Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 30, 2026

SÔNG CÁNH HÒM ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA - Thơ: Trần Xuân An




SÔNG CÁNH HÒM

ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA

Trần Xuân An


dân dã tên sông, nhưng như huyền thoại

chiếc rương tư trang bay bay: Cánh Hòm

đặt bên Biển Đông, cánh đông biển biếc

cánh tây Rừng Trúc, mặt trời chiều hôm

sông quê mệ, song song bờ biển trắng *

Thạch Hãn bắc qua Bến Hải thanh ngang

Nhĩ Trung bên sông, An Cư liền mạch

tình ông Nguyễn buồn, nước mặn triều dâng

ông Trần là gốc trúc, từ Rừng Trúc *

suốt đời cưu mang chuyện tình Cánh Hòm

rương tư trang, ngoài muối và cọng chiếu

đâu chỉ lúa mặn mòi, khoai đậm thơm

thương kính chiếc rương, cũ xưa, nắp kép

cùng chái tan, mệ chết, máu chảy ròng

– đạn Pháp bắn bừa –, nát thư vuông lụa

đọng tình An Cư - Nhĩ Trung, thắm dòng

thư vuông lụa, gặp con, ông Nguyễn nhắc

cũng đều hay, trong huyết tộc thân sơ

mệ trung trinh dâu họ Trần đến mất

“sống gửi nạc, thác gửi xương”, nếp xưa

từ nách cánh – Nhĩ Trung, đã cải táng

quy tập về, trên đầu cánh – Trúc Lâm

thăm ông mệ, ngỡ lăng như khoá mở

rương bồ câu bay, trải lòng trăm năm *

Trúc Lâm vọng, sóng Cửa Tùng - Cửa Việt

sông Cánh Hòm, biển Triệu Phong - Gio Linh

rương tâm sự xưa: chim phơi đôi cánh

rưng rưng Bến Hải - Thạch Hãn quê mình

rương tâm sự bay, cứ như truyền thuyết

chân đậu Nhĩ Trung, gác mỏ An Cư

một cánh biển xanh, thuở tình bát ngát

một cánh Trúc Lâm, nghĩa nặng thiên thu.


T.X.A.

07:24-10:01, 26-5-2018 HB18

................

(*) ~ Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, mệ là bà, người phụ nữ già cỡ tuổi bà, như mệ nội (bà nội), mệ ngoại (bà ngoại), mệ đồng hương... Nguyên quán của mệ là làng Nhĩ Trung. ~ Ông Trần, gọi đầy đủ và chính xác: Ông Trần Xuân, vì họ là họ hai chữ: họ Trần Xuân. ~ Chim bồ câu trắng là biểu tượng hoà bình trong tự do, chứ không phải hoà bình trong nô lệ.

Bổ sung chú thích ngày 17-04-2026:

Có thể hiểu thêm tên sông “Cánh Hòm” với danh ngữ “hòm bộ” (hòm cũng là cái rương, cái tráp). Danh ngữ “hòm bộ” được định nghĩa:

“Hòm bộ thường là một chiếc hộp gỗ hoặc rương được sử dụng trong văn hóa truyền thống, đặc biệt tại các làng xã Việt Nam, để lưu trữ các tài liệu quan trọng như sắc phong, văn tự Hán – Nôm, hoặc gia phả, tộc phả".

Ngày 19-04-2026:

Sông Cánh Hòm

1) Hòm là rương, tráp tư trang, nghiên bút, có loại có nắp kép; hòm bộ là hộp gỗ đựng sắc phong thần đình miếu, đựng tộc phả, gia phả, có thể cũng nắp kép. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, trong ngôn ngữ thường ngày, người ta vẫn dùng từ ghép “rương hòm”, “hòm bộ”, và cả “hòm an táng” dành cho người chết (quan tài). Các tỉnh ngoài Bắc còn dùng: “hòm thư”, “hòm công đức”…

Nghĩa chung, hòm là hộp gỗ, thùng gỗ tuỳ kích cỡ, còn các nghĩa cụ thể kể trên thì tuỳ ngữ cảnh, tuỳ từ ghép thêm.

2) Ai cũng dùng danh ngữ “cánh cửa” (cửa ra vào, cửa sổ), "cánh tủ" (cánh cửa của cái tủ). Vì thế, “cánh hòm” (nắp hộp mở ra đóng lại như cánh cửa nhà — cửa đơn, cửa kép, còn gọi là cửa đôi; như cánh cửa tủ…) không có gì xa lạ.

3) Nhìn bản đồ: Chúng ta thấy dải bờ biển từ Cửa Tùng đến Cửa Việt như một đường thẳng tắp; sông Cánh Hòm cũng chảy trên một trục thẳng dù có lượn sóng chút ít, song song với dải bờ biển Cửa Tùng – Cửa Việt. Hình chiếc hòm bộ: Hình chữ nhật có hai cạnh dài là dải bờ biển Cửa Tùng – Cửa Việt và sông Cánh Hòm, hai cạnh ngắn là hai khúc cuối sông Bến Hải và sông Thạch Hãn. *

T.X.A.

19-04-2026

…………….

(*) Theo nhà nghiên cứu Yến Thọ (Lê Đức Thọ): “CÁNH HÒM vốn là KÊNH HÀM – một nhánh sông đi qua làng Hàm Hoà nên gọi là KÊNH HÀM, còn có tên là KÊNH BA LÒNG. Từ Kênh Hàm được đọc trại ra thành Cánh Hòm” và “Hàm Hoà/Hàm Thời Hoà/Thì Hoà là Xuân Hoà và Hải Chử nay. Sông Cánh Hòm xuất nguồn từ sông Hồi/Minh Lương/Hiền Lương/Bến Hải tại làng Hải Chử rồi chảy về phía nam qua các làng vùng đông Do Linh (Gio Linh) nối với sông Thạch Hãn ở làng Mai Xá/Mai Xá Thị/Phường Hàng – 1 thương điếm/emporium/cảng thị cổ”.

(Có thể xem tại: Lê Đức Thọ, "Khảo về Quảng Trị xưa", Nxb. Dân Trí, 2024, tr.80 ở cước chú — tr.89).

.

Cứ ghi nhận ý của anh Yến Thọ như thế, ngoại trừ sông Cánh Hòm nhận nước một đầu là sông Bến Hải. Thật ra nó chịu ảnh hưởng thuỷ triều của cả đầu kia là sông Thạch Hãn, tương tự như sông Trường Giang ở Quảng Nam.

Về địa danh (Hàm = Hòm = cái tráp, cái rương), tôi muốn giải thích theo hình dạng địa lí.

Cái hòm bộ có một cánh (nắp) là Biển Đông và một cánh (nắp) là Trúc Lâm. Nhìn vào bản đồ thì y như vậy. Đó là hình tượng có chất thơ.

Cứ liệu này bổ sung cho cứ liệu kia.

.

Tôi có đối chiếu với bản chữ Hán và bản dịch của ông Lê Xuân Giáo (Lê Quý Đôn, "Phủ biên tạp lục", tập 1, Tủ sách cổ văn - Uỷ ban dịch thuật Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, Sài Gòn - 1972, tr.174-175 (bản dịch tiếng Việt), tr.67b (bản chữ Hán), thấy rằng: Kênh CỨC chứ không phải kênh HÀM (các bản dịch khác thì vẫn kênh HÀM). Xin xem hai trang chụp ở phần ảnh bên dưới (h.5 và h.6):

Đọc lầm chữ HÀM với chữ CỨC

凾 (Hàm: cái tráp).

亟 (Cức: cần kíp).

.

Tham khảo thêm:

"Đại Nam nhất thống chí" do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tập 1, Nxb. Thuận Hoá 1992, tr.155: Kênh MAI XÁ với các địa danh Nhĩ (Nhị) Hạ, Hà Trung, Bến Ngự...

.

Gút lại, địa danh Kênh Mai Xá, Kênh Hàm đã chìm khuất dưới địa danh Sông Cánh Hòm. Và chữ Hàm trong Kênh Hàm là chữ Hàm 凾 với nghĩa là cái Hòm (cái rương, cái tráp), Hòm bộ (cái tráp đựng sắc phong...) chứ không phải chữ Hàm nào khác. Tứ thơ tôi viết là từ sự thật gia phả và từ ba vế "Hàm = Hòm = cái rương, cái tráp" ấy và trên cơ sở bản đồ về hình dạng địa lí hình chữ nhật có hai cạnh dài là dải bờ biển Cửa Tùng - Cửa Việt và sông Cánh Hòm, hai cạnh ngắn là hai khúc cuối sông Bến Hải và sông Thạch Hãn như đã viết bên trên.

T.X.A.

.

Nguồn: 

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058080964465844/


No comments: