Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, May 25, 2024

NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng

 

Sông Cánh Hòm chảy qua làng Rừng Sác làng Nhĩ Thượng. Ảnh Phạm Xuân Dũng


NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM

Phạm Xuân Dũng

 

Trong “gia đình” các dòng sông ở Quảng Trị, sông Cánh Hòm có vẻ khiêm nhường bên cạnh những chị em tên tuổi như Hiền Lương, Thạch Hãn…

 

Chính vì vậy, chúng tôi đã dành năm ngày đi theo dòng sông làm ký sự truyền hình để sẻ chia đến khán giả. Làng Mai Xá Thị, xã Gio Mai là nơi hợp lưu 3 con sông Quảng Trị: Thạch Hãn, Hiếu Giang và Cánh Hòm.

 

Sông Cánh Hòm đặc biệt, khác với những con sông còn lại ở tỉnh Quảng Trị. Sông tự nhiên thì Hiền Lương, Hiếu Giang, Thạch Hãn, Ô Lâu… riêng sông đào thì có Vĩnh Định được trang trọng khắc trên vạc đồng ở kinh thành Huế. Chỉ có Cánh Hòm một nửa trời sinh, một nửa người đào mà thành nhưng nhân tạo lớn hơn thiên phú. Sông Cánh Hòm nằm gọn trong địa phận huyện Gio Linh, dài 11km, nếu tính cả chi lưu độ dài phải gấp đôi, chảy qua các xã đồng bằng phía đông của huyện, tưới mát cho biết bao đồng lúa.


Xưa chuyện khai sơn phá thạch, dời non lấp bể là đại sự trong thiên hạ, ít ra cũng là việc trọng của một vương triều. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1651) sông này đã được khai thông ít nhiều, nhưng phải đợi đến triều vua Minh Mạng thì việc lớn mới thành. Khi ấy triều đình mở một con đường thủy từ kinh sư theo Vĩnh Định ra đến Cửa Việt theo dòng Cánh Hòm gặp sông Bến Hải, thậm chí còn ra đến tận Quảng Bình cũng theo vẫn theo con nước, để bậc đế vương tuần du, thăm thú rồi nghỉ lại Cửa Tùng - nơi người Pháp nịnh đầm có lý khi xướng danh "nữ hoàng của các bãi tắm". Đầu thế kỷ hai mươi, vua Duy Tân có lần ra Cửa Tùng tiếng là đi chơi để che mắt Pháp nhưng kỳ thực là tìm gặp những nhân sĩ yêu nước như cụ Khóa Bảo Nguyễn Hữu Đồng ở Cam Lộ để mật bàn quốc sự khởi nghĩa chống quân xâm lược. Việc lớn bất thành cả cả vua lẫn tôi đều bị giặc Pháp giam vào ngục thất. Dấu tích vua chúa ngày xưa nay đã nhạt nhòa nhưng thú vị là vẫn còn một địa danh đọc lên nghe rất Huế vì gắn liền với quân vương, ấy là cầu Bến Ngự thuộc xã Gio Mỹ, bắc qua sông Cánh Hòm chảy suốt thời gian, chở đầy ký ức. 

 

Sông Cánh Hòm chảy qua làng Bách Lộc. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Hôm tôi về Mai Xá Thị nhằm ngày rằm tháng Giêng tức Tết Nguyên Tiêu tận mắt chứng kiến nhiều sự lạ. Dân làng chỉ cho tôi cây ngô đồng cổ thụ như trong thơ Bích Khê, có mặt từ thời vua Tự Đức. Thời chiến loạn mảnh bom đạn giắt đầy thân cây, tưởng đâu không qua khỏi nhưng thật không ngờ vẫn sống xanh tươi cho đến hôm nay. Vào trong đình lại thấy thờ cả danh thần Trần Đình Ân vốn là cụ Thượng làng Hà Trung của xã Gio Châu. Hỏi ra mới biết, xưa làng Mai Xá Thị dính vào một vụ đáo tụng đình đất đai oái ăm, may nhờ đại thần Trần Đình Ân thương dân nên tạo phúc giúp cho làng này thắng kiện, tìm được lẽ phải. Sau khi cụ Trần Đình Ân qua đời, bài vị của vị đại quan từ đó được nơi đây phụng thờ hương khói.


Sông Cánh Hòm, đoạn chảy qua làng Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
 

Lần theo con nước qua làng Lâm Xuân xưa là làng chiếu nổi danh để gặp một lão nông tri điền yêu đất đai như là máu thịt đời mình. Ông Trần Xuân Thắng, tuổi ngoại bát tuần nhưng dáng vẻ vẫn vững chãi, gương mặt tinh anh. Nhà ông như một bảo tàng nhỏ nông cụ, những vật dụng thiết thân với nhà nông như miếng cơm, manh áo hàng ngày. Tôi vốn không lạ gì với những vật dụng này nhưng nghe ông Thắng say sưa giảng giải từ cày đến bừa, từ cuốc chỉa đến cuốc bàn, từ trang đến nát… lòng không khỏi khâm phục một hiện thân nhân văn và sinh động của văn minh lúa nước sống dọc theo sông Cánh Hòm.

 

Về Nhĩ Thượng thuộc xã Gio Mỹ  khi mùa lúa đang đến. Những cánh đồng trải dài trong nắng hạ, hứa hẹn một năm bội thu của nhà nông khi ruộng tắm mát nước sông Cánh Hòm, khám phá thêm nhiều bí ẩn kỳ thú của thiên nhiên. Ông Nguyễn Thành, vốn là trưởng thôn vui vẻ dẫn chúng tôi ra thăm giếng cổ của làng. Chiều sâu của giếng chỉ khoảng hai gang tay mà lạ chưa nước hàng trăm năm nay khi bao giờ vơi cạn, kể cả những năm hạn hán kỷ lục. Ông Thành vừa chỉ tay giới thiệu vừa nói không giấu nổi vẻ tự hào: “Giếng sâu chỉ chừng đó thôi nhưng nắng mấy cũng không bao giờ cạn, nước ngọt mát vô cùng. Dân làng lấy nước này nấu rượu vào những dịp cúng tế trang trọng”.

 

Chúng tôi lại chèo ghe vào rừng Sác, một cánh rừng ngập mặn dọc theo sông Cánh Hòm - đoạn này dài đến 3km chạy dài lên đến cầu Bến Ngự mới dừng lại. Cần nói thêm rằng, sau này do làm thủy lợi vào thập niên 80 của thế kỷ trước nên dòng nước đã thành dòng nước ngọt, đây cũng là một nét độc đáo trong thay đổi địa chất thủy văn cần các nhà chuyên môn tìm hiểu. Vì cho đến nay vẫn chưa có một giải đáp khoa học về sự ra đời và phát triển của khu rừng kỳ lạ này. Chỉ biết rằng dù nước thay đổi nhưng cây cối vẫn thích nghi và xanh tốt như thường, như chẳng có chuyện gì xảy ra, thậm chí mới đây còn thu hút nhiều chim quý hiếm. Đây chính là lá phổi xanh điều hòa sinh thái cho ngôi làng Nhĩ Thượng, một báu vật trời cho từ ngàn đời nay cần gìn giữ như chính ngôi nhà của mỗi gia đình. Anh Nguyễn Văn Mãi, người dân địa phương vừa chèo ghe vừa nói: “Có được Sác này là quý giá nên bà con ở đây rất có ý thức giữ gìn”.


Dân chài làng Bách Lộc đánh bắt thủy sản trên sông Cánh Hòm. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Có thể khẳng định địa danh rừng Sác là độc nhất vô nhị ở Quảng Trị, vì ngay cả cù lao Bắc Phước với rừng cây ngập mặn như cây bần cũng không mang tên gọi như vậy. Cách gọi này làm ta nhớ đến ngay địa danh Rừng Sác ở hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai mà tên gọi chính thức là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ. Và nhân tiện cũng cải chính sự nhầm lẫn có thể xảy ra với một vài người. Đó là thay vì gọi rừng Sác. Họ lại gọi nhầm thành rừng Sát. Hơn nữa gọi rừng Sác nhưng lại không có loại cây nào gọi là cây Sác cả. Chuyện này cũng tạo nên những lý giả tốn nhiều giấy mực. Theo một học giả uy tín An Chi  thì sác được giảng là ”rừng nước mặn (ở gần biển)”. Tất cả đều có một nét nghĩa chung là ”rừng ngập ngụa”. Đây chính là nghĩa gốc của từ sác trong phương ngữ Nam Bộ.

 

Bên cạnh rừng ngập mặn nguyên sinh, Nhĩ Thượng còn có một rừng tràm tự nhiên với diện tích lên đến 10ha nằm trên đồi cát cũng không xa cao điểm 31 thuộc hệ thống di tích của hàng rào điện tử Mcnamara. Rừng tràm trải rộng theo những cồn cát, địa hình cũng nhấp nhô, uốn lượn. Đi bộ vào rừng hay nhìn từ trên cao đều khiến người xem không khỏi ngạc nhiên. Đây cũng là một ân tứ của thiên nhiên. Vì ở những cồn cát, trảng cát được mệnh danh là tiểu sa mạc hay tiểu bán sa mạc trong thời tiết nắng lửa gió Lào nếu không có những cỗ máy thiên nhiên xanh như rừng tràm thì ắt hẳn quá trình sa mạc hóa chỉ còn là chuyện thời gian. Được biết cơ quan kiểm lâm địa phương đã bàn giao rừng tràm cho thôn quản lý. Kinh nghiệm thực tế cho hay không ai giữ rừng nói riêng và tài nguyên khoáng sản nói chung bằng người dân bản địa.

 

Ông Nguyễn Thành đã thay mặt bà con mong mỏi như vậy. Ông còn nói thêm những lời chân tình gan ruột: “Nếu làm được du lịch để du khách về tham quan  giếng cổ, rừng Sác, rừng tràm, rồi lên cao điểm 31 và cả sông Cánh Hòm nữa thì tôi chắc chắn quê nhà sẽ đổi khác”.


 

Ngã ba sông, đoạn cuối sông Cánh Hòm đổ ra sông Hiền Lương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Rong ruổi suốt mấy ngày trời, rồi cũng gặp chuyện hay sông Cánh Hòm ở làng chài Bách Lộc thuộc xã Trung Hải. Làng được hình thành vào thế kỷ 18. Theo lời kể ông Lê Viết Trinh, quá vãng đã xa lại về trong phút chốc. Thời ấy ông tiền khai khẩn Trần  Hiếu năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) đã tập hợp dân chài từ phá Tam Giang xứ Huế đến Bến Quan (Vĩnh Linh) quyết tạo dựng cuộc sống lâu dài. Họ nương náu theo sông Cánh Hòm, cũng rày đây mai đó, thường neo đậu đoạn eo làng Xuân Mỵ văn chương nức tiếng. Thấy vạn chài không một tấc đất cắm dùi, lênh đênh gian khó, bà con Xuân Mỵ thương tình đã nhượng lại hai mẫu đất giữa làng cho bà con ngư dân phơi lưới, lâu dần thành đất sinh cư tử táng. Tình nghĩa đồng bào đã làm nên một hiện tượng đặc biệt: làng Bách Lộc phái sinh từ làng Xuân Mỵ, hay như có người đã nói: làng mọc giữa làng. Khi tôi theo anh Trần Văn Sắt trên chiếc thuyền bủa lưới trên sông, mới biết thêm rằng bà con Bách Lộc xa xứ vào tận huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận dù lo toan cơm áo vẫn không nguôi nhớ về quê cũ. Họ đặt tên làng nơi đất mới là Bách Lộc. Vậy là có một núm ruột sông Cánh Hòm (Quảng Trị) an cư lạc nghiệp vùng cực nam Trung Bộ.


Dân làng Mai Xá Thị trước đình làng. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Hôm về làng Thủy Khê, xã Gio Mỹ không còn dệt chiếu mới hiểu thêm dâu bể của dòng sông. Ông Lê A, một bậc cao niên vừa bẻ những cọng cói còn sót lại bên sông xưa thuyết minh về nghề trồng cói nay chỉ còn trong nỗi nhớ của những người lớn tuổi. Mắt ông trong chiều sáng lên khi nhắc đến những ngày chưa xa lắm khi làng còn trồng cói. Nắng chiều chiếu rọi gương mặt thời gian từng đường nét như điêu khắc dung mạo một nhân chứng Cánh Hòm. Tự dưng lại nhớ mấy câu trong bài thơ "Sông Lấp" của cụ Tú Xương mà hoang mang da diết: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..."

 

Tác giả Phạm Xuân Dũng

Khi đứng phía bắc cầu Bến Hải, ngắm nhìn ngã ba sông Cánh Hòm nhập vào con nước Hiền Lương tôi chợt nhận ra rằng không chỉ nhân sinh mới cần bầu bạn mà thiên nhiên cũng luôn hướng đến sự giao lưu hòa hợp để khai thông huyệt đạo của mình. Những dòng nước dù mải miết quanh co, phiêu lưu tưởng chừng vô định rồi bằng một cách nào đó, cũng tìm đến với nhau, giang rộng vòng tay như người gặp được người…

 

 Phạm Xuân Dũng

Nguồn: https://vietnamnet.vn
READ MORE - NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng

Thursday, May 23, 2024

KHI ĐỜI ĐÃ XANH RÊU - Thơ Nguyễn An Bình

 


Thơ NGUYỄN AN BÌNH


KHI ĐỜI ĐÃ XANH RÊU


Hẹn từ ngày nắng còn xanh

Hẹn đêm trăng khuyết chưa tàn

Mặt hồ gương soi bóng nước

Em ngồi tôi vẽ dung nhan.


Đồng xưa ngái chút rạ rơm

Cánh diều vờn theo khói cơm

Tiếng cười giòn trong nắng ấm

Môi người biết có còn thơm.


Hoàng lan thuở em mười tám

Xuân thì thả nhẹ gót son

Ai còn thương mùa hoa cũ

Ráng chiều nhuộm đỏ hoàng hôn.


Làn hương thoảng vương tà áo

Quê người ai đợi nắng lên

Tình trôi qua miền khát vọng                   

Ướt hồn thánh thiện gọi tên.                    


Hẹn từ mưa sớm ngoài hiên

Hẹn giọt sương khuya yên bình

Tiếng đàn vang trong xa vắng

Tôi chờ nghe bước chân quen.


Chiếc lá bay theo thời gian

Tìm đâu lời hẹn trăm năm

Lời rêu khắc trên vách núi

Tên người gõ nhịp ăn năn.

 

27/04/2024

N.A.B. 

 luongmanh2106@gmail.com






READ MORE - KHI ĐỜI ĐÃ XANH RÊU - Thơ Nguyễn An Bình

TÁC PHẨM ĐIÊU KHÁC BẰNG ĐAN MÓC VÀ LÁ KHÔ CỦA SUSANNA BAUER - Nguyễn Khắc Phước

 


TÁC PHẨM ĐIÊU KHÁC BẰNG  ĐAN MÓC VÀ LÁ KHÔ CỦA SUSANNA BAUER

 

Đan móc (crochet) là một nghề thủ công với vật liệu là len, chỉ màu… ; sản phẩm thường có kích thước nhỏ như khăn để tách, khăn để bình bông, búp bê, giày trẻ em, giỏ xách,  nịt ngực… Cũng có sản phẩm cỡ lớn như khăn quàng cổ, áo ấm… nhưng rất hiếm.  Đó là kết quả của lao động công phu, tỷ mỷ, mất nhiều thời gian. Dù chúng có hoa văn tinh tế và hình dáng xinh xắn nhưng chỉ được coi là đồ thủ công, chưa phải là nghệ thuật.

 

Người bình thường chẳng ai nghĩ đến việc dùng lá khô để làm gì nếu không có mãnh vườn để ủ lá thành phân. Lá vàng, lá khô cũng có ẩn dụ về tính vô thường của kiếp nhân sinh và xuất phát ý tưởng của hàng vạn bài thơ.

 

Lá khô đã hoàn thành niệm vụ của mình và sắp sửa hòa vào đất để biến thành chất nuôi dưỡng cho cây. Về khoa học thì lá không mất mà lại trở về với cây. Về Phật giáo thì sự luân hồi biểu hiện rõ ở vòng đời của lá.

 

Susanna Bauer, một nữ nghệ sĩ sinh ở Đức, hiện sống tại Cornwall, một hạt ở cực tây nam Vương quốc Anh, không bỏ qua ẩn dụ đó nhưng bằng cách kết hợp giữa nghề đan móc với lá khô, thu hẹp khoảng cách giữa thủ công và mỹ thuật, để tạo ra những tác phẩm điêu khắc diễn đạt nhiều ý nghĩa nhân sinh khác nữa.

 

Kết hợp giữa lá và móc là kết hợp trái với định luật của tự nhiên nhưng đó là ước muốn sâu nhất của con người. Ai cũng muốn trẻ mãi không già chứ không ai muốn chết.  Thế nhưng khi xem những tác phẩm của Susanna Bauer, dường như chúng diễn tả được cái tham vong phi lý đó, bởi thời gian dường như đứng lại. Cái thứ đáng ra đã tan nát rồi lại mang một sự sống mới, một hồn cốt mới.

 

Kết hợp giữa lá và móc là kết hợp giữa mỏng manh và chắc chắn,  giữa yếu và mạnh, giữa ốm và khỏe, giữa dịu dàng và căng thẳng, giữa tình cảm và lý trí, giữa tự do và luật lệ, giữa cá nhân và gia đình hay xã hội, giữa rách nát và lành lặn, giữa sự dễ tổn thương và phục hồi, giữa con người và môi trường, giữa vô thường và thường hằng…

 

Cuộc sống hoàn hảo là kết hợp giữa hai đối nghịch đó.

Gia đình muốn hạnh phúc cũng phải kết hợp hai đối nghịch đó.

Thế giới muốn tồn tại phải kết hợp hai đối nghịch đó.

Và còn ý nghĩa nào nữa thì tùy vào mỗi người thưởng ngoạn.

 

 





ARTWORKS WITH CROCHET AND DRIED LEAVES BY SUSANNA BAUER

 

Crochet, in the traditional sense, is a craft that involves using wool, colored thread, and other materials. The products are usually small in size, such as flower vase pads, clothes for dolls, children’s shoes, handbags, and corsets. There are also occasional larger products such as scarves and sweaters, but they are rare. Creating these items requires meticulous and elaborate labor, which takes a long time. Despite their delicate patterns and lovely shapes, they are considered craft rather than art.

 

Most of us don't consider using dry leaves to create something useful if we don't have gardens to compost them. Yellow and dry leaves also serve as metaphors for the impermanence of human life and have inspired the creation of thousands of poems.

 

Dead leaves have finished their role and are ready to merge with the soil, providing nourishment for plants and trees. In scientific terms, leaves do not disappear but return to the trees. In Buddhism, the concept of reincarnation is reflected in the life cycle of leaves.

 

Susanna Bauer, a German-born artist now living in Cornwall, a county in the southwest of the UK, doesn't ignore the metaphor. By combining crochet with dry leaves, she bridges the gap between crafts and fine arts, creating sculptures that convey multiple meanings.

 

The combination of leaves and crochet seems to defy the laws of nature, yet it fulfills a deep desire for eternal youth. Susanna Bauer's work conveys this paradoxical longing, as time appears to stand still. Objects that should have decayed and vanished are given new life and a renewed spirit.

 

The combination of leaves and crochet expresses the balance between fragility and strength, delicacy and resilience, weakness and strength, gentleness and tension, affection and reason, freedom and law, individuals and the family or society, being torn and healed, vulnerability and recovery, men and the environment, impermanence and eternity.

 

A perfect life is a combination of two opposites.

Families that seek happiness must also combine the two opposites.

The world that desires to exist must combine the two opposites.

What else is up to each person's feelings, thoughts, and imagination.

 



 








READ MORE - TÁC PHẨM ĐIÊU KHÁC BẰNG ĐAN MÓC VÀ LÁ KHÔ CỦA SUSANNA BAUER - Nguyễn Khắc Phước

Chùm ảnh PHONG LAN TRẮNG ĐIỂM TÍM - Chu Vương Miện

 






READ MORE - Chùm ảnh PHONG LAN TRẮNG ĐIỂM TÍM - Chu Vương Miện

Wednesday, May 22, 2024

SÊ PÔN, DÒNG SÔNG CHỈ CÓ MỘT BỜ - Yên Mã Sơn

 

Những chiếc đò ngang nối đôi bờ Việt – Lào.

SÊ PÔN, DÒNG SÔNG CHỈ CÓ MỘT BỜ

 

Đó là một trong hai dòng sông chạy ngược lên hướng Tây của tỉnh Quảng Trị. Dòng sông chỉ có một bờ, vì bờ bên kia thuộc đất nước bạn.

 

Chỉ rộng hơn 100m, sông Sê Pôn chảy qua huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị mang sứ mệnh lớn lao - làm biên giới tự nhiên của hai nước Việt - Lào. Cạnh bên sông ở khóm Duy Tân là nhà đày Lao Bảo. Đây là một trong năm nhà tù lớn nhất Đông Dương do Pháp xây dựng vào năm 1908. Nhà tù được xây dựng dựa trên nền móng cũ của dinh trấn do nhà Nguyễn lập nên để bảo vệ phía biên giới phía Tây. Đặc trưng của nhà tù là những cây vông đồng với gai lởm chởm, có tuổi đời vài trăm năm.

 A1 dong sông .jpg

Những chuyến đò chở đầy hàng hóa hỗ trợ phía Lào.

 

Theo người dân truyền tụng, ngày xưa, bọn cai ngục đã phạt những nhà yêu nước bằng cách cho họ trèo lên cây. Nhà tù đã bị bom đánh sập, chỉ còn lại những nhà lao với sắt thép ngổn ngang nhưng cũng đủ chuyển tải những thông điệp về sự tàn khốc của thực dân khi đày ải những chí sĩ cách mạng. Trên con đường mòn phủ đầy cỏ dại đi xuống phía sông in dấu chân của nhà cách mạng nổi tiếng như Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Lê Thế Tiết… từng gánh nước phục vụ sinh hoạt của nhà tù.

 

Năm 1975, những người miền xuôi dưới huyện Triệu Phong lên làm kinh tế mới, họ chọn hướng bờ sông để làm nơi cư ngụ. Mạ (mẹ - BT) mình bảo, đêm đêm nghe tiếng bước chân thú xào xạc ngoài vườn. Chỉ biết vặn ngọn đèn dầu lên cho rạng và im lặng trong sợ hãi.

 

Trước ngày thống nhất đất nước, dãy đất dọc sông Sê Pôn về phía Việt Nam đa phần là người Vân Kiều, Pa Cô sinh sống. Những người dân kinh tế mới đã cùng người dân bản địa khai hoang những thửa đất mới, bằng mồ môi, nước mắt họ xây dựng quê hương mới và mang lại sự trù phú, thịnh vượng dọc bờ sông này.

 

Trong ký ức những người khai hoang, sông Sê Pôn là con sông dữ nhưng cũng là con sông mang lại “cái ăn” cho họ. Phù sa màu mỡ ven sông là nơi canh tác tốt nhất để đắp đổi cái bụng khi 3 tháng lương thực nhà nước cấp cho dân kinh tế mới đã hết. Họ sống cạnh sông để tiện cho sinh hoạt vì gần nguồn nước. Thế là những bản làng dọc bờ sông hình thành, được ghép từ những tên làng của quê hương cũ. Con sông có cái tên lạ - Sê Pôn trở thành con sông gắn liền với cuộc đời mới của họ, mà không phải là những cái tên Hán Việt như Thạch Hãn, Hiếu Giang, Vĩnh Định… ở dưới đồng bằng Triệu Phong. Những đứa trẻ thế hệ thứ hai lớn lên, chôn nhau cắt rốn bên cạnh dòng sông, tắm mát và ăn những củ sắn, củ khoai được chắt chiu từ phù sa dòng sông.

 

Trong ký ức của tôi, những ngày hè dòng sông cạn đến ngang gối, trẻ con có thể lội qua bên kia sông. Bên kia sông, những bản làng của người Lào trầm mặc dưới tán cây rừng. Dù chia cách con sông, khác nhau về quốc tịch nhưng họ có thể nói tiếng Việt vì đa phần là bà con dòng họ của người Vân Kiều, Pa Cô ở Việt Nam. Phía bên kia Lào, dãy núi hùng vĩ kéo dài từ vùng Lìa đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo là ngọn Yên Mã Sơn. Người Lào gọi là núi ngựa phi. Núi soi bóng xuống dòng sông, tạo nên cặp sơn thủy hữu tình của huyện Hướng Hóa.

 

Nhà tôi cách bên sông không xa. Nhớ tuổi thơ cùng mạ xuống sông tắm, gánh những thùng nước mát từ dưới sông lên để sinh hoạt. Trên sông, những chiếc thuyền bủa lưới bắt cá có khi quên cả giới hạn địa lý, “vượt biên” qua bờ bên kia để mưu sinh. Một vài chiếc thuyền với những người đàn ông da chì dầm mình dưới nước xúc những xô cát đổ lên đò rồi đưa vào bờ làm vật liệu xây dựng. Những chiếc đò máy rẽ sóng chạy từ phía Lào về mang theo hàng hóa rồi thẩm lậu vào đất liền qua những bến sông. Từ đây, hàng ngoại theo các chuyến xe xuôi về đồng bằng và tỏa đi muôn nơi.


Sông Sê Pôn trong xanh và hiền hòa nhưng đến mùa lũ vẫn là con sông hung dữ. Có rất nhiều nỗi đau từ dòng sông này khi mùa lũ đến. Có lẽ đậm nét nhất trong ký ức tôi là người bạn cùng lớp, năm học lớp 9, vì mưu sinh đã bơi qua sông bẻ măng bị nước lũ cuốn trôi. Phải mất nhiều ngày sau mới tìm thấy bạn tôi khi được một người Lào báo tin. Một nhánh cây ven sông đã níu xác bạn lại sau khi trôi qua phía Lào khoảng 10km.

 

Lớn lên, tôi rời xa dòng sông tuổi thơ. Thi thoảng nghe tin những người bạn còn bám trụ lại quê nhà báo tin vừa lặn được những chai rượu quý từ dưới sông. Vốn là con sông chở đầy hàng lậu từ Lào về. Hàng năm cơ man hàng hóa theo những chuyến đò chạy ngược từ phía Lào về, trong đó có những đò chở rượu. Có khi vì sóng lớn hoặc va vào nhau mà bị chìm. Những chai rượu quý như theo đó cũng chìm xuống sông, bùn cát phủ lên rồi quên lãng. Cho đến một ngày những chàng trai tinh nghịch tắm sông đạp trúng rượu. Những người sành rượu truyền tụng, rằng rượu ngâm dưới nước lâu năm uống rất ngon.

 

Có thể nói sông Sê Pôn là dòng sông nghĩa tình. Hai bên bờ đối diện nhau là hai quốc gia nhưng những bản làng hai bờ sông ấy thường kết nghĩa anh em. Họ chia sẻ khó khăn, giúp nhau phát triển kinh tế. Những năm dịch Covid-19, những chuyến hàng gồm gạo, nhu yếu phẩm, áo quần và thuốc men đã được cõng qua sông. Mỗi khi đau ốm, phía bên kia cũng nhờ quân y, trạm y tế hỗ trợ. Cách nhau một con sông nhưng khác nhau về văn hóa, tập quán. Đặc biệt sự chênh lệch về điều kiện sống là một điều dễ nhận thấy. Những đứa trẻ ở Lào thiếu thốn đủ thứ. Ngay cả con chữ cũng không được dễ dàng đón nhận như trẻ em bên này biên giới.

 

Bên kia sông là bản Denvilay, nơi có cửa khẩu phụ Denvilay (đối diện cửa khẩu phụ Thanh của Việt Nam), thuộc huyện Mường Nòng, tỉnh Savannakhet. Trong một lần sang bên kia sông, tôi đã nghe trưởng bản Denvilay nói, “bắt” cái chữ ở đây cũng khó như lên rừng bắt thú. Thầy hôm nay lại cho học trò nghỉ. Thầy phải nghỉ dạy để lên rừng kiếm ăn vì lương không đủ sống…

 

Ở những bản làng phía Lào cũng có những cô dâu người Việt qua đây lấy chồng. Tôi không thể quên hình ảnh cô gái dân tộc Pa Cô Hồ Thị Hải Âu dạy hát cho đám trẻ những bài hát Việt. Hải Âu từng là nữ sinh trường Quốc học Huế, quê ở  huyện Đakrông nhưng đã “lạc bước” làm dâu xứ người. Dù không được chính thức làm giáo viên, nhưng bằng trình độ của mình, cô dạy miễn phí cho trẻ em trong bản. Và ở đó, từng chiều ê a lời hát Việt giữa thâm u đại ngàn của đất Lào.

 

Bộ đội biên phòng tuần tra ven sông.

 Dòng sông mang phù sa để tạo nên những nương sắn, nương chuối trù phú; dòng sông cũng tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động bốc xếp hàng hóa từ những bến sông. Có hàng hóa theo những chuyến đò cập bến là có tiền đong gạo. Từ cánh bốc vác, người chạy thồ, chị bán hàng ăn, quán nước… đều chờ vào những chuyến đò ấy. Dường như ở thị trấn nhỏ này, ngoài cửa khẩu quốc tế Lao Bảo là nơi “hái ra tiền”, các bến sông cũng là nơi mưu sinh quan trọng. Bởi vậy mà một người bạn địa phương khác đã nói với tôi rằng, ở biên giới mà không “lậu lạc” thì làm sao phát triển được. Dù không đồng tình nhưng có lẽ bạn tôi nói cũng đúng ở góc độ nào đó.

 

Tác giả  Yên Mã Sơn

Làm sao tôi quên được những người bạn tuổi thơ cùng lớn lên trên dòng sông này. Giờ họ vẫn bám bến sông để vác hàng, thồ hàng. Thương làm sao trên một khúc sông Sê Pôn đầy nắng gió ấy, bạn nhìn ra từ ngôi nhà đơn sơ và nói: mấy hôm nay các lực lượng chức năng làm căng quá, đường lại cấm nữa rồi. Biết làm gì để nuôi con…

 

Tôi im lặng và ngó đi nơi khác. Có lẽ dòng sông là nơi ẩn giấu những phận người. Nên chi khi người đời nhìn dòng sông trù phú từ màu xanh sắn, chuối thì lại có một dòng sông khác, có khi cưu mang, có khi nặng gánh những cuộc đời.

 

Yên Mã Sơn

Nguồn: https:// vietnamnet.vn

READ MORE - SÊ PÔN, DÒNG SÔNG CHỈ CÓ MỘT BỜ - Yên Mã Sơn