TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Thursday, June 29, 2023
GIÓ CUỐI MẶT SÔNG | VỀ LÀNG | PHỐ GIỜ XANH TRỞ LẠI - Chùm thơ Võ Văn Hoa
Gió cuối mặt sông
Nhâm nhi cà phê với bạn bè
Những chuyện cùng trời cuối đất
Những buồn vui rất thật
Gió cuối mặt sông.
*
Gió cuối mặt sông
Sẻ sàng đồng vọng
Lời của gió khi vô tình
Có thể làm ta quên dặm dài cố lý.
*
Nơi em tiễn chồng ra trận
Nơi mẹ u hoài đêm thâu
Đắng đót niềm đau
Đổi giá thanh bình!
*
Đêm nay
Chúng tôi nhìn lên bầu trời
Sao Thần nông vừa tắt
Gió heo may lạnh về…
29/3-20/4/2008
Về làng
Con đường ấy một thời ta đi học
Vĩnh Định ơi...ngụp lặn ký ức mùa
Ngày mới lớn nói chi điều khó nhọc
Để bây chừ thôi nhé... chào thua!
*
Con đường ấy trăng vàng nghiêng bóng
Chim cà lơi xây tổ sau vườn
Bến đỗ đời ta bao lần lóng ngóng
Em có về bên mẹ yêu thương?
*
Đi hái lộc xanh ở cuối cung đường
Mây ngũ sắc trong chiều rắc bạc
Thơ bay lên để em về ghép nhạc
Như hồng hoang sương khói quê nhà!
*
Ta trở về
hương lúa
xa xa...
Hải Vĩnh, 05/9/2010
Phố giờ xanh trở lại
Ta về bên Thành Cổ
Lặng nhìn nghĩa trang xanh
Mấy mùa rêu dấu tích
Cỏ lau trắng góc thành!
*
Ta về bên thị xã
Bến thả hoa ngày mưa
Phố bình yên đến lạ
Đèn hoa nói sao vừa!
*
Bắp Nhan Biều trổ cờ
Sắn Tích Tường xanh mướt
Như Lệ vẳng câu hò
Dấu chân ai lướt thướt
*
Ta về bên Cầu Ga
Thạch Hãn khúc tráng ca
Chiều lên soi bóng nước
Đá dựng cõi sơn hà!
VÕ VĂN HOA
Wednesday, June 28, 2023
MẮT THỎ - Truyện cổ Triều Tiên - Nguyễn Khắc Phước kể
MẮT THỎ
Truyện cổ Triều Tiên
Thế giới Thủy Cung có lần gặp chuyện chẳng lành. Toàn bộ sinh vật có vây và đuôi đều lo lắng vì một tai nạn khủng khiếp đã khiến miệng vua của họ đang bị thương tích trầm trọng và vô cùng đau đớn.
Chuyện như thế này. Một ngày nọ, khi đang bơi quanh vùng nước bên ngoài cung điện, vua của các loài cá thấy một thứ gì đó lơ lửng trong nước trông có vẻ ngon lắm. Ngay lập tức, nhà vua ngoạm lấy nó. Thế là, ôi kinh khủng! Ông ta thấy mình suýt chút nữa đã nuốt vào bụng một chiếc lưỡi câu, may mà nó chỉ mắc kẹt cứng trong mang của ông ta. Ông đã mắc bẩy của một ngư dân đang ngồi câu trên một chiếc thuyền. Vua Thủy Cung đành ngậm thứ khủng khiếp trong miệng và cố bơi đi. Sợi dây đứt nhưng lưỡi câu vẫn còn, và ngay sau đó, nhà vua lên cơn sốt và đau đớn.
Làm thế nào để lấy cái móc sắt ra và chữa lành vết thương cho nhà vua là vấn đề quan trọng nhất bấy giờ. Tất cả những sinh vật khôn ngoan trong đại dương, từ rùa đến cá vược, từ cá heo đến cá voi, đều được triệu tập đến cung điện để xem có thể làm gì. Các ông cá chép uốn cong mình, chớp mắt và vẫy vây suy nghĩ trong khi hội đồng các bác sĩ đại dương hội chẩn. Rùa được coi là người uyên bác nhất trong đám ấy. Nhà vua được Bác sĩ Rùa bắt mạch và khám cổ họng. Cuối cùng, sau khi tham khảo ý kiến của các bác sĩ có vây và đuôi, hoặc có vảy và vỏ, hội đồng y khoa quyết định rằng không gì tốt hơn một loại thuốc đắp làm từ mắt thỏ sẽ nới lỏng lưỡi câu và chỉ có cách đó mới lấy được lưỡi câu ra để chữa lành cho nhà vua. Vì vậy, Bác sĩ Rùa được lệnh lên bờ và mời cho được một con thỏ xuống Thủy Cung để lấy mắt thỏ làm thuốc và đắp hỗn hợp ấm lên cổ họng của nhà vua. Đến bãi biển, dưới chân một ngọn đồi cao, Bác sĩ Rùa nhìn lên phía xa, thấy anh Thỏ vừa ra khỏi hang và đang đi dạo dọc theo bìa rừng. Ngay lập tức, Bác sĩ Rùa đi lạch bạch qua bãi biển và cố leo dốc để lên đồi, cho đến khi anh bắt đầu hổn hển thở phì phò. Tuy nhiên, Rùa vẫn còn đủ hơi để chào anh Thỏ với lời chúc buổi sáng tốt lành. Thỏ đáp lại lời chào một cách rất lịch sự.
“Trời nóng quá,” Bác sĩ Rùa vừa nói vừa rút chiếc khăn tay ra, lau vầng trán sừng và phủi cát bám trên móng của mình.
“Ừ, nhưng phong cảnh đẹp quá. Bác sĩ Rùa này, chắc hẳn bạn rất vui khi được ra khỏi nước để nhìn thấy rừng núi đáng yêu này. Triều Tiên là một đất nước xinh đẹp, bạn không thấy sao? Không có vùng đất nào trên thế giới đẹp như đất nước của chúng ta. Những ngọn núi, những con sông, bờ biển, những cánh rừng, những bông hoa...” Nếu Bác sĩ Rùa để anh Thỏ tiếp tục ca ngợi đất nước thì Rùa sẽ quên nhiệm vụ của mình; nhưng Rùa luôn nghĩ đến vị vua cá đang khổ sở vì chiếc lưỡi câu độc ác trong miệng. ngắt lời Thỏ, Bác sĩ Rùa nói: “Ồ, vâng, đúng vậy, anh Thỏ. Phong cảnh và đất nước mình đều rất đẹp, nhưng không thể so sánh với châu báu và ngọc ngà, cây và hoa, mùi thơm ngào ngạt và mọi thứ đáng yêu trong thế giới dưới biển.” Lúc này, Thỏ vểnh tai lên. Tất cả thông tin đó đối với anh đều mới. Anh chưa bao giờ nghe nói rằng có thứ gì dưới nước ngoài cá và rong biển thông thường và khi những thứ này bị phân hủy và dạt vào bờ biển - vâng, theo anh thì chúng không có mùi ngọt ngào chút nào. Bây giờ, anh vừa nghe một câu chuyện khác. Sự tò mò của anh đã được đánh thức. “Những gì bạn nói với tôi thật thú vị. Kể tiếp đi." Bác sĩ Rùa tiếp tục kể về những ngọn núi và thung lũng tuyệt vời nhất dưới đáy biển sâu, với đủ loại thực vật nước quý hiếm, đỏ, cam, lục, lam, trắng; ngoài ra còn có những loại cây bằng vàng và bạc. những bông hoa đủ màu sắc và hương thơm quyến rũ. “Bạn làm tôi ngạc nhiên đấy,” Thỏ thích thú nói. “Vâng, và còn lắm thứ ngon lành để ăn và uống, với âm nhạc và khiêu vũ, những người giúp việc phục vụ xinh đẹp và mọi thứ khác đều tuyệt vời. Hãy đến và làm khách của chúng tôi. Vua của chúng tôi đã cử tôi đến mời bạn,” Rùa nói. "Liệu tôi có đến đó được không?” Thỏ vui mừng hỏi. “Vâng, ngay lập tức. tôi sẽ cõng bạn xuống nước.”
Vậy là Thỏ chạy và Rùa lạch bạch đến mép nước.
Rùa nói: “Bây giờ hãy giữ chặt vỏ trước của tôi, chúng ta sẽ đi xuống dưới nước." Dưới những làn sóng xanh, họ chìm dần cho đến khi đến cung điện của nhà vua. Ở đó Thỏ thấy mọi chuyện đều đúng như lời Rùa kể. Đầy đủ sắc màu và vô số những viên đá quý. Rùa giới thiệu Thỏ với một số hoàng tử và công chúa của vương quốc và những vị này đã dẫn khách của họ đến những điểm tham quan và kho báu của cung điện, trong khi Bác sĩ Rùa tham dự hội đồng bác sĩ để báo công. Nhưng trong khi Thỏ đang ngắm cái cung điện mà anh nghĩ rằng đây là nơi tuyệt vời nhất trên thế giới, anh may mắn tình cờ nghe lén được câu chuyện của họ. Anh ấy khám phá ra lý do tại sao họ lại đưa anh đến đây và dành cho anh những vinh dự như vậy.
Kinh hoàng trước thảm họa mất thị giác, Thỏ quyết tâm cứu lấy đôi mắt của mình, anh liền nghĩ ra một trò bịp bợm thông minh và anh bí mật thực hiện. Ngay sau đó, khi được các đao phủ hoàng gia thông báo một cách lịch sự rằng anh ta phải từ bỏ đôi mắt của mình để làm thuốc cho nhà vua. Thỏ làm ra vẻ tiếc nuối hết sức lịch sự:
“Thực rất buồn khi biết tin Bệ Hạ lâm bệnh, xin thứ lỗi là tôi không thể giúp Ngài ngay lập tức, vì hiện tại hai mắt của tôi không phải mắt thật, mà chỉ là mắt thủy tinh. Vì sợ rằng nước biển sẽ làm hỏng thị giác của mình nên tôi đã lấy đôi mắt bình thường của mình ra, chôn chúng trong cát và đeo vào đôi mắt pha lê này, thứ mà tôi thường đeo trong không khí bụi bặm hoặc thời tiết ẩm ướt.”
Lúc này, mặt của các sĩ quan hoàng gia sa sầm. Làm sao họ có thể báo tin cho nhà vua vì tin này sẽ khiến ngài thất vọng? Thỏ làm bộ thực sự xin lỗi họ và nói:
“Ồ, chuyện này có thể giải quyết được. Nếu các bạn cho phép tôi trở lại bãi biển, tôi sẽ đào chúng lên và quay lại kịp thời để làm thuốc đắp,” Thỏ nói. Vì vậy, trên lưng Bác sĩ Rùa, Thỏ không bao lâu đã lên khỏi mặt nước. Trong nháy mắt, Thỏ nhảy xuống, chạy vụt vào rừng, mất bóng. Bác sĩ Rùa đành ôm đầu khóc và quay về ấm ức kể hoài chuyện một con thỏ đã đánh lừa anh ta như thế nào.
&&&
Tên truyện: The Rabbit's Eyes
Tác giả: William Elliot Griffis
Nơi đăng: Fairytalez.com
Tuesday, June 27, 2023
TRĂNG LẠNH, GẶP LẠI NGƯỜI TRI KỶ – Thơ Nguyên Lạc
TRĂNG LẠNHĐêm nay trăng lạnh người có lạnh?Điệp khúc hư không vọng muôn trùngLưu xứ nâng ly hồn cố thổMời trăng tri kỷ rượu say chung!GẶP LẠI NGƯỜI TRI KỶKẻ sĩ thời mạt sĩSá chi cái chữ nghèoGặp lại người tri kỷVỗ vai nhau cười reo"Cửu hạn phùng cam vũTha hương ngộ cố tri" [1]Không say thời mới lạKhông xỉn thời mới kỳTha hương gặp tri kỷNhư trời hạn gặp mưaTình tràn theo ly rượuCạn bình đi đừng chừa!Ly tràn bạn uống điBao năm rồi phân kỳ"Lận đận trời một lứa"Quê người gặp mấy khi?"Em ơi bình khô rượuLửa tắt... say với ai?" [2]Nhớ không lời thơ ấy?Sầu tình ta cùng sayHết rồi thời tuổi mộngHai đứa cùng thở dài!Phải không người tri kỷKhông tình say với ai?Cạn ly người tri kỷ!"Ngàn chung ta không say"Đời nhiều nỗi u hoài!Tình mộng huyễn bi aiKẻ sĩ thời mạt vậnBạc đầu ngắm mây bay"Bạch vân không du du" [3]Ngàn năm mây bay vùNhân sinh trò hư ảoCòn nỗi sầu thiên thu!Mạt sĩ ta mạt sĩKhó tìm người cùng sayĐời nhân cùng nghĩa tậnToàn những chuyện bi hài!Có rồi ta gặp lại?Hai đứa cùng ngất sayThất chí thời mạt sĩThống hận kiếp lưu đàyCó rồi ta gặp lại?Hai đứa cùng nhau sayHay chỉ là độc ẩmHồ trường lệ đắng cay!"Nào ai tỉnh, nào ai say,chí ta ta biết, lòng ta ta hayNam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ,hà tất cùng sầu đối cỏ cây" [4]Lưu vong thất chí thở dàiRượu sầu hai đứa cùng sayĐắng cay vọng về cố lýNỗi đau luân lạc đoạn đòi!Nguyên Lạc...........................[1] thơ Uông Thù[2] thơ Vũ Hoàng Chương[3] thơ Thôi Hiệu[4] Lời thơ Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác
Monday, June 26, 2023
TÌNH VIỄN PHƯƠNG - Thơ Mặc Phương Tử
TÌNH VIỄN PHƯƠNG
Tạm biệt Chùa Kỳ Viên, South Dakota.
Từ lúc mây xa về phố núi
Chim trời cũng theo gió về xuôi.
Áo vai dù đã bao mưa nắng,
Lòng vẫn xanh theo những bước đời.
Đây mảnh vườn xuân rộn tiếng chim
Giữa trời phương thảo mấy chung riêng.
Ta nghe thanh thản đời hôm sớm,
Cả nhịp lòng theo khắp mọi miền.
Mấy độ đông tàn, mấy độ xuân
Mấy mùa hoa nở rụng bao lần.
Đó đây cũng lắm tuồng dâu bể,
Bao nỗi vui buồn chuyện thế nhân!
Một sớm ta rời nơi chốn cũ
Xa rồi miền gió núi mây ngàn.
Xa mùa tuyết trắng, sương mù đục,
Phố núi trời xưa, mấy điệu đàn.
Biết thế, lòng ta đâu phải thế!
Mai đây dù ở chốn quê hương.
Vẫn xanh cuộc lữ bao xuân trước,
Vẫn một tình xuân buổi viễn phương.
Florida, Tampa, 26/6/2023
MẶC PHƯƠNG TỬ
HẠ MUỘN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng
![]() |
| Nhà thơ Lê Thanh Hùng |
Hạ muộn
Lung linh nắng đong mùa thương nhớ
Cây phượng già nở muộn rưng rưng
Hoa từng cánh dịu dàng bung mở
Gói tiếng ve mùa cũ ngập ngừng
Liếng thoáng đôi chim sâu lích chích
Nhảy vô tư dưới tán lá xanh
Chợt cơn gió lạc mùa thổi nghịch
Bung biên bay chùm phượng đầu cành
Có cô bé ngượng ngùng lén ngắm
Cánh hoa rơi, một chút đắn đo
Trong bóng nắng buông chiều gạ gẫm
Âm thầm trôi, qua một hẹn hò
Vạt mây trắng giăng như dấu hỏi
Giữa trời xanh, lồng lộng tầm nhìn
Một tiếng vọng ngang đời níu gọi
Cánh phượng hồng, cháy đỏ hương trinh
Đôi mắt biếc buồn so vô cớ
Đưa cái nhìn rớt xuống thinh không
Quay ngoắt lại, xen chừng mắc cở
Khi anh nhìn, nắng chảy mênh mông…
Nhớ nắng
Anh đến Huế, mùa thu ẩm ướt
Mưa giăng giăng cả tháng lê thê
Đường thành nội, mờ trơn bước trợt
Khách đường xa, háo hức đi về
*
Mây loang tan đôi bờ phẳng lặng
Tiếng chèo khua sương trên sông Hương
Cứ mê mãi miệt mài sâu lắng
Một tiếng hò xa nỗi nhớ thương
*
Dáng nhỏ qua Trường Tiền gợn gió
Áo mưa e ấp, nét hoa duyên
Chợ Đông Ba chắc còn để ngỏ
Dặm đời xa gồng gánh ưu phiền
*
Mưa dai dẳng, đoạn khoan đoạn nhặt
Bến sông xa, mờ tỏ nhọc nhằn
Mưa qua phố, màn trời xám ngắt
Sóng gọi bờ vọng đổ lăn tăn
*
Anh lặng lẽ ngồi đây bó gối
Chợt nhớ màu nắng ở phương nam
Nhớ quay quắt, vô chừng vô đổi
Nắng nồng nàn, nỗi nhớ miên man ...
Hà Nội - mùa hoa tháng sáu
Góc phố em, nhỏ là rất nhỏ
Lấm lem trong khuya sớm tảo tần
Sau khúc quanh, nhà em ở đó
Cây Lộc vừng, hoa rụng đầy sân
*
Tháng sáu Hà Nội còn bức bối
Nắng ong ong rót ngập lối đi
Lá chớm vàng, ngập ngừng cứu rỗi
Một mùa sen khoe sắc đương thì
*
Hoa trái chợt trở mình thức dậy
Bóng em lặng lẽ, gánh mùa đi
Trên khẩu trang, mắt tròn đen láy
Nghe tiếng rao mời gọi điều gì?
*
Chầm chậm bước, lắng trong phố cổ
Phượng cuối mùa trút cả sắc hoa
Tím biếc bằng lăng, màu cổ độ
Bong vỡ ngày, trưa nắng nhạt nhòa
*
Rưng rức cánh hoa muồng hoàng yến
Mong manh rơi, e ấp cong quăn
Hương cốm mới xanh hồn quê kiểng
Gánh hàng rong, nhẹ bẫng nhọc nhằn...
Giọt nước mắt em rơi
Nghệch bảng đèn quảng cáo
Hình như có một chút gì gượng gạo
Trong lời chia tay, sao ngắc ngứ rối bời
Biết không thể giữ em được nữa
Sao ngoảnh mặt lại nhìn, đôi mắt đen ngân ngấn nước - người ơi…
Em gấp vội trang đời, tuổi bốn mươi
Gói dĩ vãng trong cái nhìn trúc trắc
Miền ký ức, đan cài thưa nhặt
Đẫm một màu trăng năm cũ trêu ngươi
Lơ đãng gió lay tấm màn trống trải
Đổ xuống thềm sương từng giọt khóc cười
Lê Thanh Hùng
Bắc Bình, Bình Thuận
<thanhhungmtbb@yahoo.com.vn>
NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2) - Trương Ngọc Bỉnh
NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC
VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2)
Trương Ngọc Bỉnh,
Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng,
Khóa 5, 1964 – 1968.
Một con người mang bệnh hen phế quản, từ lúc lớp Nhì ... cho đến học Hải Lăng, ra Nguyễn Hoàng rồi vô Huế học Sư phạm …, cả đến lúc ra trường, bệnh hen vẫn đeo đuổi bên tôi như hình với bóng! Thế mà hồi gia đình sơ tán vào Đà Nẵng - Dân thành phố Huế cũng sơ tán, tất cả các Trường học đều đóng cửa! Đêm đêm chỉ có xe quân sự hú còi tuần tra các con phố chính: Trần Hưng Đạo , Chi Lăng, Lê Lợi lên Ga Huế, về Đập Đá ... Hỏa tiễn 122 ly vẫn dồn dập xoèn xoẹt vút trên bầu trời từ hướng Nam Hòa lao xuống Mang Cá, Tây Lộc - nơi có BTL Tiền phương Sư đoàn 1! Quân Giải phóng đã tới bờ Bắc Sông Mỹ Chánh! Căn cứ Baston và Chi khu Nam Hòa (Tây Huế), chưa cứu được mình, đang trong ngàn cân treo sợi tóc! Mấy Lữ đoàn: 147, 258 và 369 đang ém quân từ Cầu Vân Trình, có trục lộ 49 chạy ra Tháp Một (thuộc địa phận Thừa Thiên), rồi mới gặp các làng xã Xuân Viên, Diên Khánh, Hải Ba, - Dương … Một hướng rẻ phải về Nhà thờ Tháp Đôi, xã Điền Lộc, Hải Nhuận, phá Tam Giang... lên dọc thị trấn Ưu Điềm, Phong Hòa, Mỹ Chánh... có dịp về mà xem Thành phố Ma của con cháu vượt biển về báo hiếu! Tập làm P V chiến trường, hâm lại một tí!
Trở lại chứng bệnh và việc học hành của tôi. Có ai ngờ đâu? Khi dân Thành phố Huế lục tục từ Đà Nẵng trở về, các Trường học bắt đầu mở cửa cũng là lúc Khóa 2, Sư Phạm Huế thi Tốt nghiệp ra trường. Phạm vi tuyển sinh từ Tỉnh Quảng Tín (Quảng Nam) ra tới Quảng Trị, còn từ Quảng Ngãi vào học ở Quy Nhơn! Tôi đã tốt nghiệp Thủ khoa, Khóa 2, ngày 27.6.1972 với hơn 150 giáo sinh và tôi ở lại Huế ngao du thắng cảnh các lăng tẩm, Đại Nội ... với chiếc Honda Dame đỏ SS 50 của Bác Họ, tôi vượt đèo Hải Vân ra Huế ở lại để thi Tốt nghiệp và Tú Tài Phần 2, ngày 05-7-1972 và đổ luôn. Trong vòng đúng 10 ngày. Hồi đó còn thi viết chứ không phải ABC khoanh, IBM! Một nổ lực của bản thân, bóp còi qua mặt các bạn cùng khóa là dân Quốc Học, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Nguyễn Tri Phương … cũng phải nể mặt dân Hải Lăng, Nguyễn Hoàng! Nói trạng, nói khoác một tí các bạn nghe - nhưng có thực để mà nói là một điều bất thường! "Thắng mình là một chiến thắng vẻ vang nhất!" có phải như vậy không các bạn?
Một kỳ thi nghiệt ngã nhưng đầy tự hào của các sỹ tử tí hon!
-Khoảng 90°/° số học sinh tốt nghiệp bậc Tiểu học xuất thân là con em nông dân, đời sống kinh tế còn rất khó khăn. Hằng năm, bão lụt thường xuyên ập tới đe dọa. Mùa màng thất bát, Có năm dân đồng bằng lên mua sắn củ của dân tộc Hướng Hóa, Khe Sanh, Cùa... hoặc vô rừng hái dây búng, trái trắc mao, dom, bứa, hột sót... về Chợ Diên Sanh hay Mỹ Chánh bán, đổi lấy gạo xô, gạo tạ! Trong số con em đó, có nhiều người hiếu học, học khá giỏi hoặc đã lớn tuổi, một số đã không có xe đạp đi lại, chủ yếu là cặp giò và đôi dép "Nhật" mỗi bên chỉ con lưu luyến vơi nữa bàn chân phía trước! Tôi còn nhớ Ba tôi đã gọi bạn chuyên làm "Xáo" đến để mở "chồ". Một đống lúa ngất ngưỡng như cái nón khổng lồ mà chỉ mua được một chiếc xe đạp sườn ngang với gía 800 đồng, năm 1963. Hồi đó mấy ai có được cơ hội ra học trường quận cách xa nhà > 15 < km. Thế nhưng được vào - bước qua cổng trường Trung học Công lập Hải Lăng ví như "Cá vượt vũ môn", là niềm tự hào và vinh dự cho bản thân và gia đình. Hằng năm cứ vào đầu tháng Bảy, có kỳ thi tuyển đầu vào lớp Đệ Thất. Thời đó, các bậc phụ huynh còn bị ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp thuộc còn sót lại. Nhiều cụ đã đi học và đỗ đạt bằng Yếu lược,Tiểu học hoặc họa hoằn lắm mới có cụ đỗ Diplôme (Trung học)! Họ sính dùng Tiếng Pháp trong đàm đạo hằng ngày và gọi kỳ thi này là thi "Càng cua", nguyên ngữ Tiếng Pháp là "Concours", từ đó, từ ngữ này được thông dụng, kể cả mấy chị em ngoài chợ cũng thông thạo và xài luôn! Học sinh trúng tuyển đầu vào lớp đệ thất gọi là "bẻ càng", ai trượt vỏ chuối coi như "gãy càng". Vậy, số con em "bẻ càng" là bao nhiêu? Và số còn lại "gãy càng" đi đâu? làm gì?
Trước khi đi tìm các ẩn số nêu trên, người viết xin ngược dòng thời gian, lùi sâu vào lịch sử, mạo mụôi trình làng những điều mình biết để nói lên mạng lưới trường lớp của quận Hải Lăng thời đó:
-Đơn vị hành chánh cấp quận và tên gọi "Quận" thay cho "Phủ" hoặc "Huyện" trong toàn vùng Pháp tạm chiếm vào cuối năm 1953. Thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa (Ngô Đình Diệm, 1956 - 1963 ), ở miền Nam Việt Nam, vào năm 1960, quận Hải Lăng có 22 xã. Mỗi xã có một trường Tiểu học, có xã có 2 trường (Hải Thọ). Trong số 22 xã, có 5 xã vùng ven, áp sát thị xã Quảng Trị: Hải Thựơng, Hải Lệ, Hải Phú, Hải Quy và thị xã Quảng Trị. Số học sinh 5 xã này, dự thi càng cua vào trường Nguyễn Hoàng ở thị xã Quảng Trị. Số gãy càng - nếu gia đình khấm khá và có nhu cầu cho con em học tiếp mới vào học các trường Bồ Đề và Thánh Tâm cũng ở thị xã Q.Trị. Như vậy còn lại 17/22 xã, mỗi xã có một lớp Nhất, bình quân 50 em /1 lớp. Tổng số 850 em mà chỉ có một kỳ thi tuyển một lớp Đệ thất! Tỉ lệ chọi là 1/15! Đối với những sỹ tử tí hon "lều chõng" ngày ấy, sáng sớm mở mắt chỉ thây ao làng, con trâu, giếng nước và cánh đồng ngút ngàn tầm mắt đến thế! Hôm nay ngày thi, lại từng tốp 5, 7 đứa từ các ngõ xóm, qua khỏi cổng làng, rảo bước tòng teng, lặn lội đổ về trường quân để "so găng" đấu trí. Sáng: Làm văn (loại giải thích, so sánh hoặc bình luận); chiều: Toán pháp (gồm các kiểu đề: động tử xe, vòi nước, số học kết hợp số học, hình học...). Một kỳ thi quyết định tuổi thanh xuân đang vẫy gọi phía trước!
Với một lực lượng vị thành niên dôi dư không mấy may mắn còn lại ở các làng xã khoảng > 700 < em (đã khấu trừ 200 em vào học các trường Tư thục; Minh Đức (Diên Sanh), Tân Dân (Hải Chánh), hoặc vào hệ Bán công Hải Lăng - có chung cơ sở với Công lập), đành đoạn ở nhà phụ việc đồng áng, công việc nhà; nữ thì học nghề may, chằm nón lá hoặc ra thành thị giúp việc … Đến lúc con trai thì vai u thịt bắp, trổ tiếng ồ ồ như vịt đực; con gái đến tuổi dây thì "ra mả" thiếu nữ! Bẳng đi một thời gian sau lũy tre làng, nghe nói bị "chuồm nhánh nè" với cặp cá tràu và bó chè Lương Điền, Mỹ Chánh, Tân Lâm... to chà bá rồi! Hoặc đã mang dép râu, nón cối … hay đầu quân trước tuổi với nón sắt, giày sô (botte de saut) ...
(Còn tiếp)
Trương Ngọc Bỉnh
HỌP GIAO BAN NGÀY – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện
- Vì hoàn cảnh cấp bách lịch sử đã điểm, tuỳ nghi và tùng quyền đã khải bẩm giáo chủ, nay nhân tiện công bố cùng toàn thể anh hùng hảo hán trong Minh Giáo toàn quốc:
- Vì nhu cầu quốc sự, bổn giáo cho tăng một lúc Quang Minh tả hữu nhị sứ lên làm phó giáo chủ, Dương Tiêu là phó giáo chủ đặc trách nội vụ, Phạm Dao làm phó giáo chủ đặc trách ngoại vụ.
- Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính, Hân Dã Vương, Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu thăng lên làm tam sứ: tả, hữu và trung sứ.
- Ngũ Tản Nhân là Lãnh Khiêm tiên sinh, Thiết Quan đạo nhân Trương Trung, Hoà Thượng Thuyết bất Đắc, Hoà Thượng Bành Oánh Ngọc, đại hiệp Chu Điên đồng một lượt thăng lên làm ngũ đại Pháp Vương.
- Ngũ Kỳ là Hồng Thuỷ Kỳ, Liệt Hoả Kỳ, Nhuệ Kim Kỳ, Cự Mộc Kỳ, Hậu Thổ Kỳ, thêm một chữ Doanh đằng sau nưã, gọi là Kỳ Doanh, lực lượng sẽ phát triển khoảng hai ngàn người cho mỗi Kỳ.
- Thiên, Điạ, Phong, Lôi, tứ môn lên một cấp là Tứ Đường Môn.
- Bộ phận Đại Minh Vương Hàn Sơn Đồng được phong là Đại nguyên soái, chủ động địa bàn vùng Hoa Nam với các danh tướng Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Thăng Hoà, Hàn Lâm Nhi.
- Bộ phận Thái Minh Vương Từ Thọ Huy [gốc từ Chu Tý Vương, Chu Tử Vượng] thăng lên thiên hạ binh mã Đại nguyên soái thống lĩnh toàn vùng Hoa Hạ, với các danh tướng Mộc Anh, Lam Ngọc...
*
Tiếp theo lời cuả Tả sứ Dương Tiêu, hưũ sứ Phạm Dao đứng lên tiếp:
- Manigiáo hay Minh Giáo bắt nguồn từ Ba Tư [tức là Perse] năm 694 sau công nguyên, tức vào thời kỳ nhà Đường thời Võ Hậu cai trị, nhằm vào ngày 22 tháng sáu Đường đại lịch tam niên, sứ giả Hốt Đa Đán được sự ủy thác cuả giáo chủ cầm cuốn Tôn Tam Kinh từ Ba Tư sang dâng cho Võ Hậu. Manigiáo được chấp thuận rao giảng lý thuyết và hành đạo từ đó Cũng xin được nói cho rộng ra là nhà đại Đường là một triều đại vang danh là đức độ và nhân bản nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời Đường Thái Tôn thì đã có Đường Tam Tạng tức Đường Huyền Trang đi Tây Vực Nêpal thỉnh kinh, nên tại kinh đô Đông Đô Lạc Dương [tức tỉnh Hà Nam bây giờ] cho xây cất ngôi chùa đầu tiên của Manigiáo là Đại Vân Quang Minh Tự. Cả thẩy vùng Hoa Hạ và Hoa Bắc là 3.600 ngôi chuà cuả Minh Giáo. Sau đó khoảng vài chục năm, vào năm thứ ba cuả vua Hậu Xương nhà Đường, vua nghe lời sàm tấu của một số quan lại người Hán, cho là Minh Giáo thuộc loại “Tà Ma ngoại đạo’ nên chuà chiền cuả giáo này bị huỷ hoại và nhân sự đạo giáo thì chìm vào trong bóng tối. Qua thời nhà Đường đến thời Ngũ Đại, qua nhà đại Tống, đến bây giờ thì bổn giáo qua nhiều giai đoạn thăng trầm theo lịch sử và cũng từ đó rút ra được một bài học sinh tử. Từ Tổng giáo Ba Tư cũng có những khuyết điểm, vì là con người thì ai ai cũng có khuyết điểm cả! Nếu không tìm ra nguyên do, để canh cải để sửa đổi thì suy vong, diệt vong là cái chuyện đương nhiên! Ngay Tổng giáo Ba Tư thì các giáo chủ đời đời là thánh nữ . Nhưng bản chất là Thánh Nữ nên các võ công chân truyền cuả bổn giáo, càng ngày càng mai một rồi bí kíp mất tích luôn lúc nào không biết. Khi truyền sang Trung Thổ, bí kíp trấn môn là pho “Càn Khôn đại na di tâm pháp” và bí quyết ghi trên sáu thanh Thánh hoả Lệnh lại là chữ Ba Tư, người Hán không đọc được. Nên hai môn võ công thượng thừa này không có ai học, ngoại trừ giáo chủ. Các nhân tuyển trong Minh Giáo thì võ nghệ hầm bà làng, chả ai giống ai, mỗi người một lộ võ công võ tư khác nhau, chả ai truyền thụ cho ai. Vì không đọc được chữ Ba Tư đến nỗi đến đời Thạch giáo chủ thứ ba mươi hai thì bị các cao thủ Cái Bang xâm nhập Tổng Đàn như vào chỗ không người, ăn cướp một lúc mất cả sáu thanh Thánh hoả Lệnh, thành ra một Giáo mà không có Lệnh thì cũng chỉ lờ mờ. Qua đời thứ ba mươi ba là giáo chủ Dương Đỉnh Thiên, lúc vị này “tẩu hoả nhập ma” chết đi thì lại ba bè bẩy mối phân hoá chia rẽ, chả ma chịu ma nào ? Nhờ tài thông minh và nhân ái giáo chủ đời thứ ba mươi tư là Trương Vô Kỵ mới hàn gắn đoàn kết lại được thành một khối.
*
Hai vị nội ngoại phó giáo chủ phát biểu xong thì Đại Minh Vương Hàn Sơn Đồng cũng nhân dịp đứng lên nói tiếp:
- Nước chở thuyền, nhưng nước cũng làm chìm thuyền, cái đạo lý này thì ai ai cũng rõ mồn một. Đạo với Đời có khi là một, nhưng cũng có khi lại là hai, phải tuỳ lúc, tuỳ thời điểm và tuỳ hoàn cảnh, không cứ phải bo bo cố chấp. Mà sự đời cứ cố chấp là hỏng, chả hạn như thời nhà đại Đường, Lý Thế Dân lúc còn Đông chinh Tây thảo, thì có đích thân mời những vị cao tăng cao thủ chuà Thiếu Lâm tham dự trận mạc với triều đình để sớm thống nhất sơn hà. Khi toàn cõi qui về một mối, thì nhà vua trả công cho nhà Chuà [phái Thiếu Lâm] ai ra làm quan thì làm, ai tu trì thì cứ tiếp tục tu trì. Triêù đình trả công cho chuà Thiếu Lâm tịnh tài [là tiền mặt ngân lượng] và vật tư vật công như gạch đỏ ngói xanh để xây chuà xây bảo tháp, và kể như xong. Đạo ra Đạo và Đời ra Đời? Ai là đại sư... thiền sư thì cứ như thế, ai là Nguyên Soái, Thượng tướng quân thì là quân tướng cuả triều đình. Dù Chuà mang danh là chuà Đại Tướng Quốc thì cái ông đại tướng này đại diện cho nhà vua thí phát đi tu, lúc đó là sư cụ chứ không phải là vừa làm Đại tướng vừa làm nhà Sư. Trong lúc toàn dân, toàn quân, toàn tôn giáo đứng chung với nhau góp toàn lực để chống ngoại tộc là nhà Nguyên Mông Cổ cai trị, thì chúng ta có thể lẫn lộn Đạo và Đời, nhưng nếu mai mốt đáo mã thành công, thì vị nào ở cõi Đạo nên trở về vơí cõi Đạo, vị nào ở cõi Đời thì nên ở lại vơí cõi Đời. Chứ Đạo trộn vào Đời, Đơì trộn vào Đạo thì hết sức nguy hiểm. Khi đó kẻ nắm quyền Đạo trở thành Vua quan để nắm quyền Đời, bá tánh tha hồ mà chết oan, tha hồ mà lầm than đói khổ, tha hồ mà chết không kịp ngáp, tha hồ mà tự do về cõi Tây Phương Cực Lạc.
- Ai đi tu thì cứ việc đi tu, ai làm quan thì cứ việc làm quan, ai làm dân cày thì cứ làm dân cày, cái hoàn cảnh một người mà kiêm nhiệm làm cả ba thứ một lúc thì chỉ có thời đại loạn xà bần như bây giờ mà thôi. Nếu đòi lại được chính quyền trong tay người Thát Đát, thì chúng ta ai việc gì thì làm việc đó, không nên bao cấp ôm đồm dẫm chân vào người khác để làm cái chi cho mất thì giờ, y như trong pho truyện “lục súc tranh công” vậy, con chó giữ nhà con mèo bắt chuột, con ngựa kéo xe, con trâu kéo cày, con gà gáy sáng, con heo con dê ăn cho mập ú để chờ ngày giết thịt?
Bạch Mi Ưng Vương cũng góp tiếng nói cho vui vẻ cả làng cả xóm:
- “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh, quý hồ tinh bất quí hồ đa”, nếu người Mông Cổ Mông Đít biết thân biết phận “an phận thủ thường”, chỉ ngày ngày chăn dê chăn cừu trong thảo nguyên, bắn chim điêu ngoài đại mạc, thì thiên hạ đâu có đại loạn như ngày hôm nay! Mà thôi hết loạn thì tới an, hết an thì tới loạn, chuyện cuả đất cuả trời, làm con người thì cũng chấp nhận cái luật này mà thôi!
chuvươngmiện






