Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 9, 2023

TRONG NẮNG VÀNG..., SEN, CHIÊM BAO – Thơ Tịnh Bình


 
                Nhà thơ Tịnh Bình


TRONG NẮNG VÀNG...
 
Hư không ai thả cánh diều
Một chiều mây trắng đánh liều sang ngang
Nhẹ rơi trong ánh nắng vàng
Tàn thu đời lá đa mang niềm gì
 
Giọt sầu vương khẽ bờ mi
Dẫu là giả tạm sinh ly vẫn buồn
Người về chầm chậm chiều buông
Hành trang một đóa trăng suông cuối trời
 
Trần gian tàn cuộc rong chơi
Nhấp nhô bọt bóng rã rời sân mưa
Chào người buổi ấy về chưa
Sen cười hàm tiếu dạ thưa nắng vàng...
 
 
CHIÊM BAO
 
Lênh đênh cơn sóng nhỏ
Những phận đời bơ vơ
Sông mê đò bao lượt
Mù khơi chẳng thấy bờ
 
Gió về đâu lối gió
Chông chênh một nẻo về
Giã từ cơn mộng ảo
Vương vấn gì sơn khê
 
Mưa giăng đầy mắt ướt
Cõi lòng ơi xôn xao
Luân hồi cơn sinh tử
Đã tạnh rồi chiêm bao...
 
 
SEN
 
Hồn nhiên không giữa chốn nâu bùn?
Sen tự tại mãn khai chồi búp
Ta chạnh thương đời sen lem lấm
Rước sen về ngự cõi thanh cao
 
Đâu rồi vẻ thong dong thoát tục
Sen có buồn không...Có buồn không?
Trong sâu thẳm chực trào lệ nhỏ
Từng cánh hoa rơi nõn búp hồng
 
Dắt sen về lại bên hồ cũ
Vui nhé sen ơi vẫn mảnh trời
Này trăng này gió này mây biếc
Đồng làng thân thuộc khúc ca dao
 
Trắng trong dáng ngọc vùi bùn đất
Trăng khuya chưa tạnh nỗi niềm thương
Trầm ngâm gió sớm lay sương giá
Sen thầm ngấn lệ sót dư hương...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)
 
READ MORE - TRONG NẮNG VÀNG..., SEN, CHIÊM BAO – Thơ Tịnh Bình

TƯỞNG NIỆM – Thơ Lê Phước Sinh


 
                Nhà thơ Lê Phước Sinh


TƯỞNG NIỆM 
 
Đất Nước có 30 tháng 4 như Cái Ngạch
Vấp ngã Va đụng Chúi mũi Ê ẩm mặt mày
Chiều chiều bế Con, Thiếu phụ ngóng nhìn ra cửa
Rừng núi Sơn khê chưa thấy bóng Chồng về...
 
Lê Phước Sinh

READ MORE - TƯỞNG NIỆM – Thơ Lê Phước Sinh

TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ - Trần Thoại Nguyên



Ngắm vầng trăng huyền mộng chợt nhớ hồn thơ Hàn Mặc Tử. Xin chia sẻ bài viết của tôi 25 năm trước (1998) vẫn còn nguyên giá trị, đọc lại vẫn thấy hay, sâu sắc!
 
TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ
 
Qua 2 câu thơ 

"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó 
Có chở trăng về kịp tối nay".
 
HÀN MẠC TỬ (1912-1940) bậc tài hoa yểu mệnh, thiên tài kiệt xuất của thơ ca hiện đại Việt Nam với một hồn thơ trăng láng lai bất tuyệt rất đặc biệt, hết sức độc đáo, tôi đoan chắc rằng thơ ca nhân loại chúng sinh xưa nay không có một nhà thơ, thi nhân, thi sĩ nào có thể gùn ghè cập kè so sánh!
 
READ MORE - TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ - Trần Thoại Nguyên

QUAN NIỆM VỀ “NGỢM NGƯỜI” TRONG THƠ THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch


                                                                                                             
Sau cơn dịch Covid xảy ra tại Việt Nam, các vị quan quyền thành củi đưa vào lò đốt nhiều quá. Mời quý vị đọc quan niệm về “Ngợm Người” trong thơ Thái Quốc Mưu để thấy nhà thơ ghét bọn quan lại tham ô đến độ nào.
 
Nếu ai hỏi tôi nhà thơ Thái Quốc Mưu yêu gì và ghét gì nhất, chắc có lẽ tôi không trả lời được điều yêu nhất, nhưng điều ghét nhất của Thái Quốc Mưu thì qua thơ ông quá rõ ràng.
 

Trong bài thơ khóc Nguyệt Lãng, một trong những người bạn thơ thân nhất của Thái Quốc Mưu, nhà thơ đã khuyên người quá cố đừng trở lại trần gian chẳng phải vì trần gian là chốn sinh, lão, bệnh, tử hay điều gì khác mà chỉ vì trần gian là chốn có nhiều “ngợm người”:
 
Đừng nên trở lại nơi trần thế
Một cõi quanh anh lắm ngợm người
                     (Khóc Nguyệt Lãng)

Trong một lần “Viếng Trời” nhà thơ cũng so sánh sự khác biệt đáng kể nhất giữa cõi trời và cõi người mà cõi người có lắm “ngợm người”:
 
Nước trời trên dưới cùng tôn quý
Khác với nhân gian lắm ngợm người
                                    (Viếng Trời)
 
Vậy “ngợm người”là gì?
 
Thật ra chữ “ngợm người” không tìm ra một định nghĩa chính xác. Tự điển Việt Nam có sách định nghĩa: “ngợm người” là người ngu dại”; có sách định nghĩa: “ngợm người là người, với ý nghĩa xấu nói chung”. Lại có người cho chữ “ngợm” phát xuất từ chữ “ngựa” nên chữ “ngợm người” là, “nửa ngựa nửa người, nghĩa là người không ra người mà ngựa chẳng ra ngựa”. Cũng có giải thích “ngợm người” như sau: “Ngợm là gì? - Ngợm cũng đi bằng hai chân, mặc quần áo, mang hia, đội mão, có trí tuệ, có tiếng nói, ăn từ thượng vàng hạ cám đến cao lương mỹ vị xuống bắp luộc khoai nướng nhưng khác con người ở chỗ, con người có thể ăn được đủ thứ nhưng không bao giờ ăn thịt đồng loại, còn ngợm thì đến thịt đồng loại cũng sẵn sàng ăn sống nuốt tươi” (Tất nhiên người mà ăn thịt người chỉ nói theo nghĩa ngụ ý mà thôi).
 
Như thế chữ “ngợm người” cũng như chữ “chó má”. Con chó có thể ăn bẩn nhưng dứt khoát không ăn thịt đồng loại, còn con má về hình thức giống y như con chó nhưng đến thịt đồng loại cũng không từ! Có người nghĩ rằng, “ngợm người” là lũ người “điên” cần phải đi học. Học gì? - Học làm người, học để biết thiên chức của con người”.
 
Xem như thế “ngợm người” hay “người ngợm” quả nhiên không phải người tốt.
 
Tóm lại, “ngợm người” để chỉ những kẻ có hình thể, vóc dáng của con người, nhưng cách sống với đồng loại, chưa đạt được cái bản chất đích thực của CON NGƯỜI, mà tôi đã đọc trong mục danh ngôn đâu đó câu: “Hãy sống sao cho người ra NGƯỜI” của Thái tiên sinh.
 
Ngoài ra, trong bài thơ Niềm Mơ Ước Vĩ Đại Của Tôi, Thái Quốc Mưu đã viết:
 
Mặc ai mơ nước Thiên Đàng
Mặc ai mơ cõi Niết Bàn xa xôi
Tôi sinh ra giữa Đất, Trời.
Chỉ mong làm được CON NGƯỜI – viết hoa.
 
Theo Thái Quốc Mưu thì giống động vật mang tên người, khi được “Viết hoa” thành CON NGƯỜI thì vô cùng khó khăn, lớn lao, vĩ đại, và cao quý hơn tất cả. Nó nằm trên tất cả những ước mơ – kể cả Thiên Đàng hoặc Niết Bàn. Bởi, khi tất cả giống người biết tu thân để trở thành CON NGƯỜI được viết hoa, thì xã hội lúc đó đa số chỉ có những CON NGƯỜI đích thực là NGƯỜI. Họ toàn là bậc chính nhân quân tử, lương thiện, gắn bó yêu thương,.. thì Thiên Đàng hoặc Niết Bàn đã hiện hữu giữa trần đời, chẳng phải tìm đâu xa. Khi ấy, lũ “ngợm người” không còn đất dung thân, chẳng thể tồn tại. Sẽ tự diệt.
 
Bây giờ qua thơ Thái Quốc Mưu ta thử tìm xem những thành phần nào trong xã hội mà nhà thơ ghét nhất? Câu trả lời, chính xác nhất, đó là lũ “ngợm người”.
 
Trong bài thơ “Trên Chót Đỉnh” Thái Quốc Mưu đứng trên núi nhìn xuống “đời”, ông đã thấy “lắm lũ loài”. Ông dùng chữ “lũ loài” chứng tỏ ông rất ghét hạng người nầy, đó là hạng người tranh bả lợi danh, giựt dành lợi lộc làm mất cái nhân tính đích thực của CON NGƯỜI:
 
Ngó xuống. Ôi chao lắm lũ loài
Tranh chấp bả danh nhân tính mất
Giựt dành lợi lộc hận thù sôi
                   (Trên chót Đỉnh)
 
Cái bọn người mà bả danh vọng và lợi lộc đã làm cho họ sôi máu hận thù, mất đi nhân tính đó, đã được nhà thơ gọi đích danh trong bài thơ “Khác Biệt” của ông:
 
Quan tham đầu óc như “lì đỗn”
Chỉ biết thu gom với nhét vào
                              (Khác biệt)
 
Đọc ngược hai chữ đóng trong ngoặc kép ta thấy Thái Quốc Mưu khinh bọn quan tham đến cỡ nào.
 
Và với Thái Quốc Mưu bọn người ấy không những là phường phi đạo đức, bất tài, bất nhân, bất nghĩa, tham lam vô tận, lừa bịp, thất học, ngô nghê trước quần chúng; vậy mà hay lếu láo khoe khoang, vênh váo,.. ăn trên, ngồi tróc để lèo lái mọi việc chẳng khác nào như bác tài vừa dỡ lại ba hoa:
 
Đạo đức trống không hay lếu láo
Chân tài rỗng toác cứ thày lay
                   (Có những bác tài)
 
Nhà thơ Thái Quốc Mưu không tiếc lời giận dữ điểm mặt bọn người xấu xa trên với lời lẽ vô cùng cay cú:
 
Hôm sớm đem đầu ra đội đít
Trưa chiều gục mặt để chờ khi
Cong lưng đổi miếng mồi danh lợi
Ngậm miệng ăn ba cái bã chì
                              (Vịnh ông Táo)
 
Và cuối cùng Thái Quốc Mưu không còn nể nang gì nữa và thẳng tay chỉ vào mặt bọn người mà ông ghét nhất trên trần gian nầy, công bố, vạch trần tội lỗi xấu xa nhơ nhuốt của họ, lũ “ngợm người” mà từ xưa đến nay thời nào cũng có:
 
QUAN ÔN XƯA NAY
 
Phẩm chất kém - cần sơn, phết, xi
Bằng cao. dốt rặt mới ly kỳ
Văn thư nguệch ngoạc run cầy sấy
Chữ ký loằng ngoằng méo miệng ghi
 
Quán nhậu nghênh ngang tuồng hổ, sói
Cửa quyền hống hách tựa tần, phi
Gặp thời chồn cáo vươn nanh vuốt
Sớm tối vênh vênh cái mặt chì.
 
Vậy qua thơ ta biết thứ mà nhà thơ ghét nhất trên đời là ai vậy?
Tất nhiên không phải là những người mang chữ “ngợm” với nghĩa xấu bình thường. Tất nhiên, đó không phải là người ngu dại; tất nhiên không phải người khuyết tật, người phạm tội hình sự, kẻ vô tình, vô tâm... Nói chung tất cả những người bị cho là “người xấu” đó, đều không phải thứ “ngợm người” mà Thái Quốc Mưu muốn đề cập. Thái Quốc Mưu nói thẳng lũ ngợm người ấy chính là những kẻ ngồi ở ghế quan lại trên cao mà kém tài, thất đức, bám danh hưởng lợi,...
 
Qua thơ Thái Quốc Mưu, bọn “ngợm người” là bọn “Quan ôn” vô lại. Bọn đó làm cho nhà thơ Thái Quốc Mưu chán chê thế gian nầy đến nỗi ông đã nhắn với người bạn thơ tri âm của mình:
 
“Nhớ bút hãy đùa cùng trăng gió
Thèm thơ xin nhắn cái thằng tôi”
 
nhưng
 
Đừng nên trở lại nơi trần thế
Một cõi quanh anh lắm ngợm người”.
 
Với bọn “ngợm người” nầy nhà thơ Thái Quốc Mưu cho rằng đã hết thuốc chửa rồi, cho nên ông chẳng cần nhắn nhủ khuyên lơn, dạy bảo gì họ cả, mà chỉ lắc đầu bỏ đi, buông ra cho chúng một câu để nhớ đời:
 
Chớ tưởng quyền uy thay trí óc
Đừng hòng sỏi đá hoá trân châu.
                                (Biển Đời)
 
 Châu Thạch

READ MORE - QUAN NIỆM VỀ “NGỢM NGƯỜI” TRONG THƠ THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch

Saturday, April 8, 2023

“HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng


Tác giả Hoàng Đằng

Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626) trong địa bàn huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị được xếp hạng “Di tích lịch sử quốc gia” vào năm 2018.
 
Baoquangtri.vn ngày 30/3/2023 đưa tin UBND tỉnh: “Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia “Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626).”
 
“Thông qua quy hoạch này, xác định các nhóm dự án hoàn thành, nhóm dự án ưu tiên trong giai đoạn trung hạn 2023 – 2025, 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2050 …”
 
Trong đó, “… mục tiêu dài hạn là bảo tồn, tôn tạo, phục hồi các yếu tố mang thuộc tính lịch sử gốc của di tích, đồng thời tạo ra một không gian lưu niệm lịch sử nhằm tôn vinh, tưởng niệm về thời kỳ lịch sử các Chúa Nguyễn cũng như tạo ra một khu du lịch mang tính chất lịch sử - văn hóa để kết nối với các di tích lịch sử hiện có ở vùng phụ cận, làm đa dạng, phong phú hơn sản phẩm du lịch Quảng Trị…”
 
*
Như thế, không chóng thì chầy, tỉnh Quảng Trị sẽ có thêm “một khu du lịch mang tính lịch sử - văn hóa”.
 
Sự quan tâm của chính quyền đến vùng đất khơi nguồn sự nghiệp mở cõi phương Nam làm cho lòng tôi dậy lên mừng vui, khiến tôi tìm đọc những tài liệu liên quan.
 
Và khi đọc, tôi lại nảy ra trong trí đôi điều thắc mắc về một vài sự kiện lịch sử, trong đó, có câu sấm: “HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” (Một dãi Hoành Sơn – đèo Ngang, dung thân đến muôn đời).
 
*
 
Lời sấm trên, xưa nay, được cho là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), một đại nho thông thái không những văn chương mà còn cả lý số, khi Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) cho người đến thỉnh ý trước khi vâng mệnh vua Lê chúa Trịnh vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558.
 
Wikipedia, ở mục “Nguyễn Hoàng”, có đoạn:
 
“ … Bàn mưu với bác họ là Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng ngầm sai sứ giả tới hỏi Trạng Trình. Nguyễn Bỉnh Khiêm, người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái Bảo về trí sĩ, lúc đó đã có tiếng giỏi nghề thuật số. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn cái núi non bộ ở trước sân mà ngâm lớn rằng: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân, nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được. Khi sứ giả về thuật lại câu ấy, Nguyễn Hoàng hiểu ý ngay.”
 
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời Nam – Bắc triều (1533 – 1592), sống và làm quan trong vùng do nhà Mạc (Bắc triều) cai trị (từ Ninh Bình trở ra) và rất được nhà Mạc ưu ái, trọng nể; bằng chứng là Ngài được phong tước Hầu (Trình Tuyền Hầu) rồi tước Công (Trình Quốc Công).
 
Còn Nguyễn Hoàng sống trong vùng do chúa Trịnh vua Lê (Nam triều) quản lý (từ Thanh Hóa trở vào).
 
Chúa Trịnh vua Lê và nhà Mạc là địch thủ của nhau, cai trị hai vùng riêng biệt. Làm sao có người từ vùng này sang vùng khác hỏi quốc sự với một vị quan lớn đang phục vụ chính quyền vùng ấy và rất được trọng dụng?
 
Tôi không tin việc Nguyễn Hoàng cho người ra thỉnh ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trước khi vào Thuận Hóa năm 1558.
 
Có nguồn nói lời sấm trên là Nguyễn Hoàng nhận từ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cho người đến thỉnh ý trước khi về lại Thuận Hóa năm 1600.
 
Nguyễn Khoa Chiêm (1659 – 1736) trong “Nam triều công nghiệp diễn chí” viết:
 
“Năm Canh Tý, niên hiệu Hoằng Định năm đầu (1600), mùa hè, ngày mồng một tháng năm, hữu thừa tướng Đoan quốc công Nguyễn Hoàng thấy tình cảm đối xử của Bình An vương Trịnh Tùng ngày một thưa nhạt, phải tính kế giữ mình, nhưng không nghĩ ra cách gì, bèn sai người đem vàng bạc làm lễ vật đến biếu viên quan nhà Mạc đã hưu trí về làng là Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm để hỏi kế giữ thân, Trình quốc công bèn lấy giấy bút viết tám chữ giao cho người tâm phúc của Nguyễn Hoàng đem về. Đoan quốc công Nguyễn Hoàng mở thư đọc thấy tám chữ: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung nhân” (Nghĩa là “Hoành Sơn một giải, dung thân muôn đời”). Đọc xong, Nguyễn Hoàng trầm ngâm nghĩ ngợi suốt cả một ngày mới chợt hiểu ra. Từ đó chỉ nghĩ cách tìm đường trở về trấn cũ.”
 
Chuyện Nguyễn Hoàng và đoàn tùy tùng từ Thuận Hóa ra Bắc rồi từ Bắc trở lại Thuận Hóa có nguyên cớ như sau:
 
Năm 1592, chúa Trịnh vua Lê từ Thanh Hóa ra đuổi nhà Mạc lấy lại Thăng Long. Năm 1593, Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa cùng đoàn tùy tùng ra Thăng Long mừng và ở lại giúp chúa Trịnh vua Lê dẹp tàn quân nhà Mạc, bình định lãnh thổ. Chúa Trịnh muốn giữ Nguyễn Hoàng ở lại đất Bắc, nhưng Nguyễn Hoàng không muốn và người ta đồn rằng Nguyễn Hoàng cho người hỏi ý kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được dạy: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân.”
 
Thông tin này cũng vô lý. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mất từ năm 1585, trước khi mất, chắc chắn phải đau yếu nhiều năm, thân thể mệt mỏi, trí não không còn sáng suốt. Vậy thì chuyện Nguyễn Hoàng cho người vấn ý để trở lại Thuận Hóa năm 1600 không có tính thuyết phục.
 
*
 
“SỬ” là chuyện thật, diễn ra trong quá khứ, “SỬ KÝ” là chuyện xưa do con người thuật lại, ghi chép lại (ký: ghi chép).
 
Sử được chép lại phải qua lăng kính của sử gia. Do trình độ, do thiên kiến, do áp lực, do muốn tuyên truyền, sử gia đã xào nấu lịch sử, vì vậy, sử ký không bao giờ là thật hoàn toàn.
 
“Tận tín thư bất như vô thư” (tin vào sách hoàn toàn thà chẳng có sách còn hơn), tôi nghĩ là chuyện Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên Nguyễn Hoàng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” là do đời sau bịa ra.
 
Bịa ra làm gì?
 
Khi giữa chúa Trịnh đất Bắc và chúa Nguyễn đất Nam “cơm hết lành, canh hết ngọt”, chúa Nguyễn tạo ra giai thoại để tuyên truyền việc dựng riêng cơ đồ ở Đàng Trong là do Trời định qua lý số từ ông thầy giỏi là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 
Hoàng Đằng
05/4/2023
 
READ MORE - “HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng

THƠ VỀ TAM QUỐC CHÍ CỦA CHU VƯƠNG MIỆN


 


TAM CỐ THẢO LƯ
 
LẦN 1
 
ba anh em Lưu Quan Trương
đi ngựa tới đồi Ngọa Long Cưong
không gặp hiền tài ra về
vào quán cóc gặp Thôi Châu Bình
tưởng Khổng Minh
nói dăm điều ba chuyện
loạn loạn bình bình
dỏ dở gàn gàn
mât thì giờ
bỏ đi luôn?
 
LẦN 2
 
gặp Thạch Quảng Nguyên
nói lác lác xàm xàm
không lọt lỗ nhĩ
đến nhà tiên sinh Ngọa Long
gặp Gia Cát Quân
ra về dọc đường
gặp Hoàng Thừa Ngạn
nhạc phụ của Gia Cát Lượng
 
LẦN 3
 
ba vị tướng quân
khoanh tay đứng hầu ngoài cửa
chờ Khổng Minh ngủ
cuộc gặp mặt
như rồng gặp mây như cá gặp nước
buổi hội ngộ đầu tiên
nơi lều tranh mang bản đồ ra chia 3
"Tam Quốc"
Bắc Ngụy Đông Ngô Ba Thục
 ba đỉnh chân vạc
vững 52 năm

 
LOẠN
 
Nhà Tây Hán do tập đoàn Lưu Bang gầy dựng
Tồn tại được khoảng 200 năm thì suy vi
Lưu Tú tức Hán Quang Vũ họ xa
Phục hưng lại lấy tên là nhà Đông Hán
Lưu truyền được khoảng 200 năm
Thì chuyển qua thời đại loạn
Nhà vua cuối cùng là Hán Hiến Đế
Vô tài bất tướng và nhu nhược
Là nguyên nhân dẫn đến loạn
Trong thì hoạn quan Thập Thường Thị tác oai tác phúc
Ngoài thì Giặc Khăn Vàng lộng hành
Triều đình không ai nghe lệnh ai
Các sứ quân “Tiết độ Sứ”
Phần đất nào tự lo liệu phần đất nấy
 
 
CÁC SỨ QUÂN
 
Bên kia sông Trưởng Giang là lãnh địa
Của Tôn Kiên
Phía Hứa Xương “Hứa Đô” là địa bàn cuả Tào Mạnh Đức
Ích Châu thuộc Lưu Chương
Kinh Châu thuộc Lưu Biểu
Một phần Hà Bắc “Tân Dã” thuộc Lưu Bị
Mạn Bắc thì Mã Đằng và Hàn Toại chiếm giữ
Đất ai người đó lo
Đất nước bị xé ra thành nhiều mảnh
Chiến tranh lần lần thu gom lại
Rôi tạm chia ra làm 3 phần
“gọi là thế chân vạc dầu”
Mới đầu các lãnh chúa tạm xưg làm Chủ
Như Ngô Chủ , Thục Chủ và Nguy Chủ
Cá mè một lứa
 
 
TÀO PHI
 
Là con lớn
Cùng với cha là Tào Tháo
Xung tên đụt pháo
chiến đấu cơ khổ
còn Tào Thực là con thứ
chỉ ở nhà rong chơi làm thơ
nhưng Tào Tháo lại cưng chiều
Tào Phi rất mực
Khi Tháo qua đời ngừơi
Phi bắt Thực tới làm việc
Cùng đàn hặc
Và lệnh cho Thực đi bẩy bước
Làm một câu thơ
Đi 28 bước xong một bài thơ 
Thực chấp hành nghiêm chỉnh
Thơ như vầy
 “củi  đậu nấu đậu
Đậu trong nồi khóc than
Cũng cùng chung hai gốc
Mà rang nhau sao đành?”
Phi tha
 
 
THỜI THẾ

Hết sức là lăng nhăng
Và lôi thôi
Khôn cũng chết và dại cũng o thoát
Biêt cũng chả còn
Và o biết cũng đi luôn?
Vẫn non đó
Và nước đó
Những người sống ra con người
Không còn
Xã hội chỉ còn lại toàn rác rưởi
Loạn từ đầu tới cuối
52 năm thế chân đỉnh
Chán mớ đời?
 
 
TH. KHOÁI TRIỆT
 
Lúc tiên sinh từ giã lều tranh
Phò Lưu Huyền Đức nơi thành Tân Dã
Mới có hăm bẩy tuổi
Lúc đó ta Tào Tháo 54 tuổi đã già
Ôi Khổng Minh Rồng nằm trên đồi Ngoạ Long Cương
Hậu kiếp của mưu thần Khoái Triệt
Khi đó bàn với ta chia ba thiên hạ sự
Lúc đó Tín không nghe
Chuyện chia ba thiên hạ
Sau này mới hối thì không kịp
Đúng là ý trời một đàng
Ý người một nẻo
Thành ra tréo cẳng ngỗng
Để nhà Hán cai trị
Kể cả Tây và Đông gần 400 năm
Chừ mới loạn
Nếu ta nghe lời Khoái Triệt chia ba thiên hạ
Thì Kim Kiếm Điêu Linh
Bá tánh thiên hạ chết cả đàn cả lũ
tan tành xí quách chả còn gì?
 
Nuôi quân ba năm
Dùng có một giờ
Chi mộ giờ thôi
Quyết định thành hay bại
Theo thời thế hiện giờ
Giữa thế trai cò
Ai nhanh tay người đó thắng
Đại Vương ngả về Hán thì Hán thắng
Mà ngả về Sở thì Sở thắng
Tách riêng ra là thế chân vạc
Chả mèo nào ngán mỉu nào?
Việc quân không thể phân vân lưỡng lự
Một thắng một bại
Hàn Tin nghe nói vậy ậm ờ chưa quyết
Khái Triệt biết rằng mình lỡ lời
Nói vào Lỗ Tai Cây
Biến ngay
 
 
CHIẾN TRANH
 
“Ngô Thục”
Đông Ngô Gia Cát uýnh lẫn nhau
Đông Ngô thất thế Đông Ngô chạy
Gia Cát ở lại đánh trận sau
                            (Vè thời 3 quốc)
 
 
Chú thím giải:
 
 “Ý nhĩa giản đơn như sau, khi rang Bắp Ngô người ta thường bỏ cát vào trong chảo rang, đun lửa cho thật nóng, lấy xẻng nhỏ đảo qua đảo lại rồi cho Bắp hay Ngô vào, lấy xẻng nhỏ đảo qua đảo lại. Khi nào thấy Bắp hay Ngô nở to ra thì đổ cả Bắp và cát ra ngoài cái rổ, xàng qua sàng lại vài lần cho Cát rơi hết xuống cái mẹt phía dứơi, phần bắp kể như là xong, tiếp tục đổ cát vào chảo, chờ cho nóng rồi lại đổ Bắp vào rang tiếp”
 
 
NGỰA

 
XÍCH THỐ
 
Là danh mã nòi thiên lý
Quý hiếm vào bậc nhất thiên hạ
Lữ phụng Thiên một thời nang dọc
Trên lưng Xích Thố
Trăm trận trăm thắng
Cuối cùng cũng mạng vong
Tại ngựa hay tại người?
Tào Tháo ban ngựa Xích thố
 cho Quan Vân Trường
đánh đâu thắng đó
qua năm ải trảm lục tướng
sau cùng cũng bị bại
bởi danh tướng Lữ Mông
tại ai?
Người hay ngựa
 
 
ĐỊCH LƯ
 
Được thầy xem tướng ngựa
Phán là có tướng phản chủ
Vì trên mặt có một vệt trắng
Nhưng ở Đàn Khê thì ngựa cứu chủ
Mà trên đường vào Tây Xuyên
 Qua Lạc Phụng Ba
Cả thầy lẫn ngựa đều vong mạng
Vì bị gỗ và đá đè chết?
Ngựa phản người hay ngưởi phản ngựa
 
 
DANH SĨ MIỀN NHÃ NAM
 
Thông lầu kim cổ Tứ Thư Ngũ Kinh
Bách gia chư tử
Thời đại loạn cuối đời Đông Hán
Im ru bà rù chùm chăn kín cổ
Lặng thinh
Toàn là nói phét nổ
Nào tự phong là Ngoạ Long “tức Rồng Nằm”
Phượng Sồ “tức Phượng non”
Được một trong hai vĩ nhân
Thống nhất thiên hạ như móc đồ trong túi ?
Lưu Huyền Đức được cả hai trự
Một chết trẻ ở Lạc Phụng Ba
Một chết già ở Ngũ Trượng Nguyên
Nhà Hậu Hán chết dở sống dở
Nơi Ba Thục Tứ Xuyên

 
ĐAN PHÚC
 
Cờ đã đến tay
Phất mỏi cả tay
Chuyển từ tay này sang tay kia
Vẫn mỏi
Lưu Bị Gậy gặp được Đan Phúc
Đúng là cơ hội bằng “vàng giả”
Như cá gặp nước
Như rồng gặp mây
Chiến thắng quân Tào vù vù
Đang lên như diều gặp gió
Thì được tin nhà?
“của từ mẫu phía Tào Tháo gửi qua
Mở ra đọc chỉ có một chữ  duy nhất
Là Dìa”
Đọc xong thư của mẹ già
Từ Thư khóc ròng
Bèn đưa thư cho Lưu Bị
Đọc xong cả hai đều rơi nước mắt
 
 
THÁC
 
KỶ TÍN
 
bình thường tầm thường
thác sinh làm Triệu Vân
không có công trạng gì hoành tráng
ngoài cái chết thay cho Lưu Bang
đời đời được thờ phụng
nơi miếu đường

 
HÀN TÍN
 
mang cả giang san họ Sở
dâng tận tay Lưu Bang
chết toàn thây
nơi gác chuông
uổng phí một đời
múc nước
cho chó uống

 
TÀO THÁO
 
Trần Cung nhận xét
thời thịnh anh là trung thần
thời loạn anh là gian hùng
thời thế nhiễu nhương
tam phân ngũ liệt
chính nhân quân tử
không bao nhiêu
tiểu nhân lưu manh
quá nhiều
nắm được thời thế
ổn định triều cương
chuyện o dễ dàng
tóm gọn giang san về một mối
duy nhất lúc bấy giờ
chỉ Tào A Man
 
 
LIÊN HOÀN KẾ
 
 Thu gom một số quân của Trương Lỗ
Một số quân của 2 Viên “Thuật - Thiệu”
Một số quân Kinh Châu của Lưu Biểu
Toán quân hầm bà làng ô hợp
Tổng cộng vào khoảng 40 vạn
Chỉ có số quân Kinh Châu là rành thuỷ chiến
Phần còn lại là lính bộ
Tháo thổi phồng lên là 80 vạn
Vốn người phương Bắc không quen thuỷ thổ
Và thuỷ chiến
Trú đóng trên những chiến thuyền
gió thổi lắc la lắc lư
tiến thoái khó khăn chung
đang lúc khẩn trương
thì quân thám mã đưa vào trung quân một dị nhân
đầu đội nón tu lơ
chân giầy cỏ, ngang bụng đeo lủng lẳng một bầu rượu
ngửa mặt nhìn trời vừa đi vừa lẩm nhẩm
Tháo hỏi: “tiên sinh người xứ nào?
Biệt tiệm là chi?
“Người Nhữ Nam tên tục là Bàng Sĩ Nguyên”
Nghe vừa xong Tháo bèn đứng ngay dậy
Xá dài 4 cái rồi nói:
Đúng là trời ban cho ta
Tình cảnh sông nước thế này
Mà đa số quân lại không rành thủy chiến
Sóng gió đưa thuyền lắc lư ?
Tiên sinh có cao kién gì xin chỉ giáo?
Không cần suy nghĩ phán ngay:
“dùng móc sắt và dây xích sắt
Cột các thuyền lại với nhau thành đường thẳng
Trên thuyền trải ván gỗ làm đường giao thông
Nhưng phải đề phòng hoả công của địch
Và gió đông
Tháo Cười: “đang vào mùa thu làm gì có gió đông?
Sau đó thì thuyền bè của Nguỵ quân
Cứ theo kế sách đó mà làm
 
 
ĐỔNG TRÁC
 
Cũng là một sứ quân có chất lượng
Có quân và có tướng tá
Nhất là có đại tướng Lã Phụng Thiên
Hùng tài đởm lược vừa bỏ sứ quân Đinh Nguyên
Về giúp dật
Oanh oanh liệt liệt chiến thắng được nhiều nơi
Sinh ra cái cảnh kiêu ngạo
muốn cướp ngôi
bị Liên Hoàn Kế của Vương Tư Đồ
Lữ Bố đâm chết Đổng Trác
Chưa đâu vào với đâu
Thì lại phát sinh “giặc Lý Thôi Quách Tỵ”
Lại một thời Kim Kiếm Điêu Linh
 
 
ẢO TƯỞNG
 
Đánh nhau bàn giấy
Chiến địa bằng mồm
Anh nào cũng có cảm tưởng mình là số 1
Khôn
Thực tế không phải vậy
Y như đãi cát tìm vàng
Tự khoe và tự sướng
Là chủ quan
Đụng thực tế vỡ mặt vỡ mõm
Chuyện trận địa và tắc chiến
Phải tiếp cận phải đích thân ham dự
Còn trong thư phòng
Thảo lư
Tưởng tượng chỉ là chuyện vui đùa
 
 
 
ĐAI KIỀU & TIỂU KIỀU
 
Hai đoá hoa thược dược tuyệt mỹ
Xứ Giang Đông
con của Kiều Quốc Lão
Đại Kiều là phu nhân của Tôn Sách
Tiểu Kiều là phu nhân của Chu Du
Khiến Tào Tháo người đa năng đa tài
Và đa tình “cái tính dễ thương
“dê Cụ dê Ông nội”
Nghĩ rồi làm ngay
Bèn làm 1 cú đảo chánh phủ 
Gom góp tàn quân thu được của 2 Viên
“Thuật và Thiệu” thêm quân Kinh Châu
Của Lưu Biểu
Thế là bèn đi một đường lả lướt hoa lá cành
Dẫn 40 vạn quân hổ lốn
mà thổi phòng hành 80 vạn quân
dàn ra trận Xích Bích ở sông Trường Giang
mục đích là thao dượt
để hai người đẹp ngán chơi
tiếc thay kỳ ra quân này
thua đậm
chạy có cờ có quạt
“cháy túi"
 
 Chu Vương Miện

READ MORE - THƠ VỀ TAM QUỐC CHÍ CỦA CHU VƯƠNG MIỆN