Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 27, 2018

Ý NIỆM VỀ MÙA XUÂN DI LẶC - Mặc Phương Tử


Ý NIỆM VỀ MÙA XUÂN DI LẶC


Xuân Di Lặc,

Cụm từ trên không biết có tự bao giờ…? Thế nhưng từ lâu cho đến tận ngày hôm nay, thật sự đã đi sâu thẳm vào dòng tâm tưởng của tuyệt đại đa số những người đệ tử Phật, và cả những con người trong nhân gian một khi mưu cầu hạnh phúc, sự bình yên an lành trong cuộc sống giữa đời thường nầy.

Điều mà mọi người chúng ta có thể cảm nhận được rằng : mỗi lúc, mỗi nơi khắp cả hành tinh địa cầu mà chúng ta đang có mặt, càng chuyên chở nhiều hơn, càng nặng nề hơn, phức tạp hơn… từ số lượng dâng cao của con người, thì mọi nhu cầu cung ứng cho sự sống cũng phải được lo toan dàn trải về mọi việc, mọi phía để nhằm phục vụ cho sự phát triển mật độ ấy.

Thế nhưng, phải đâu chỉ chừng bấy nhiêu chuyện, qua đó nó còn phát sinh không ít những nỗi bất an khác, mà đầu nguồn do từ lòng gian tham, ích kỷ “ta và của ta” để rồi được thua, còn mất, rồi bất mãn, ý tưởng đồng dị, rồi sân giận, phiền muộn, rồi cạnh tranh đưa đến đấu tranh tàn hại khốc liệt… tạo nhiều nỗi quan tâm cho cả cộng đồng xã hội con người như ngày hôm nay, phải chăng đó là một diễn biến hiện tượng tất yếu đã hay sẽ phát sinh? Nhìn chung, mọi việc cũng không ngoài bao thủ đoạn thế lực, và quyền lợi chính trị, chủ nghĩa, ý thức hệ tư tưởng, kinh tế kể cả những manh nha khác biệt hình thức tôn giáo.v.v…

Trong thế giới bất an, con người bất an, muôn thú bất an, cây cỏ bất an.v.v…, chính những nỗi bất an ấy, đều được nói lên từ phía con người và do con người. Con người có khả năng làm nên sự bình yên, an hòa, thịnh vượng, nhưng cũng từ phía con người lại gây ra không biết bao đổ nát, thảm họa và khổ đau. Điều ấy đã cho chúng ta thấy, không phải ngay bây giờ mà cả tự ngàn xưa, rồi dẫn đến tận ngàn sau. Nếu như nguồn mạch đạo đức chơn thiện không được tuyên thuyết, giáo dục rộng rãi, tưới tẩm, thắp sáng vào tâm trí con người từ phía đại nguyện Bi-Trí đã thị hiện vào đời của những bậc Thánh Đức, những bậc đạo sư khả kính.

Do đó, Giáo lý hay Đạo lý của bậc Thánh luôn được hiện hữu, lại còn siêu vượt và bất tận đến với thời gian và không gian vô cùng. Từ ý nghĩa ấy, mà hình ảnh Đại bi Bồ tát Quán Thế Âm, Đại nguyện Bồ tát Địa Tạng Vương, hùng lực Bồ tát Đại Thế Chí hay Bồ tát A Dật Da Từ thị Di Lặc v.v…  vẫn hằng cao thượng, và giúp người hướng thượng, luôn được biểu thị sự hiện hóa đại hạnh nguyện vào mọi lúc, mọi nơi trong thế giới loài người.

Năm nào, lại không bắt đầu từ tháng 1, tháng nào lại không bắt đầu từ ngày mùng 1, và ngày nào lại không bắt đầu từ lúc sơ bình minh? Thế nên, sự giao tiếp giữa thời khắc, của tiết mùa, của sự chuyển mình trong đất trời muôn trùng, vẫn luôn ấn vào tâm lý con người một cảm nhận sâu sắc trước đây và bây giờ.

Như vậy, năm mới, tháng mới, ngày mới, giờ phút mới, mùa tiết mới, ước nguyện mới v.v… Sự đổi thay “cũ, mới” ấy, vẫn không ngừng luân chuyển, tuần tự tiếp nối liên tục của mọi sự vật hiện tượng trong không gian và thời gian. Phải chăng, đó là những khái niệm lâu nay của con người? Và cứ như thế, ý niệm ấy nó vẫn mãi mãi duy trì, truyền đi truyền lại từ thế hệ nầy đến thế hệ  khác, ngàn đời không thay đổi.

Thế nên, Thi sĩ Xuân Diệu lại một phen than thở :

“ Xuân đang đến, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà Xuân hết, thì đời tôi cũng hết”.

