Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, June 21, 2022

KHÓI LÁ VƯỜN - Truyện ngắn Nguyễn Bàng


Tác giả Nguyễn Bàng
 
Thằng bé hai tay bám song cửa sổ, mắt ngóng về phíá Tây, nơi có một dẫy đồi cỏ dại đang tắm nắng chiều. Nó chăm chú xem Ông Mặt Trời sau một ngày tỏa nắng cho muôn vật đang về nhà nghỉ ngơi, - Bà bảo thế! - Ông Mặt Trời hôm nay đẹp thật, Mặt ông tròn vành vạnh như chiếc bánh đa đỏ, Ông đi giữa một tấm thảm mầu da cam vàng rực và hình như có lúc đứng lại, nhìn nó cười.
 
- Bà ơi! Ông Mặt trời về đến nhà rồi – Nó gọi như reo lên khi thấy Ông Mặt trời tụt hẳn xuống mé sau đồi.
- Ừ! Bà cũng xong cơm rồi. - Tiếng đáp vọng vọng ra từ chái bếp. Rồi một người gầy mỏng tiến lại chỗ thằng bé, chìa tấm lưng sát vào nó và âu yếm nói:
- Nào, bà cõng ra vườn!
 
Thằng bé cuống quít dời tay khỏi chấn song, ôm quàng lấy cổ và quặp hai chân vào mạng sườn bà, miệng reo: “Nhong! Nhong!” như cưỡi trên lưng ngựa. Bà cũng giả bộ hý lên mấy tiếng ròi mới cất chân đi.
 
Mảnh vườn phía sau nhà trồng mấy luống rau và non chục gốc cây ăn quả. Một cái ao nhỏ ngoài vườn vừa để ngăn trộm vừa để lấy nước tưới. Bây giờ đang độ cuối thu, suốt ngày hanh hao nắng rát khiến những ngọn rau lúc nào cũng thèm khát nước và trên các cành cây ăn quả nhiều chiếc lá đã nhuốm vàng, chỉ một làn gió nhẹ là rơi rụng.
 
Vừa tới vườn, thằng bé đã vội tụt xuống lưng ‘ngụa’ rồi lăng xăng quẩn theo chân bà nhặt từng chiếc lá khô nằm vương trên các luống rau và các lối đi nhỏ hẹp. Được chiếc nào nó cũng đưa lên mắt tò mò ngắm nghía rồi hỏi bà lá gì. Khi biết lá na, lá ổi hay lá hồng xiêm, nó mới chịu bỏ vào cái giành tre bên gốc bưởi.
 
Nhặt xong lá rụng, nó ngoan ngoãn đứng trên bờ ao đợi bà xuống cầu xách nước. Rồi nó lại lon ton sau bà xem cái vòi sen rào rào phun hàng trăm tia nước xuống các luống rau đang khao khát. Chốc chốc nó lại nhoai người, xòe hai bàn tay hứng vào miệng vòi để nước bắn tung tóe đầy mặt và thích thú reo lên “A! Mát quá!”.
 
Ba hôm trước, nó còn ở trên thành phố trong một căn phòng nhỏ hẹp tít trên tầng năm khu nhà tập thể công nhân đầy các mảng tường rêu mốc. Ở đấy chẳng bao giờ thấy Ông Mặt Trời. Ở đấy chẳng nhà nào có một mẩu vườn. Người ta trồng các cây cảnh rẻ tiền trong những chiếc xô nhựa nham nhở các vết nứt hay những chiếc chậu xi măng xám đen cáu bẩn bầy đặt trên các lan can cơi nới xấu xí. Ở đấy cả ngày nó quanh quẩn với lũ đồ chơi cũ kĩ, đâu có một buổi chiều như ở đây với bà.
 
Thấy giành lá khô đã đầy có ngọn, bà bảo:
- Đem đốt chỗ lá này đi!
- Đốt nó để làm gì hả bà? – Thằng bé ngây thơ hỏi
- Để mai có giành đựng và để lấy tro bón vườn. - Bà vừa giảng giải vừa đặt hai tay lên hai chiếc quai giành. Thằng bé bắt chước theo. Nó cười sung sướng thấy có mình giúp bà mới nhấc bổng được cái giành lên.
 
Ra ngoài bờ ao, bà trút hết lá khô vào một hố đất rồi kéo cháu cùng ngồi xuống bên. Thằng bé mở to mắt xem bà đốt lá. Nó thấy bà lần trong túi áo ra một bao diêm, xòe một que châm vào miệng hố. Một đốm lửa nhen lên, ban đầu trông như cái lưỡi nhỏ xíu hồng hồng yếu ớt bỗng chốc phồng lớn lên, rồi như một kẻ tham ăn mọc thêm ba bốn cái lưỡi nữa to hơn, đỏ hơn liếm ra khắp phía, biến hố đất thành cái lò đỏ rực. Từ miệng lò tỏa lên một làn khói màu xám bạc đem theo mùi thơm vừa nồng nồng vùa hăng hắc của nhiều lá khô trộn lẫn. Thằng bé bỗng thấy bà nhìn theo làn khói và nâng vạt áo lên chùi mắt. Nó hốt hoảng hỏi:
 
- Làm sao bà lại khóc?
- Bà có khóc đâu! Khói làm cay mắt bà đấy. - Bà buông vội vạt áo quay mặt đi, nuốt xong tiếng thở dài mới quay lại nhìn cháu. Thằng bé vui mừng vì mắt bà đã khỏi.
 
Nó cúi nhìn hố lửa và bị ngay một làn khói mới đặc hơn xộc lên mặt. Nó thấy mũi cay cay ran rát vội nhìn xem bà có sao không. Nhưng lạ chưa: Đôi mắt bà lại đang mê man nhìn làn khói. Nó ngạc nhiên hỏi:
- Bà ơi! Khói làm cay mắt thế sao bà cứ nhìn nó?
Không thấy bà trả lời, nó cầm tay bà nhè nhẹ lắc:
- Hay bà nhìn thấy gì trong khói?
- Ờ!...Ơ!..- bà bối rối chưa biết nói sao thì thằng bé lại tưởng bà bảo: "Ừ, ừ” đúng đấy. Nó năn nỉ:
- Bà nhìn thấy gì, hả bà?
- À! – Giọng bà vui hẳn lên vì đã tìm ra cách nói – Bà thấy cô Tấm hiện lên trong làn khói, cháu ạ!
- Thích quá bà nhỉ! – Nó cười hớn hở - Cô Tấm trong chuyện cổ tích bà kể tối hôm qua phải không?
- Phải đấy!
- Thế cô Tấm đang làm gì?
- Cô Tấm đang đứng bên bờ giếng, trìu mến gọi con cá bống;
 
“Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người!”
 
- Bà có thấy con Bống không?
-  Có! Nó nổi lên mặt nước, vẫy cái đuôi nhỏ xíu, toàn thân khoác bộ vẩy óng ánh như dát bạc và hai mắt long lanh như hai viên hồng ngọc.
- Ôi, đẹp quá! – Thằng bé trầm trồ khen nhưng bỗng xịu ngay mặt lại – Thế mà cháu chẳng nhìn thấy một tị ti gì cả.
- Lớn lên cháu sẽ nhìn được!
 
Nghe bà dỗ dành, nó ao ước lớn nhanh bằng bà để có đôi mắt nhìn thấy những điều kỳ diệu. Nó đứng lên ôm cổ bà, nhìn thẳng vào đôi mắt thần kỳ của bà xem có gì trong đó. Nhưng dưới ánh chiều nhập nhoạng, đôi mắt ấy như đang khép nhỏ lại với hai cái đuôi mờ mờ những vết nhăn chẳng có một hình ảnh nào. Nó áp mặt vào má bà cho gần hơn và bất chợt nhận ra mắt bà rất giống mắt bố nó, đen và hiền. Thế là nó sực nhớ tới bố:
- Bà ơi! Mắt bà có nhìn được bố cháu trong làn khói không?
 
Nghe cháu đột ngột hỏi, bà rùng mình như bị nhiễm lạnh. Trời ơi! Những giây phút vừa qua cà đã đem những hình ảnh cổ tích đẹp nhất ra nói. Những tưởng nó sẽ vui cùng với thế giới huyền ảo đó mà quên đi nỗi xa bố mẹ giúp bà dập tắt những nỗi đau đang vò xới cõi lòng. Ai ngờ nó lại thốt ra câu hỏi bà thật khó trả lời. Mà kì lạ thay, nó hỏi gần như lặp lại lời bố nó năm xưa đã hỏi bà?...
 
Năm ấy, bố thằng bé cũng trạc tuổi nó bây giờ còn bà là một cô giáo làng xinh đẹp. Mỗi chiều, tan trường về, khi đem con ra mảnh vườn này, cô giáo trẻ lại bồi hồi thương nhớ chồng đang ở chiến trường miền Nam. Anh nhập ngũ khi đứa con mới trong bụng mẹ ba tháng. Hồi anh ở nhà, hai vợ chồng như đôi chim câu chung tay mọi việc vườn tược. Hạnh phúc nhất là khi đốt lá vườn. Ngồi tựa vai nhau bên ngọn lửa hồng giữa mùi thơm của lá khô đang cháy, thì thầm bên nhau những chuyện từ ngôi sao trên trời đến con cá dưới ao và ngày mai hy vọng... Buổi chiều trước hôm chia tay, nhìn khói lá vườn, anh ôm chặt vợ và mơ màng bảo: “Mai đây, mỗi khi em đốt lá vườn, dù ở phương trời nào anh cũng sẽ thả hồn về với em trong làn khói!”. Và thật linh nghiệm, cô luôn thấy hình bóng anh trong khói lá vườn.
 
Một buổi chiều, cũng như chiều hôm nay, sau nửa năm vắng bặt tin chồng, lòng cô giáo trẻ đang chất chưa lo buồn vì khói đã bốc lên mấy làn mà nhìn mãi vẫn không thấy hình bóng chồng. Một nỗi lo sợ mơ hồ làm cô ứa lệ.
 
  Đứa con thấy mẹ lấy khăn tay lau mắt, xót xa hỏi:
- Sao hôm nay mẹ khóc?
- Mẹ bị khói cay mắt đấy! - Cô vội nói dối con. Nhưng nó rất tinh ý:
- Con biết rồi, mẹ nhớ bố thì có! Lúc nãy con thấy mẹ ngắm mãi ảnh bố treo trên vách.
- Biết không dấu nổi con, cô ôm nó vào lòng:
- Thế con có nhớ bố không?
- Con nhớ bố nhiều lắm! - Nó dụi đầu vào ngực mẹ.
 
Vườn chiều im lặng, nghe rõ cả tiếng nổ lách tách rất nhỏ của lá khô bén lửa. Cô giáo lại nhìn hút hồn một vào làn khói mới và nghe thoáng bên tai lời âu yếm của con;
- Mẹ nhìn thấy bố đấy ư?
 
Thương nó cũng đang cồn cào nhớ bố, mặc dù vẫn không tìm thấy hình bóng chồng, cô vẫn cả quyết gật đầu khiến nó mừng rối rít:
- Mẹ thấy bố thế nào?
- Bố mặc quân phục mầu xanh như trong ảnh ấy nhưng nom rắn rỏi và khỏe mạnh hơn nhiều.
- Thế bố đang làm gì?
- Bố đang cùng đơn vị hành quân trong một cánh rừng già khi trời vừa tạnh mưa. Có lúc mẹ thấy bố nhìn về phương Bắc. Chắc bố cũng nhớ mẹ con mình lắm!
 
Từ đó, tuy không bao giờ còn được nhìn thấy chồng thả hồn về với mình như hẹn ước, nhưng mỗi bận đốt lá vườn, cô giáo vẫn nhìn khói lên và tưởng ra rất nhiều hình ảnh về anh để kể cho đứa con nghe. Khi thì bố nó đang đào hầm dựng lán giữa rừng cao su bạt ngàn; khi thì đang moi hố chiến đấu trong trảng cát dưới những chùm pháo sáng xanh lét như ma quỷ của địch bay lơ lửng trên đầu; khi thì đang cùng đồng đội xé nát hàng rào giây thép gai của giặc... Những hình ảnh đó đều bắt nguồn từ các bản tin chiến thắng của quân và dân ta ở chiến trường được phát trên loa truyền thanh công cộng của làng. Cứ thế, đứa con lớn dần lên với những hình ảnh hào hùng của bố nó cho đến ngày làng nhận tin báo tử: Bố nó đã hy sinh khi tiến quân vào giải phóng một thành phố ven biển...
 
Không được bà trả lời, thằng bé lại cầm tay bà lắc lắc:
- Bà ơi! Bà có nhìn thấy bố cháu không?
- À! À! – Bà đã thoát ra khỏi vùng dĩ vãng và thấy sáng lên một ý tưởng – Có! Có đấy cháu ạ!
- Mắt bà tài lắm mà! Thế bố cháu đang ở đâu?
- Bố cháu đang ở trong xưởng máy cùng các bác công nhân đóng một con tàu biển rất to.
 
- Đúng rồi! Hôm dễ cháu ở cùng bà, bố bảo sẽ đi làm ở nhà máy đóng tàu. Bố còn bảo, bao giờ tàu chạy được ra biển, bố sẽ về thăm bà cháu mình, bà nhỉ?
 
Tối hôm ấy, thằng bé không đòi bà kể chuyện cổ tích mà hào hứng nói cho bà nghe về những con tàu nó đã được bố cho xem trong những cuốn sách. Những con tàu với những ống khói rất to, trên boong treo đầy cờ rực rỡ đủ màu sắc. Nó bảo, lớn lên nó cũng đi đóng tàu như bố rồi rúc ngực bà chìm ngay vào giấc ngủ. Bà kéo chăn đắp cho cháu và chẳng phải giấu giếm nữa, bà để mặc nước mắt tuôn trào. Tội nghiệp cháu tôi! Nó còn bé bỏng quá! Thấy được về quê ở với bà, nó mừng như chó được thả xích chứ đâu biết cái tổ ấm gia đình của nó đang trong cơn giông tố...
 
Cô giáo trẻ đã khước từ lên dạy trường huyện để được ở làng để nuôi dưỡng bố mẹ chồng đau ốm. Cô cũng khóa chặt lòng mình trước bao lời cầu hôn tha thiết, dành trọn lòng yêu thương cho đứa con côi cút. Đứa con ấy đã đi ngang qua ba trường phổ thông ở làng và ở huyện rồi lên thành phố học Đại học. Nó ra trường với tấm bằng kỹ sư loại giỏi và may mắn được vào làm trong một nhà máy đóng tàu. Ngày lĩnh lương tháng đầu tiên, nó lăn lội đạp xe vượt qua hai con phà và một cây cầu, non trăm cây số về quê đưa mẹ ít tiền và bảo: “Con biếu mẹ ăn quà. Bao giờ có nhà cửa, con sẽ đón mẹ lên thành phố ở!”. Năm sau nó có nhà thật nhưng là nhà ở thuê. Tuy chật hẹp cũng còn hơn phải ở ba bốn người trong một căn phòng chục mét vuông trong nhà máy. Năm năm sau, nó dẫn về thăm mẹ một cô gái xinh xắn, hiền hậu nom thật dễ thương và giới thiệu: “Con dâu tương lai của mẹ đây. Em cũng là cô giáo như mẹ, dạy ở một trường cấp hai ven thành phố”. Bà nghe mà mát ruột. Phải chăng âm đức dầy dặn của gia đình đã đem đến cho bà một cô con dâu hiền thục, cũng theo cái nghề cao quý như bà. Hai năm sau chúng làm một đám cưới rất giản dị nhưng nồng hậu tình cảm của những người thân. Khi chúng cho bà được làm bà nội thì cũng là lúc bà được nghỉ hưu. Bà thanh thản gửi lại nhà cửa ở quê lên thành phố chăm ẵm cháu. Căn nhà ở thuê càng thêm chật hẹp nhưng luôn đầy ắp tiếng cười vui vẻ. Đến tuổi cháu đi Mẫu giáo, bà về lại quê, tiếng là khỏi để vườn hoang nhà lạnh nhưng chính là để đỡ tốn kém cho con cháu.
 
Nào hay ở quê mới được một lứa rau đã có tin chẳng lành: Nhà máy con trai bà bị giải thể. Nó thất nghiệp. Lương cô giáo cấp hai của vợ nó làm sao gánh nổi một gia đình. Con nó phải thôi học Mẫu giáo. Thương cháu, bà lên định đem nó về quê nuôi dạy. Nhưng bố nó bảo: “Thế thì chúng con nhìn nhau buồn đến chết!”. Nói vậy thì bà đành chịu. Thôi thì lại về quê bòn mót mảnh vườn, chắt chiu đồng lương hưu ít ỏi khi nào thành món lên chơi với con cháu, bù trì cho chúng đỡ phần khốn khó.
 
Mỗi lần gặp cháu, thằng bé như dây quấn lấy chân bà. Những khi chỉ có hai bà cháu, nó thủ thỉ những lời con trẻ nghe mà yêu mà xót:
 
- Bà ơi! Cháu được bố mẹ khen ngoan vì ở nhà một mình không khóc để mẹ đi dạy học và bố đi công chuyện. Cháu chỉ sợ mấy  con thạch sùng trên trần nhà chắt chắt lưỡi kêu tắc tắc thôi bà ạ!- Đó là những ngày đầu bố nó đi tìm việc!
 
- Bà ơi! Mẹ không làm cô giáo nữa rồi, mẹ đi làm nhân viên văn phòng cơ! Mẹ bảo công ty mẹ to lắm. Sáng nào mẹ cũng trang điểm đẹp, mặc bộ đồ công sở mới mua, thơm cháu hai bên má rồi mới đi làm. Bố ở nhà nhưng chẳng chịu chơi với cháu. Mặt bố ủ ê, mở hết sách này đến sách khác, đọc tí tẹo rồi thôi! – Thế là cô con dâu của bà đã đổi cái nghề cao quý nhất lấy một việc bình thường để có thu nhập cao hơn nhiều phần. Con trai bà, không biết những ngày thất nghiệp kéo dài lê thê đến bao giờ?
 
- Bà ơi! Dạo này mẹ ít ăn cơm tối ở nhà. Mẹ bảo bận tiếp khách hàng của công ty. Nhiều hôm mẹ về khuya, cháu ngửi trong hơi thở của mẹ có mùi nồng nồng mùi bia rượu, giống như mùi bác hàng xóm phả ra mỗi lần đi nhậu về qua cửa. Bố cũng làm sao ấy, bỗng nhiên hay hút thuốc lá. Mấy hôm nay lại không ngủ chung giường với hai mẹ con nữa. Bố bảo ngủ riêng cho thoáng và ngủ trên chiếc chiếu đồ chơi của cháu! – Trời ơi, gió bão đã đến căn nhà này rồi. Linh cảm của người mẹ khiến bà bồn chồn tìm cách chuyện trò riêng với con trai, khuyên nó đừng đánh mất niềm tin ở chính mình và với vợ.  Mất niềm tin sẽ chỉ còn lại những bi kịch. Nó chỉ một mực lắc đầu: “Không có gì đâu, mẹ ạ!”
 
