầu nhìn lại
Không phải ta vì nhau?!

*
Rời nhau một sớm mây mờ
Bước đi lần nữa sững sờ cho ai!
Có đâu ngày một ngày hai
Chia hai, đứng lặng giữa hai ngả đường

*
Ta đi, em thấy còn thương
Em về ta khóc, vấn vương trong lòng
Bao năm bỗng hóa thành không
Mắt xanh, môi tím… nhớ mong nhau về!

                                                                  Tháng VI.2012


  


                            Trả tình em lại cho đời
              
Em xanh xao đôi mắt
Hoàng hôn gọi mưa về
Ta vành môi tím tái
khô héo quá tình ôi!

Đường đời hoang liêu quá
Lấp lửng bước chân liều!
Gói tình em rong ruổi
Lơ láo giữa trầm luân

Em ơi, xin chớ khóc thầm
Một đời nặng nợ mấy lần xa nhau
Tắm trong từng giọt mưa ngâu
Lắm khi nén nỗi buồn đau một mình…

Thôi thì xin trả môi mềm
Trả đời em lại bên thềm cỏ khô
Một mai em ghé lại mồ
Xin khóc một tiếng mơ hồ ngàn sau!


                           Tháng VI-2012









READ MORE - CHÙM THƠ TRẠCH AN-TRẦN HỮU HỘI