Phạm Ngọc Cảnh với bài thơ
'Một tên làng Quảng Trị'
Phạm Xuân Dũng
QTO - Nhà thơ Phạm
Ngọc Cảnh (1934-2014)
Sinh ngày
20/7/1934 tại tỉnh Hà Tĩnh, sống và công tác ở Hà Nội nhiều năm.
Ông là hội viên Hội
Nhà văn Việt Nam (1974). Phạm Ngọc Cảnh còn có bút danh là Vũ Ngàn Chi.
Năm 2007, ông nhận
được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tập thơ: “Đêm Quảng Trị”,
“Lối vào phía Bắc”, “Trăng sau rằm”, “Nhặt lá”.
Báo Quảng Trị
08/04/2026
Sinh trưởng trong một gia đình hiếu học, Phạm Ngọc Cảnh được gia đình cho ăn học tử tế. Cách mạng tháng Tám thành công, Phạm Ngọc Cảnh mới 12 tuổi đã tình nguyện gia nhập hàng ngũ Vệ quốc quân, làm liên lạc viên, rồi tham gia vào đội tuyên truyền văn nghệ của Trung đoàn 103 Hà Tĩnh, tiếp đó lại trở thành diễn viên kịch nói.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông ở đoàn Văn công quân khu Trị Thiên, từng biểu diễn giữa thành phố Huế trong chiến dịch Mậu Thân. Về sau, ông là diễn viên trụ cột của đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị.
Nhưng rồi từ một
diễn viên chuyên nghiệp, ông trở thành nhà thơ như một điều không thể khác vì
những đam mê thi ca đã nung nấu nhiều năm. Ông trở thành một trong những nhà
thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều sáng tác của ông được công chúng thi ca nồng nhiệt đón nhận như bài thơ "Lý ngựa ô ở hai vùng đất", "Cô Tấm ở trong nhà"... là minh chứng.
Bài thơ "Một
tên làng Quảng Trị" viết năm 1984 là một sáng tác sau ngày nước nhà thống
nhất gần 10 năm, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã dần lùi vào ký ức.
Đây là một bài
thơ mộc mạc mà đáng nhớ về miền đất ông từng đi qua trong chiến tranh và gắn bó
lúc hòa bình.
Bài thơ như nhiều
tác phẩm khác của những nhà thơ áo lính, bắt đầu là những hoài niệm đằm sâu:
“Qua rất nhiều tháng
năm
hết sáng bình yên
lại chiều binh lửa
lòng ta chốt giữ
hai đầu
cái tên làng ở giữa"
Hình như không có
điều gì to tát cả. Một tên đất, một tên làng, thậm chí có thể là một ngôi làng
nhỏ như bao nhiêu ngôi làng khác mà người lính-người thơ đã đi qua. Nhưng,
không hiểu sao nó vẫn hiện về ám ảnh, vẫn thao thức, thúc giục người ta nhớ về
nó như là một hướng đi của cảm xúc không thể khác, từ những điều tưởng như quen
thuộc và rất đỗi bình thường:
"Ùa vào sâu
niềm tưởng nhớ
cái ta chưa để ý
một lần
cái không có tên
trên bản đồ chiến sự
ai hơi đâu mà
chép thêm vào lịch sử
lối rẽ vào làng
in dấu chân
mà chiều qua
trong một thoáng phân vân
đã chợt về nâng đỡ".
Có vẻ như không thể cắt nghĩa theo kiểu số học về những cảm xúc khó quên và khó tả, nhưng nó hiện hữu cụ thể, rất cụ thể. Và nói như tác giả, những điều có vẻ nhỏ nhặt, như không đáng kể, như không có ai để ý, lại có một bí ẩn sâu xa đeo đẳng tâm tư nhà thơ, nâng đỡ nhà thơ vào những khi tâm hồn chống chếnh:
“Mẹ chẳng cố
tình bắt ta lưu giữ
em không hề
khuyên
không bát về dâng
hương ngày giỗ kỵ
một tên làng Quảng
Trị
suốt đời đâu dám
quên".
Đúng vậy, tình cảm
là một trạng thái tinh thần tự nhiên, không thể gò ép, miễn cưỡng. Cả tên làng
và nỗi nhớ về
Quảng Trị cũng thế,
nó hình thành tự nhiên và ăn sâu vào tiềm thức, thành nỗi nhớ thương da diết,
sâu nặng, có khi theo suốt một đời người. Chính vì thế mà khi bắt đầu đoạn cuối
bài thơ trong xúc cảm dạt dào:
“ở với ta lúc vui
lúc buồn
lúc suôn sẻ lúc
cay đắng
không đòi trả ơn
mà nghĩa nặng
không ràng buộc
mà thân gần
không giao đãi ngọt
ngào mà lặng thấu
làm vốn nuôi con
làm quà tặng cháu".
Lời thơ tả thực,
chân chất như lúa, như khoai, như cát trắng bời bời Quảng Trị trong những tháng
ngày kháng chiến chống Mỹ. Tưởng chẳng có gì đáng nói nhiều, bởi không phải
thân hơi cật ruột, bởi cũng không phải là nơi chôn nhau cắt rốn... tưởng như chẳng
có gì ràng buộc, vậy mà sao cứ khiến lòng người nhớ thương da diết đến độ không
thể nào quên.
Hơn thế, còn trở
thành hành trang tinh thần quý giá, thành bảo vật tình nghĩa gia bảo truyền lại
cho đời sau. Tưởng là người dưng mà gắn bó lạ lùng. Có vẻ như nghịch lý vậy mà
vẫn dễ hiểu, dễ cảm, dễ sẻ chia bởi "Tình yêu làm đất lạ hóa quê
hương":
"Cái tên
làng Quảng Trị ấy thôi
cái tên làng Quảng
Trị đứng loi thoi
đọc bấy nhiêu trận
mạc
trắng phau doi
cát bồi".
Ở một nơi khí hậu
khắc nghiệt, thậm chí còn có thê đồng khô cỏ cháy, cát trắng đến nhức mắt người,
tướng như nắng gió, khô hạn sẽ khiến cho tình nghĩa dễ phôi pha. Thế nhưng trái
lại, đó là mảnh đất nghĩa tình, nảy lộc đâm chồi tình nghĩa quân dân trong thời
trận mạc, khi sống chết đổi thay trong nháy mắt. Những tình cảm, ơn nghĩa đã đền
bồi, đã giang rộng vòng tay kéo con người đến gần lại với nhau và trở nên thân
thiết như ruột thịt. Không ồn ào, không hoa mỹ, bộc trực và kiệm lời, thậm chí
có khi chẳng cần phải nói ra nhưng đã hiểu, đã kết giao thì yêu quý nhau đến tận
cùng. Quảng Trị, một mảnh đất quá đỗi lạ lùng, cứ vang lên không dứt trong tâm cảm
nhà thơ.
Hay có lẽ ông thấy
mảnh đất này có nhiều điểm tương đồng với quê mẹ của ông ở Hà Tĩnh.
"Một tên
làng Quảng Trị" với thi tứ và ngôn ngữ bình dị, cụ thể, chân thực và da diết
ân tình đã khắc họa tình cảm của một nhà thơ tên tuổi với mảnh đất này.
Phạm Xuân Dũng
——-
Bài thơ
MỘT TÊN LÀNG QUẢNG TRỊ
Qua rất nhiều
tháng năm
hết sáng bình yên
lại chiều binh lửa
lòng ta chốt giữ
hai đầu
cái tên làng ở giữa
Ùa vào sâu niềm
tưởng nhớ
cái ta chưa để ý
một lần
cái không có tên
trên bản đồ chiến sự
ai hơi đâu mà
chép thêm vào lịch sử
lối rẽ vào làng
in dấu chân
mà chiều qua
trong một thoáng phân vân
đã chợt về nâng đỡ
Mẹ chẳng cố tình
bắt ta lưu giữ
em không hề
khuyên
không bát về dâng
hương ngày giỗ kỵ
một tên làng Quảng
Trị
suốt đời đâu dám
quên
Ở với ta lúc vui
lúc buồn
lúc suôn sẻ lúc
cay đắng
không đòi trả ơn
mà nghĩa nặng
không ràng buộc
mà thân gần
không giao đãi ngọt
ngào mà lặng thấu
làm vốn nuôi con
làm quà tặng cháu
cái tên làng Quảng
Trị ấy thôi
cái tên làng Quảng
Trị đứng loi thoi
dọc bấy nhiêu trận
mạc
trắng phau doi
cát bồi.
1984
Phạm Ngọc Cảnh

No comments:
Post a Comment