Nhưng bà về quê chưa đầy một tuần thì thấy nó dắt con nó về theo. Nó nói riêng với bà: “Vợ chồng con đã thỏa thuận sống ly thân, mẹ ạ!” Bà nghe mà rụng rời chân tay. Tình yêu của chúng đẹp thế mà sao rạn nứt nhanh đến thế? Con trai bà nói tiếp: “Tất cả lỗi tại con! Con bất tài không kiếm nổi việc làm. Con làm như thế để cho cô ấy rộng đường đi tìm hạnh phúc, Tay giám đốc công ty tỏ ra săn đón cô ấy lắm. Phần con, con sẽ vào Nam tìm việc. Mẹ nuôi cháu cho con, nhưng con xin mẹ đừng bao giờ cho nó biết về mẹ nó. Hãy để nó tin, mẹ nó đi công tác xa lâu ngày nữa mới về!”
 
Thằng bé bỗng cựa mình gọi “Bố! Bố!” rồi nó lại ngủ ngay. Chắc nó vừa thấy bố trong một giấc mơ đẹp? Không ngờ hình ảnh bố nó bà dựng lên trong khói lá vườn lại ăn sâu vào tâm hồn nó đến thế. Phải rồi, bà sẽ nuôi dưỡng tuổi ấu thơ của nó bằng những hình ảnh đẹp về bố nó. Bố nó với những con tàu mà cả đời bà chưa bao giờ thấy nhưng bà sẽ gọi ra từ trí tưởng tượng của mình. Đôi môi héo đã lâu của bà vừa nở cười trong đêm tối thì một làn gió vô hình của nỗi sợ hãi nấp kín trong lòng từ bao giờ bỗng nổi lên dập nát tan ngay. Còn mẹ nó! Là đứa trẻ nó sẽ khao khát tình mẹ, khao khát được mẹ yêu thương ôm ấp. Nó sẽ nhớ mẹ, nhớ ánh mắt nụ cười, bàn tay nâng niu của mẹ. Nó sẽ hỏi về mẹ nó, bấy giờ biết nói sao?...
 
Đêm ấy bà ôm cháu ngủ như ôm một thiên thần nhỏ trong lòng mà không sao chợp mắt được.
 
&
 
Lại đến chiều phải đốt lá vườn.
Khi que diêm xòe lửa, thằng bé ngả đầu vào vai bà nũng nịu: - Bà ơi! Tối nào cháu cũng thấy trong giấc ngủ nhưng không thấy mẹ bao giờ. Lát nữa khói lên, bà nhìn xem có mẹ không, bà nhé!
Cả cõi lòng buốt như bị kim châm, nhưng bà vẫn âu yếm gật đầu với chau. Rồi làn khói đầu tiên mỏng như sương bạc và ngan ngát thơm cất lên. Bà đưa mắt nhìn theo và không để cháu hỏi, bà cất giọng ấm áp:
- Bà nhìn thấy mẹ cháu đây này!
 
Thằng bé bật đầu lên khỏi vai bà, rối rít hỏi:
- Mẹ cháu như thế nào?
- Mẹ cháu vẫn khỏe mạnh và xinh đẹp như hồi ở nhà
- Mẹ cháu đang làm gì?
- Mẹ cháu đang ngồi một mình xem ảnh cháu trong cuốn sổ tay.
- Đúng rồi! Cháu đã được mẹ cho xem cuốn sổ ấy nhiều lần. Mẹ dán ảnh cháu ở trang đầu, bảo khi rỗi việc thì mở ra xem cho đỡ nhớ cháu. Chắc lúc này mẹ đang nhớ cháu lắm bà nhỉ?
 
Bỗng có tiếng òa khóc ở cửa vườn. Rồi bóng một người con gái ào tới chỗ hai bà cháu, giang đôi tay bế thốc thằng bé lên, diết nó vào ngực mình và lướt vành môi lên khắp khuôn mặt nó, giọng run rẩy:
- Con ơi! Mẹ về với con đây!
 
Nhờ ánh lửa lá khô đang cháy, thằng bé nhận ra ngay ra mẹ. Nó quăng hai tay lên quấn lấy cổ mẹ và thở hổn hển:
- Mẹ! Me! Sao mẹ về nhanh thế?
- Mẹ về nhanh vì mẹ rất nhớ con.
 
Người con gái giàn giụa nước mắt vộ gỡ tay con, đặt nó xuống đất rồi quay sang quỳ xụp dưới chân bà, nức nở:
- Mẹ! Con là đứa có tội! Con đứng ngoài vườn đã lâu nhưng không dám vào vì sợ mẹ sẽ nguyền rủa và đuổi con đi. Nhưng nghe những lời mẹ nói với cháu, con hiểu lòng mẹ rất bao dung và cao thượng, con không kìm nổi đôi chân được nữa. Xin mẹ tha tội cho con!
 
Bà cúi xuống cầm tay nàng dâu nâng dậy, nghẹn ngào:
- Cả một đời dạy học, mẹ hằng tin vào tính thiện của con người. Với con cũng thế!
 
Cô con dâu vân vê hai bàn tay bà, nước mắt vẫn lăn trên má:
- Con vì nông nổi nên đã sa lòng trước ánh phù hoa mà quên giữ gìn nâng niu những tình yêu thiêng liêng của mình, thiếu chút nữa để vuột mất những người thân yêu mình nhất. Mấy ngày qua, những lúc thương chồng, nhớ con, con lại nghĩ về mẹ. Mẹ một đời âm thầm đốt cháy cô đơn cay cực của riêng mình thành ánh sáng cho gia đình và cuộc sống. Chính cái ánh sáng ấy đã chiếu rọi vào khoảng tăm tối trong tâm hồn con, giúp con bừng tỉnh, biết lỗi quay về. Con nghĩ kỹ rồi mẹ ạ! Con sẽ vào Nam tìm chồng rồi xin trở lại nghề dạy học.
 
Thằng bé không hiểu hết những lời bà và mẹ nói. Nó ngợp trong vui sướng thấy mẹ từ trong làn khói bước ra diệu kỳ như cô Tấm bước ra từ quả thị. Nó giang tay ôm chặt hai chân mẹ, chỉ sợ mẹ biến mất. Mẹ nó lại ẵm bổng nó lên. Một trận mưa của những cái hôn từ đôi môi mẹ lại rơi trên khuôn mặt nó. Môi mẹ ấm và thơm nhưng sao ướt quá! Chắc mẹ vẫn còn khóc?
Mẹ kỳ thật, vui thế mà lại khóc!   
 
NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: 61B, ngõ 311, đường Đằng Hải,
quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Email: bnguyen37@gmail.com

READ MORE - KHÓI LÁ VƯỜN - Truyện ngắn Nguyễn Bàng

LẠC NHẠN CHIÊU QUÂN - Thơ Chu Vương Miện


 


LẠC NHẠN CHIÊU QUÂN
 
Nước yếu quân thua phải cống Hồ
đời phiền hơn những miếng cau khô
mấy mái lầu cong thềm cung lạnh
tàn đời theo hạ nắng thu mưa
 
ai biết hồng nhan thường bạc mệnh
giai nhân đỏng đảnh kiếp tài nhân
lãnh cung vĩnh viễn thua láng hết
oan nghiệt đeo theo đũng hồng quần
 
một gái ra đi ngút bãi xa
gò hoang nắm đất mấy sơn hà
nửa trước đóng xong vai tù tội
nửa sau dạt cánh nhạn sang Hồ
 
cố quận mẹ cha tóc trắng mây
phận con viễn xứ nửa vàng phai
lá phong đỏ xẩm chiều biên tái
phiên bang nghe toát lạnh hơi người
 
tảng đá chập chùng cao vời vợi
Hắc thủy một dòng đứng ngó ngây
thênh thang lạc giữa bờ biên giới
nuốt hận vơi đầy theo gió bay
 
Chu Vương Miện
 
READ MORE - LẠC NHẠN CHIÊU QUÂN - Thơ Chu Vương Miện

Monday, June 20, 2022

VỀ LẠI CÁNH ĐỒNG, DƯỚI CỘI BỒ ĐỀ - Thơ Tịnh Bình


 
               Nhà thơ Tịnh Bình


VỀ LẠI CÁNH ĐỒNG
 
Về lại cánh đồng chân trời lụn nắng
Cọng khói lãng đãng bay vờn
Con bù nhìn dang tay ôm gió
Xước hoàng hôn đôi giọt mưa chiều
 
Giọt giọt mồ hôi khảm xanh mùa vụ
Đắng đót mùa khoai sắn
Nứt nẻ chân cha tất tả ngày giáp hạt
Áo tơi ngửa mặt nhìn trời
 
Những hoàng hôn tiếp nối hoàng hôn
Đường chân trời vời vợi
Mải miết bầy thiên di vẽ đường bay trong tâm tưởng
Biết đâu là nguồn cội
Mẹ ngồi khâu áo cha trên bậu cửa đầy nắng
Chiếc áo thâm kim vá chằng vá đụp
Nồng giọt nắng mưa
 
Về lại cánh đồng ngày lúa trĩu bông
Quyện bàn chân hương mùa vấn vít
Ùa vào tôi ban mai rạo rực
Nụ cười quê hương tỏa nắng ngọt lành...
 
 
DƯỚI CỘI BỒ ĐỀ
 
Gió mãi chơi rồi...
Dưới cội bồ đề sân si mọc
Hạt bụi bay đánh rơi lời chuông thiêng
Giấc thiền đôi mắt thức
Bản thể còn mãi đi hoang
 
Mệt quá những bước chân
Người ngồi xuống lắng nghe nỗi niềm của cỏ
Đàn chim ngơ ngác bay lên từ chiếc lồng chật chội
Giữa ồn ào huyên náo
Có lẽ chúng không biết mình vừa được ai đó phóng sinh
 
Mệt quá những vô vàn vọng tưởng
Người ngồi xuống và nghe gió hát
Dưới tán lá bồ đề mặc niệm
Người ngàn năm trước
Người ngàn năm sau
Mưa nắng này đâu khác
 
Rũ bụi trần gian lại trở về làm hạt bụi
Bản thể điềm nhiên đôi mắt khép
Dưới cội bồ đề người lặng yên tĩnh tọa
Ôm vào lòng trùng trùng niệm khởi
Mưa rụng giọt vô ngôn
Dịu dàng chuyển hóa...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - VỀ LẠI CÁNH ĐỒNG, DƯỚI CỘI BỒ ĐỀ - Thơ Tịnh Bình

KHÔNG THỂ LÀ PHÁN QUYẾT – Thơ Khaly Chàm

 

 

không thể là phán quyết
 
chẳng dám khoe, cỏ luôn hồn nhiên trần trụi
tự uốn thân bám vào nhau xoắn xuýt tuyệt vời
cùng thinh lặng ngắm mặt trời nhú lên từ đất
với nắng mưa hè độ lượng sóng âm rơi
 
giấc mộng an lành thì thầm trong giọng nói người ơi
đặc tính luôn tỏa hương thơm mùi diệp lục
dìu dắt mẹ ta đi khập khiễng qua truông lầy ký ức
phù sa đen mù mắt khóc đất nhiễm mặn thật rồi!
 
những linh hồn rung chuông chờ thánh lễ lên ngôi
vị ngữ sáo mòn trong lời kinh cầu siêu độ…
này em, ta nhấm nháp những con tò he từng ngày khát đói
ám tượng cứ vây quanh ảo giác bóng vô thường
 
đời ta mãi nhảy múa trên vòng mắc xích tai ương
chuyện ái tình bùng nhùng có phải là chướng nghiệp
thơ của ta những con chữ khùng điên lộn kiếp
thương lũ chim thiên di nhặt nhạnh tạm no lòng
 
thôi thì hãy rợn xanh theo mùa như cỏ
lay lắt khiêm nhường nào nghĩ chuyện phục sinh
sao không thể hôn nhau rồi thổn thức lời tình
dù mềm nhũn héo khô cũng chỉ là hư ảnh
 
khaly chàm
ttcuchi 6/2022
 
READ MORE - KHÔNG THỂ LÀ PHÁN QUYẾT – Thơ Khaly Chàm

VIẾT HOA VIẾT THƯỜNG CÁC DẤU TRONG CÂU - Nguyên Lạc

 
Tác giả bài viết Nguyên Lạc
 

VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG?
 
Viết hoa (upper case), viết thường (lower case) là một vấn đề tế nhị, cần bàn thảo kỹ lưỡng. Thấy một số bạn, nhất là các bạn trẻ ở VN viết hoa các chữ/từ một cách tùy tiện, tôi xin ghi ra đây vài ý riêng chủ quan mời các bạn cùng thảo luận.
 
1.
Hãy xét bài ca dao:

"Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"
                  (Công Cha Nghĩa Mẹ)
 
Theo tôi, hai chữ “thái sơn” trong bài ca dao trên nên viết thường (lower case), Thái Sơn viết hoa (upper case) không chính xác.
Chắc các bạn sẽ hỏi tại sao?
 
Giải thích:
Vì nếu hai chữ thái sơn viết hoa, chúng ta sẽ đem hữu hạn thế cho vô hạn:
– “thái sơn” (viết thường, danh từ chung) là núi rất lớn, vô hạn (thái= rất bự, rất lớn; sơn= núi). Còn “THÁI SƠN” (viết hoa, danh từ riêng) là một ngọn núi bên Tàu, chỉ cao khoảng 1450m (đo được, hữu hạn). Vậy nếu viết hoa: THÁI SƠN thì không phải là hữu hạn thay cho vô hạn sao?
– Nghĩa mẹ= “nguồn nước chảy ra vô tận, không dứt”, đối với “THÁI SƠN” (viết hoa: danh từ riêng) đo được chỉ khoảng ngàn mét. So sánh ra thì công cha như số không. Sao bội bạc với cha quá thế?
– Còn nếu viết “thái sơn (viết thường: danh từ chung) = lớn, bự vô hạn”, công cha sẽ gần như bằng công mẹ.
Do điều này, ta phải dùng thái sơn danh từ chung (viết thường). Hai câu đó tôi nghĩ nên viết như vầy:
Công cha như núi... thái sơn (to vô cùng)
Nghĩa mẹ như nước… trong nguồn chảy ra (luôn không dừng).
– Xin nói thêm: Thái sơn, sơn hà (viết thường, danh từ chung) tượng trưng đất nước, tổ quốc; nếu chúng viết hoa (trở thành danh từ riêng) thì sẽ không còn nghĩa này nữa, mà thành tên ngọn núi Tàu, tên riêng vùng nào đó…
 
2.
Thử áp dụng những điều bàn trên vào các câu thơ sau đây của nhà thơ Nguyên X. xem sao?
Câu thơ Nguyên X (tên hư cấu) viết như vầy:
 
"Trưa chín HÈ, PHƯỢNG đỏ thật thương
Tiếng ve nấc nỗi niềm vương rất lạ"
                                    (Thí dụ minh họa)
 
Nhà thơ Nguyên X cố tình viết chữ HÈ và PHƯỢNG hoa, chắc tác giả cho là nó “ấn tượng” hơn!
Theo tôi, chữ “phượng”, "hè" viết thường hay hơn và nhiều nghĩa hơn.

Giải thích:
 
-- PHƯỢNG viết hoa là danh từ riêng chỉ chính xác một nghĩa: người con gái, tên người con gái. Viết hoa chữ PHƯỢNG có thể làm hỏng ý bài thơ: Rõ ràng là bài thơ nói về mùa hè buồn, hoa phượng nở đỏ: nếu viết hoa chữ PHƯỢNG, thành ra cô gái PHƯỢNG “đỏ mặt”- hoa phượng mất dấu ở đây- thì còn gì mà liên hệ đến ve sầu câu dưới? Chữ phượng viết thường- danh từ chung - bao gồm cả hoa phượng, mùa phượng, mùa bãi trường và người con gái…
-- Tương tợ như vậy về chữ HÈ- viết hoa- cũng khiến người ta nghĩ đến một anh chàng tên HÈ nào đó.
Mong các nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ chú ý đến điều này. Hãy mở lòng lắng nghe tha nhân góp ý, ai tự thỏa mãn sẽ bị dừng lại, hay đúng ra sẽ bị lùi lại so với sự tiến bộ của người khác.
 
3.
Thử bàn về chữ "Đoài" trong câu thơ sau đây (Tôi tự chế, có thể giống thơ tiền nhân) để minh hoạ thêm:
 
"Tôi nhớ xứ Đoài thăm thẳm lắm"
 
-- Về chữ “Đoài”
Trong “Hậu thiên bát quái” của Kinh Dịch, quẻ Đoài nằm vị trí hướng tây (Chấn hướng đông), nên trong văn chương, nhắc tới "đoài" là người ta muốn nói tới hướng tây. Hướng tây cũng là hương mặt trời lặn, tượng trưng cho buồn bã, thương nhớ, nhớ về và "chiều đời"…
Đoài có nhiều nghĩa nói trên nếu nó được viết thường - danh từ chung.
-- Trong câu thơ để minh họa trên, chữ "Đoài viết hoa- danh từ riêng- là tên của xứ tác giả nhớ đến, nhớ về. Chỉ là tên xứ mà thôi, không gì khác.
So sánh ta thấy "Đoài" (viết hoa) không nhiều nghĩa như chữ "đoài" (viết thường).
Qua những nhận xét trên, chúng ta nên chú ý cẩn thận khi viết hoa hay viết thường.
 
4.
Vài điểm cần để ý về viết hoa (upper case):
- Viết hoa mẫu tự đầu sau dấu chấm, đứng đầu câu.
- Viết hoa danh từ riêng, tựa bài viết, tên sách, tên vở kịch v.v...
- Những trường hợp này, ta vẫn giữ lối viết hoa. Thí dụ ta viết: “nét gian hùng Tào Tháo”, "mưu lược Khổng Minh", “nụ cười Bao Tự”... ; thay vì “nét gian hùng tào tháo”, "mưu lược khổng minh", “nụ cười bao tự”...
- Cách viết hoa hay viết thường (upper case or lower case) một chữ cũng thay đổi theo thời gian, và có lẽ cũng dần dần hòa theo trào lưu thế giới. Thí dụ trong văn chương, nhất là báo chí Anh Mỹ ngày nay, chữ viết hoa ngoài việc dùng cho danh từ riêng, còn được dùng để nhấn mạnh ý. Những chữ cần chú ý hay nhấn mạnh họ viết hoa: Thí dụ như viết là “Monroe Doctrine” thay vì “Monroe doctrine”. Do đó nhiều người Việt, trong đó có tôi, viết là “Chủ Thuyết Monroe” thay vì “chủ thuyết Monroe”, với suy nghĩ là muốn nhấn mạnh ý.
 
CÁC DẤU TRONG CÂU
 
- Thường dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu chấm than, dấu chấm hỏi, dấu ba chấm... nên đặt ngay sau mẫu tự cuối của chữ phía trước và cách mẫu tự chữ sau một khoảng hẹp (một mẫu tự).
- Dấu chấm phết [;] (point virgule) là dấu trung hòa giữa dấu chấm và dấu phết, nằm ở giữa câu dài, lấy mệnh đề sau bổ sung cho mệnh đề trước (khi chưa nên dùng dấu chấm, dứt câu). Sau dấu chấm phết không viết hoa.
- Dấu 2 chấm [:] (deux points) đặt trên cùng hàng được dùng đề kể ra những sự vật do mệnh đề đi trước đặt ra:
. Nếu nhiều sự vật được kể ra sau dấu 2 chấm, thường câu chữ được đề nghị xuống hàng và viết hoa mẩu tự đầu.
. Nếu chỉ kể một vài sự vật nhỏ sau dấu 2 chấm thì không cần xuống hàng và cũng không cần viết hoa mẩu tự đầu. 
- Về ba chấm (...): Chỉ 3 chấm thôi, không 2 hoặc 4, 5, 6, 7... nếu ý rằng còn nhiều điều nữa. Giống như trên FB có ghi (... : nhiều options). Nếu ghi 2, 4, 5, 6... là chuyện khác. Thường ghi 4, 5, 6... dấu chấm rồi xuống dòng có nghĩa tác giả muốn ghi chú điều gì đó.
-Ngoặc đơn (parenthèse), ngoặc kép (double parenthèse) phải bao sát chữ hoặc nhóm chữ trong ngoặc nhưng phải để trống một khoảng cách (space) với mẫu tự cuối của chữ phía trước và mẫu tự đầu của chữ phía sau. Thí dụ: Khoảng cách (space) với mẫu tự cuối. Con đó “mồm loa mép giải” lắm.
- Về dấu chấm than, còn gọi văn hoa là dấu cảm thán (point d’exclamation) hay dấu chấm hỏi (point d’interrogation): Theo tôi, tối đa 3 dấu là đủ, viết thêm thừa. Thí dụ !!!, ???
Giải thích:  ! buồn, !! buồn nhiều, !!! rất buồn. Viết thêm không cần thiết, dư.
Tương tợ: ? thắc mắc, ?? thắc mắc nhiều, ??? rất thắc mắc.
 
Vài thí dụ minh họa về các điều nói trên:
 
Em đẹp như hoa. Anh thích lắm!
Ổi, xoài, sầu riêng tôi đều thích.
Có phải không? Em đã yêu anh!
 
Ông Nguyên (tác giả bài văn) đã nói với tôi như thế.
 
Rất mong quý độc giả góp ý thêm cho hoàn chỉnh.
Chuyện phiếm về dấu chấm câu và ngắt câu:
 
Nước VN Xã hội chủ nghĩa có chủ trương “Cai đẻ” bằng khẩu hiệu: "Gia đình có hai con, vợ chồng hạnh phúc". Tại một phường nọ, dân chúng đọc được trên biểu ngữ 2 hàng chữ to tướng viết:
Gia đình có hai con vợ
Chồng hạnh phúc.
 
Nguyễn Trùng Dương là lực sĩ đô vật ở tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc VN. Anh được truyền tụng trong câu ca dao được viết xuống hàng, đúng với thể lục bát như sau:
 
Bắc Ninh có cậu Nguyễn Trùng
Dương vật rất khỏe cả vùng thất kinh.
 
Bộ môn thê thao Badminton, thời VNCH gọi là Vũ cầu - vì trái cầu phần trên kết băng lông vũ của gà hay chim cho dễ bay. Miền Bắc gọi là Cầu lông. Chữ “Cầu lông” là danh từ kép đã bị tách rời ra trong 2 câu lục bát Bút Tre:
 
Chị em mặc váy đánh cầu
lông bay phấp phới qua đầu các anh.
 
Dấu chấm câu khi dùng với ngoặc đơn và ngoặc kép:
- Trong tiếng Anh, dấu chấm câu đặt trong ngoặc kép, thí dụ: "I am happy." she said.
- Đối với ngoặc đơn thì khi đặt bên trong, khi bên ngoài: (Nếu nguyên câu nằm trong ngoặc đơn thì dấu chấm nằm bên trong, như thế này.) Còn nếu chỉ có một phần của câu đặt trong ngoặc đơn thì dấu chấm nằm ở ngoài (như thế này).
 
LỜI KẾT
 
Chữ Việt chúng ta tuyệt vời lắm, đừng “ngộ nhận” nó kém so với chữ nước ngoài. Hãy cùng nhau làm chữ Việt tuyệt vời thêm.
Trong các “nghề chơi”, chơi văn chương chữ nghĩa là cao sang nhất; nhờ nó ta mới phân biệt được người thấp người cao, ai sang ai hèn, chứ không phải ở giàu nghèo.
 
"Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay"
(Cầm Kỳ Thi Tửu– Nguyễn Công Trứ)
 
Ở đời, ai cũng thích đưa ra cái mới, cái lạ; nhưng nên nhớ, cái mới, cái lạ và cái ngược đời, vô lý chỉ cách nhau sợi tóc: Độc giả và thời gian sẽ phán xét.
                                                                                      
Nguyên Lạc

READ MORE - VIẾT HOA VIẾT THƯỜNG CÁC DẤU TRONG CÂU - Nguyên Lạc

Saturday, June 18, 2022

CUNG TIẾN, ĐỜI LẬP TỪ NHỮNG ĐÊM HOANG SƠ - Nguyễn Đức Tùng



Chị em của thơ thì có nhiều: tùy bút, truyện ngắn, tiểu thuyết, báo chí, phim ảnh, kịch nghệ, nhưng đối với tôi, người thân nhất, người chị em ruột của thơ, chính là ca khúc.
 
Cung Tiến là một sự kết hợp như vậy: giữa ca từ và âm nhạc, giữa thơ và ca khúc. Thơ ca. Sự liên kết giữa thơ và ca đã có từ lâu đời, ngày một chia xa trong thế giới hiện nay. Thơ ngày một xa rời ca khúc, ngày một gần với văn xuôi, rời bỏ tính âm nhạc của ngôn ngữ. Các nhà thơ hiện nay gần như không làm thơ dưới tác động trực tiếp của âm điệu. Họ viết để truyền tải các ý tưởng nhiều hơn. Khi chúng ta nghe một bài hát, những chữ trong bài hát ấy vang lên không còn là những chữ chúng ta đọc trên giấy nữa, chúng biến đổi trở thành chữ khác, một sự lai ghép giữa âm nhạc và ngôn ngữ. Khi đọc lời:
 
Chờ nhau hoài cố nhân ơi
Sương buồn che kín nguồn đời
 
Tôi vừa nhìn thấy màn sương buông xuống, vừa nghĩ đến bóng người đi trong ấy, càng lúc càng xa. Điều ấy cũng xảy ra khi tôi đọc chúng như câu thơ. Nhưng người nào từng nghe Cung Tiến qua Duy Trác hay Thái Thanh, Lệ Thu hay Anh Ngọc, sẽ không thể đọc thế nữa, như câu thơ thông thường, người ấy phải đọc khác đi. Phải đọc như đang hát. Và khi hát như thế, dù chỉ hát thầm, hai chữ cố nhân ấy sẽ khác đi, hình ảnh người đi trong sương cũng khác. Cũng vậy, bốn chữ “che kín nguồn đời” khi được ngân lên như một ca từ, hình ảnh cũng biến đổi, sâu hơn, dào dạt hơn.
 
Cái chết làm nên đời sống của chúng ta. Cũng như mất mát làm nên âm nhạc. Cái chết của một người, một nghệ sĩ, một quê hương.
 
Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
 
Nghe nhạc Cung Tiến, các bài hát, tôi chú ý lắng nghe những chữ của ông.
 
Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?
Tình có ghi lên đôi môi
Sầu có phai nhòa cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui
 
Lời tự nhiên, chân thành, sang cả. Đó là tâm sự của một chàng trai mới lớn, bắt đầu biết yêu, mơ mộng. Hơn thế, đó là thẩm mỹ của một người trẻ tuổi được giáo dục tử tế, chịu ảnh hưởng của văn học tiền chiến và thơ mới. Hoài cảm là lòng hoài niệm về một thế giới tốt đẹp, tình yêu đã mất, thiên đường tan vỡ.
 
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa
 
Ca từ của Cung Tiến diễm lệ. Về một mặt nào đó, là sự kế thừa các nhạc sĩ đi trước như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, và các nhà thơ như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử. Nghe ông, tôi thường nghĩ đến Đoàn Chuẩn:
 
Giòng đời trôi đã về chiều
Mà lòng mến còn nhiều
Đập gương xưa tìm bóng
 
Đặc điểm của ca từ Cung Tiến là việc dùng chữ hoặc đặt câu rất mới:
 
lòng cuồng điên vì nhớ
còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao
buồn sớm đưa chân cuộc đời
 
Vàng bướm khác với bướm vàng, đó không phải chỉ là sự đảo chữ, còn hơn thế nữa, chữ vàng đi trước làm ra cả một không gian màu sắc được vẽ lên bởi cánh bướm. Nó làm chúng ta nhớ lại cách nói của người nước ngoài, ví dụ trong thơ Đường, Thôi Hiệu:
 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
 
Trong khi Ngô Tất Tố dịch:
 
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay
 
Thì Vũ Hoàng Chương dịch là:
 
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời
 
Màu trắng, màu vàng át cả không gian, trắng đi trước mây, vàng đi trước hạc. Những câu được Cung Tiến viết cách đây hàng nửa thế kỷ, bây giờ vẫn mới. Trong khi còn là một nhà văn, một dịch giả, có cơ hội tiếp cận với văn học nghệ thuật và âm nhạc phương Tây, ông vẫn giữ một tâm hồn Đông phương thơ mộng lạ thường. Cung Tiến là sự kết hợp giữa truyền thống Đông phương và âm nhạc hiện đại phương Tây, giữa một ngôn ngữ quý phái và tâm hồn chất phác, ngây thơ. Những kết hợp ấy thật quý báu, ngày càng hiếm. Đó là kết quả của một nền giáo dục vào thời ấy, ở Hà Nội, ở miền Nam, thiếp lập bởi những giá trị tự do mà nhạc sĩ thường xuyên theo đuổi, lặng lẽ nhưng cương quyết. Tôi nghe bài hát của ông từ năm mười bốn tuổi, lúc ấy tôi chưa hề biết yêu là gì, vậy mà vẫn say đắm chất ngất với dòng nhạc mượt mà:
 
Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa
 
Vào tuổi ấy tôi chỉ mới đọc vài bài Đường thi, chưa biết buồn là gì, nhưng sao tôi vẫn cảm thông với tác giả khi ông mơ hoài một kiếp xa xôi? Hay phải chăng trong mỗi con người chúng ta đều có một kiếp trước truyền lại, một tình yêu bất thành được ký gởi, một quê hương tan vỡ được báo trước?
 
Các nhà thơ và nhạc sĩ Việt Nam thời trước nói nhiều về hoài niệm. Hoài niệm của Cung Tiến cũng không khác, chỉ là ông đã đẩy nó đến tận cùng, làm cho nó trở thành nguồn hứng khởi lớn, của tình yêu tha thiết đối với quê hương, hoài bão không cùng của sự trở về, lòng thương tiếc khôn nguôi về một thiên đường đã mất. Các nhạc sĩ khi viết ca khúc được một quyền ưu tiên mà các nhà thơ không có: được phép lặp lại nhiều lần một số chữ, được phép cắt bỏ hoặc nối dài nhiều câu. Nhiều nhạc sĩ Việt nam phổ nhạc cho các bài thơ, nhưng thường là thơ có vần, như Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên. Cung Tiến đã sớm phổ thơ tự do, như của Thanh Tâm Tuyền, một điều khá hiếm như Du Tử Lê từng chỉ ra. Đó là nói về âm nhạc Việt Nam, nhưng trên thế giới, thơ tự do lại là phổ biến trong các ca khúc chịu ảnh hưởng của nhạc rock, opera, jazz. Người ta nói nhiều đến việc thơ được phổ nhạc bởi các nhạc sĩ, ít người để ý rằng ca từ trong các bài hát cũng ảnh hưởng ngược lại đến thơ hôm nay.
 
Mối quan hệ giữa thơ và ca từ rất phức tạp. Thực ra không nên tìm ở trong lời của các bài hát những phát hiện cao siêu, các triết lý, các ý tưởng lớn. Điều đó đã có tiểu thuyết, thơ, trường ca, kịch. Công việc của một nhạc sĩ khác hẳn, người ấy cần một ngôn ngữ sáng sủa, sự kết hợp đẹp giữa thơ và nhạc, đơn giản hóa các sự vật; cất lên tiếng nói bằng một ngôn ngữ đã thay đổi. Một chữ thông thường trong lời nói khi được gieo vào ca khúc, được hát lên, ngân nga với độ dài ngắn khác nhau, cao thấp khác nhau, giữa âm thanh của các khí cụ khác nhau, tự chúng đã tạo ra những chất liệu, những ý nghĩa mới. Thế mà, ở những nhạc sĩ tài năng, như Cung Tiến, Ngô Thụy Miên, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, lời do chính họ viết, hoặc những bài thơ được họ phổ nhạc và làm biến đổi đi dưới áp lực của âm nhạc, còn mang lại cho người nghe những điều khác hơn thế nữa, những ý tưởng.
 
Đời lập từ những đêm hoang sơ
Thanh bình như bóng trưa đơn sơ
Nay đời tan biến trong hư vô
Chết đầy từng mồ oán thù
Máu sương tơi bời nhiều mùa thu
 
Không những chỉ là những ca từ đẹp mà còn là cách nói mới, không những chỉ là cách nói mới mà còn là dòng suối của tình yêu, của tư tưởng, chảy từ nguồn dân tộc, mà lúc nào cũng mới, thương xót, vỗ về.
                                                                            
Nguyễn Đức Tùng

READ MORE - CUNG TIẾN, ĐỜI LẬP TỪ NHỮNG ĐÊM HOANG SƠ - Nguyễn Đức Tùng

Wednesday, June 15, 2022

HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

 








READ MORE - HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện