SÔNG CÁNH HÒM
ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA
Trần Xuân An
dân dã tên sông, nhưng như huyền
thoại
chiếc rương tư trang bay bay: Cánh
Hòm
đặt bên Biển Đông, cánh đông biển
biếc
cánh tây Rừng Trúc, mặt trời chiều
hôm
sông quê mệ, song song bờ biển trắng
*
Thạch Hãn bắc qua Bến Hải thanh
ngang
Nhĩ Trung bên sông, An Cư liền mạch
tình ông Nguyễn buồn, nước mặn triều
dâng
ông Trần là gốc trúc, từ Rừng Trúc
*
suốt đời cưu mang chuyện tình Cánh
Hòm
rương tư trang, ngoài muối và cọng
chiếu
đâu chỉ lúa mặn mòi, khoai đậm thơm
thương kính chiếc rương, cũ xưa, nắp
kép
cùng chái tan, mệ chết, máu chảy
ròng
– đạn Pháp bắn bừa –, nát thư vuông
lụa
đọng tình An Cư - Nhĩ Trung, thắm
dòng
thư vuông lụa, gặp con, ông Nguyễn
nhắc
cũng đều hay, trong huyết tộc thân
sơ
mệ trung trinh dâu họ Trần đến mất
“sống gửi nạc, thác gửi xương”, nếp
xưa
từ nách cánh – Nhĩ Trung, đã cải
táng
quy tập về, trên đầu cánh – Trúc
Lâm
thăm ông mệ, ngỡ lăng như khoá mở
rương bồ câu bay, trải lòng trăm
năm *
Trúc Lâm vọng, sóng Cửa Tùng - Cửa
Việt
sông Cánh Hòm, biển Triệu Phong -
Gio Linh
rương tâm sự xưa: chim phơi đôi
cánh
rưng rưng Bến Hải - Thạch Hãn quê
mình
rương tâm sự bay, cứ như truyền
thuyết
chân đậu Nhĩ Trung, gác mỏ An Cư
một cánh biển xanh, thuở tình bát
ngát
một cánh Trúc Lâm, nghĩa nặng thiên
thu.
T.X.A.
07:24-10:01, 26-5-2018 HB18
................
(*) ~ Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, mệ
là bà, người phụ nữ già cỡ tuổi bà, như mệ nội (bà nội), mệ ngoại (bà ngoại), mệ
đồng hương... Nguyên quán của mệ là làng Nhĩ Trung. ~ Ông Trần, gọi đầy đủ và
chính xác: Ông Trần Xuân, vì họ là họ hai chữ: họ Trần Xuân. ~ Chim bồ câu trắng
là biểu tượng hoà bình trong tự do, chứ không phải hoà bình trong nô lệ.
Bổ sung chú thích ngày 17-04-2026:
Có thể hiểu thêm tên sông “Cánh
Hòm” với danh ngữ “hòm bộ” (hòm cũng là cái rương, cái tráp). Danh ngữ “hòm bộ”
được định nghĩa:
“Hòm bộ thường là một chiếc hộp gỗ
hoặc rương được sử dụng trong văn hóa truyền thống, đặc biệt tại các làng xã Việt
Nam, để lưu trữ các tài liệu quan trọng như sắc phong, văn tự Hán – Nôm, hoặc
gia phả, tộc phả".
Ngày 19-04-2026:
Sông Cánh Hòm
1) Hòm là rương, tráp tư trang,
nghiên bút, có loại có nắp kép; hòm bộ là hộp gỗ đựng sắc phong thần đình miếu,
đựng tộc phả, gia phả, có thể cũng nắp kép. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, trong ngôn
ngữ thường ngày, người ta vẫn dùng từ ghép “rương hòm”, “hòm bộ”, và cả “hòm an
táng” dành cho người chết (quan tài). Các tỉnh ngoài Bắc còn dùng: “hòm thư”,
“hòm công đức”…
Nghĩa chung, hòm là hộp gỗ, thùng gỗ
tuỳ kích cỡ, còn các nghĩa cụ thể kể trên thì tuỳ ngữ cảnh, tuỳ từ ghép thêm.
2) Ai cũng dùng danh ngữ “cánh cửa”
(cửa ra vào, cửa sổ), "cánh tủ" (cánh cửa của cái tủ). Vì thế, “cánh
hòm” (nắp hộp mở ra đóng lại như cánh cửa nhà — cửa đơn, cửa kép, còn gọi là cửa
đôi; như cánh cửa tủ…) không có gì xa lạ.
3) Nhìn bản đồ: Chúng ta thấy dải bờ
biển từ Cửa Tùng đến Cửa Việt như một đường thẳng tắp; sông Cánh Hòm cũng chảy
trên một trục thẳng dù có lượn sóng chút ít, song song với dải bờ biển Cửa Tùng
– Cửa Việt. Hình chiếc hòm bộ: Hình chữ nhật có hai cạnh dài là dải bờ biển Cửa
Tùng – Cửa Việt và sông Cánh Hòm, hai cạnh ngắn là hai khúc cuối sông Bến Hải
và sông Thạch Hãn. *
T.X.A.
19-04-2026
…………….
(*) Theo nhà nghiên cứu Yến Thọ (Lê
Đức Thọ): “CÁNH HÒM vốn là KÊNH HÀM – một nhánh sông đi qua làng Hàm Hoà nên gọi
là KÊNH HÀM, còn có tên là KÊNH BA LÒNG. Từ Kênh Hàm được đọc trại ra thành
Cánh Hòm” và “Hàm Hoà/Hàm Thời Hoà/Thì Hoà là Xuân Hoà và Hải Chử nay. Sông
Cánh Hòm xuất nguồn từ sông Hồi/Minh Lương/Hiền Lương/Bến Hải tại làng Hải Chử
rồi chảy về phía nam qua các làng vùng đông Do Linh (Gio Linh) nối với sông Thạch
Hãn ở làng Mai Xá/Mai Xá Thị/Phường Hàng – 1 thương điếm/emporium/cảng thị cổ”.
(Có thể xem tại: Lê Đức Thọ,
"Khảo về Quảng Trị xưa", Nxb. Dân Trí, 2024, tr.80 ở cước chú —
tr.89).
.
Cứ ghi nhận ý của anh Yến Thọ như
thế, ngoại trừ sông Cánh Hòm nhận nước một đầu là sông Bến Hải. Thật ra nó chịu
ảnh hưởng thuỷ triều của cả đầu kia là sông Thạch Hãn, tương tự như sông Trường
Giang ở Quảng Nam.
Về địa danh (Hàm = Hòm = cái tráp,
cái rương), tôi muốn giải thích theo hình dạng địa lí.
Cái hòm bộ có một cánh (nắp) là Biển
Đông và một cánh (nắp) là Trúc Lâm. Nhìn vào bản đồ thì y như vậy. Đó là hình
tượng có chất thơ.
Cứ liệu này bổ sung cho cứ liệu
kia.
.
Tôi có đối chiếu với bản chữ Hán và
bản dịch của ông Lê Xuân Giáo (Lê Quý Đôn, "Phủ biên tạp lục", tập 1,
Tủ sách cổ văn - Uỷ ban dịch thuật Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản,
Sài Gòn - 1972, tr.174-175 (bản dịch tiếng Việt), tr.67b (bản chữ Hán), thấy rằng:
Kênh CỨC chứ không phải kênh HÀM (các bản dịch khác thì vẫn kênh HÀM). Xin xem
hai trang chụp ở phần ảnh bên dưới (h.5 và h.6):
Đọc lầm chữ HÀM với chữ CỨC
凾 (Hàm: cái tráp).
亟 (Cức: cần kíp).
.
Tham khảo thêm:
"Đại Nam nhất thống chí"
do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tập 1, Nxb. Thuận Hoá 1992, tr.155:
Kênh MAI XÁ với các địa danh Nhĩ (Nhị) Hạ, Hà Trung, Bến Ngự...
.
Gút lại, địa danh Kênh Mai Xá, Kênh
Hàm đã chìm khuất dưới địa danh Sông Cánh Hòm. Và chữ Hàm trong Kênh Hàm là chữ
Hàm 凾
với nghĩa là cái Hòm (cái rương, cái tráp), Hòm bộ (cái tráp đựng sắc phong...)
chứ không phải chữ Hàm nào khác. Tứ thơ tôi viết là từ sự thật gia phả và từ ba
vế "Hàm = Hòm = cái rương, cái tráp" ấy và trên cơ sở bản đồ về hình
dạng địa lí hình chữ nhật có hai cạnh dài là dải bờ biển Cửa Tùng - Cửa Việt và
sông Cánh Hòm, hai cạnh ngắn là hai khúc cuối sông Bến Hải và sông Thạch Hãn
như đã viết bên trên.
T.X.A.
.
Nguồn:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058080964465844/

No comments:
Post a Comment