Nhưng rồi thi nhân cũng kịp thấy ra rằng :
“Xuân của đất trời nay mới đến,
Trong tôi xuân đến đã lâu rồi…”

Mùa xuân nào lại có ở trong tôi, sự vận hành lưu xuất của nó như thế nào, phải chăng đó là mùa xuân Di Lặc? mà lâu nay trong nhân gian đã được truyền tụng, đã được ca ngợi giữa cuộc tang điền thương hải nầy!

Trở lại vấn đề “Mùa Xuân Di Lặc”, một pháp ý được chuyển tải từ nguồn mạch đạo lý uyên áo thâm diệu tự ngàn xưa. Qua cụm từ “Từ Thị Di Lặc” nghĩa là : người mang chủng tánh Từ Bi, rộng đức bao dung, hòa ái, êm dịu, luôn đem lại sự an lành hạnh phúc cho mọi người và cho cả cuộc đời. Cùng khi ấy, mùa xuân là sự báo hiệu thanh khí của đất trời, với bao hình ảnh xinh đẹp, tươi mát, dâng đầy nhựa sống của muôn cây và hoa cỏ… Nếu như có sự kết hợp qua hai nội dung, tính chất ấy, thì mùa xuân đó mới thật đến trong tôi!

Với con người ấy, phải đâu chỉ ở một nơi, đến một chỗ hay một hình thức xơ cứng nào đó thôi. Bao nhiêu đặc thù chủng tánh tốt đẹp thanh cao  ấy, nó được biến hiện mầu nhiệm muôn trùng vào trong cuộc sống, và sự sống vô cùng của thế giới bao la nầy, với bao nhiêu việc làm, tư duy để đem lại nhiều lợi lạc cho số đông con người, nếu không phải đó là sự hóa thân của “Từ thị Di Lặc? hay “Mùa Xuân Di Lặc” trong mỗi tâm hồn lành mạnh trong sáng, đích thực của con người.

Phải đâu chỉ ngang qua từng ấy lời chúc tụng suông trong 3 ngày Tết, hay chỉ được mươi bữa trong mùa xuân, rồi lại bị quên lãng bởi theo bao việc: cơm áo, còn mất, thị phi, tranh chấp, phải quấy, hơn thua… thì có gì là mùa xuân Di Lặc, mùa xuân đến tự trong tôi!? Thế nhưng, nghĩ cho cùng, dù chừng ấy việc làm, chừng ấy nghĩ suy một thoáng đến sự ước mơ, cầu nguyện, cho dù chỉ là một thoáng thôi, nó cũng đem lại một ít bình an, lắng đọng một ít trần tâm giữa thế đời vui ít, khổ nhiều, mà sự hiểm nguy lại càng nhiều hơn của dòng chảy vui buồn, thành bại của  thời gian, từ sự cảm nhận ấy, có một nhà tu thi sĩ đã mô tả nỗi niềm:

 “…Tâm linh một thoáng bừng giao cảm,
lặng hết bao nhiêu lớp sóng cồn”.

Đến đây, chúng ta cùng chiêm nghiệm qua lời của Đức Phật:

“…Đối kẻ sống thanh tịnh, ngày nào cũng ngày tốt.
Với kẻ sống thanh tịnh, ngày nào cũng ngày lành.
Các tịnh nghiệp thanh tịnh, luôn thành tựu thiện hạnh…”.

Đồng thời, Đức Phật cũng cho biết thêm về tính nhân bản trong giáo nghĩa của Ngài, như, với ai:

“… Khiến mọi loài chúng sanh,
Được sống trong an ổn,
nếu không nói dối trá,
nếu không hại chúng sanh,
không lấy của không cho,
có lòng tin, không tham…”
                                       (Majjhima Nikaya 1, 7).

Thiển nghĩ, đây mới là mùa Xuân Di Lặc, thật sự xuân đến trong tôi, và ngoài kia xuân đã về…!                                                               
        
CHÙA KỲ VIÊN, 
South Dakota 2018.
MẶC PHƯƠNG TỬ


READ MORE - Ý NIỆM VỀ MÙA XUÂN DI LẶC - Mặc Phương Tử

CHÚT NẮNG GỞI QUÊ - Thơ Phan Dương Thy

Cánh đồng Gio Linh.

CHÚT NẮNG GỞI QUÊ

Phan Dương Thy

Quê mình mùa này,
Chắc mưa nhiều lắm.
Vui cái nắng trong này,
Thương những trận mưa dầm ở ngoài kia.
Chín năm xa từng khắc muốn trở về,
Ngày mình đi, các chú, các o, quen gọi thằng Cu, con Bé.
Đầu còn bím tóc, đầu cạo nhẵn trơn,
Còn nụ cười ngây ngô chưa biết hết nỗi buồn,
Chẳng biết quê hương mình bây chừ còn đẹp?
Nếu có lần anh đến Gio Linh, về thăm miền đất cát,
Để mua cho em chiếc nón bài thơ.
Điểm mái tóc xanh, xanh mướt từng giờ...
Nếu có lần mình về lại quê hương,
Để các chú, các o không tin con anh Xê, anh Tê bây chừ lớn rứa!
Cho các cu cậu bằng tuổi mình xưa sẽ gọi mình bằng chú bằng o.
Thích quá đi câu chuyện hẹn hò,
Rồi tự nhiên anh thấy sợ, thấy lo khi nghĩ về ngày ấy.
Quê mình giờ này đang vào vụ cày mùa cấy,
Ngập đường làng những chiếc nón lá heo hanh.
Nhưng cái rét mùa này gắt lạnh,
Ước gì gom nắng trong này để gởi rét ngoài kia.
Mai ta đi cho nắng ấm cùng về!


P.D.T.                     
02/1982
READ MORE - CHÚT NẮNG GỞI QUÊ - Thơ Phan Dương Thy

Thursday, January 25, 2018

TÌNH YÊU KHÔNG TRỌN VẸN - Truyện ngắn Thủy Điền


Tình Yêu Không Trọn Vẹn

      Ngồi giữa căn nhà rêu phong, dột nát. Lan Ngầu cầm bút viết lại cuộc đời mình sau những năm dài đắm chìm trong lao lý.

      Bước qua năm 19 tuổi, vừa tốt nghiệp tú tài toàn phần, nàng thi đỗ vào trường Đại học Khoa học Sài gòn. Học được một năm nàng quen Cẩn, người bạn chung trường. Thời gian nối tiếp thời gian hai người yêu nhau. Cuộc tình kéo dài cho đến ngày ra trường, tưởng rằng sự gắn kết sẽ đi đến những gì họ thường hay mong ước. Nhưng định mệnh trớ trêu bao hy vọng đã tan theo mây khói. Ngày ra trường Cẩn lên Cao Nguyên, còn nàng phải về Duyên hải, một khoảng cách Địa lý dường như vô tận, có chăng là những bức thư tình bay qua, bay lại với những ngày đầu để thỏa đi những gì thương nhớ. Nhưng ngày tháng, công việc cứ nối tiếp nhau, thời gian đã làm cho con người quên hẳn cái dĩ vãng tươi đẹp ấy và chỉ nhớ những gì hiện tại mà thôi. Thật là oan uổng.

      Chỉ một năm sau, Cẩn đã bước sang ngưỡng cửa mới, chàng yêu và lấy Ngọc Mai làm vợ. Mai một người đàn bà lý tưởng, hiền hậu luôn luôn một mực vì chồng. Bỡi thế Cẩn rất thán phục trước người vợ chân thành của mình. Qua mười năm chung sống họ rất hạnh phúc, tương lai tươi đẹp ở phía trước dường như đang đón chào đôi thanh nam, thiếu nữ nầy.

      Lan cũng thế, khi chia tay người bạn cũ, nàng cũng gặp may mắn kết đôi với một người đàn ông giàu có, nàng không phải đi làm việc hàng ngày như Cẩn mà vẫn sống trên nhung lụa xa hoa. Cuộc đời cứ ngỡ như đang ngự giữa Cung hoàng, không phong ba, bão nỗi mà im lìm như sóng biển tháng ba.

      Chuyện đời thật là khó hiểu, sau mười năm làm việc tại Kom tum Cẩn được lệnh thuyên chuyển về Nha Trang. Bước đầu chưa có nhà nên chàng phải thuê một căn hộ để ở tạm một thời gian. Ngày ngày đi làm việc tình cờ chàng gặp lại Lan nơi quán nước. Cuộc hội ngộ khá đặc biệt, không hẹn lại đến, mừng, tâm sự, quên mất mỗi người có một mái ấm riêng, có bao nhiêu kể hết, hẹn hò như lúc còn thuở Sinh viên. Về đến nhà cả hai mới té ra mình đã có gia đình, muốn dừng lại để tránh mọi xáo trộn trong cuộc sống. Nhưng tiếc thay tình cũ không rủ cũng đến, hai người bắt đầu đi đêm trở lại, phản bội gia đình mà trong lòng mỗi người không ai đều muốn cả.

      Bước lấn bước, sự kiềm hãm càng ngày càng trở nên lỏng lẻo. Lan quay về thật sự với Cẩn, dù trước đó chàng đã bao lần chối từ. Nhưng qua sự cứng rắn của Lan khiến chàng đành phải ngã lòng.

      Thời gian rồi thời gian nàng không muốn làm người tình lén lút nữa mà nàng buộc chàng phải về ly dị vợ và nàng cũng thế, để được cùng sống chung với nhau. Và, nàng đã thực hiện điều nầy trước, còn chàng thì cầu cưa vì vợ mình là người đàn bà tốt, chẳng lỗi lầm gì mà phải vội chia tay. Chàng từ chối liên tục mỗi khi nàng yêu cầu hay nói đến ba chữ về ly dị vợ.

      Một hôm vì quá yêu chàng nên nàng thốt ra những lời lẽ dường như không cần suy nghĩ nữa:
     -Anh có yêu em không? Anh Cẩn.
     -Đương nhiên là anh vẫn yêu em, nên anh mới lén lút gia đình để được gần em đến ngày hôm nay đây. Thế mà sao em lại hỏi đi, hỏi lại chỉ một câu hỏi, nghe thật nhàm chán vô cùng. Anh xin em đừng hỏi nữa có được không.
     -Thương, yêu em. Thế sao không về ly dị vợ để được sống cùng em?
     -Anh đã nói với em nhiều lần là anh không thể Lan à, em hãy hiểu cho anh.

       Cẩn vừa nói xong “Anh không thể “ thì một viên đạn vô tình hay cố ý đã ăn sâu vào quả tim của Cẩn và chàng đã ngã qụy dưới chân người tình ác máu.

      Lan vẫn đứng im lặng và khóc ngất. Nhà chức trách đến còng tay và dẫn nàng lên xe về Ty Cảnh Sát.

      Trước Toà nàng bị lãnh án chung thân. Sau hai mươi năm thụ án nàng được khoan hồng. Ngày trở về với mái tóc phơi sương, gầy yếu, nàng ngồi trong căn nhà rêu phong, dột nát cũ của cha mẹ nàng còn sót lại và ngồi viết lại một quảng đời mình "Tình Yêu không Trọn Vẹn".

Thủy Điền

 24-01-2018
READ MORE - TÌNH YÊU KHÔNG TRỌN VẸN - Truyện ngắn Thủy Điền

HOA LAN RỦ - Chùm ảnh của Chu Vương Miện






READ MORE - HOA LAN RỦ - Chùm ảnh của Chu Vương Miện

ĐÊM SAY CÙNG LA THUỴ - Thơ Lương Minh Vũ


       
                   Nhà thơ Lương Minh Vũ






                                      
   ĐÊM SAY CÙNG LA THUỴ

   Rót mông lung xuống bôi đầy
   Đường lô nhô bóng, phố gầy guộc đêm
   Trăng bơi đáy chén trăng mềm
   Thơ ai gẫy vận bên thềm khuya rơi
   Rót hỗn mang xuống mộng đời
   Lăn qua cho hết cuộc chơi khóc cười
   Rót quạnh hiu xuống cõi người
   Sông xưa cuốn hết xanh tươi dấu nguồn
   Rót niềm vui xuống nỗi buồn
   Dù mai cuối sóng đầu truông cũng về
   Rót ta chảy xuống tràn trề
   Trăng say, còn bạn cận kề dìu nhau.

                                  Lương Minh Vũ

READ MORE - ĐÊM SAY CÙNG LA THUỴ - Thơ Lương Minh Vũ

Wednesday, January 24, 2018

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ BÀ HUYỆN THANH QUAN





QUA ĐƯỜNG

đi mãi đường cũng mòn

phá mãi núi cũng lở

đốt mãi rừng cũng tan

tù mãi thân cũng khỏ

phụ nhau lòng không nỡ

nhưng không thể không làm

ăn mãi nhà cũng lở

nghèo mãi vẫn còn ham

sừng sững núi Hồng Lĩnh

ngoằn nghoèo giải sông Lam

một vùng muối biển trắng

kéo lê kiếp cơ hàn

đang nghèo qua đèo Ngang

đọc Bà Huyện Thanh Quan

nhà rợ chênh vênh núi

khói cơm bốc lưng ngàn

cô hồn bao lam lũ

thơ thẩn nơi hoàng thành

tà dương nơi điếm cỏ

cung miếu tiếng đàn tranh

những tích xưa điển cũ

nhắc nhủ lúc lâm hành



mây trắng ngàn năm mây trắng bay

đèo Dọc rồi Ngang lẩn vào mây

thời trước thì chiến tranh Chiêm Việt

Trịnh Nguyễn tiền oan ở chốn này

Tây Sơn Gia Long vừa chấm dứt

một chốn Hoành Sơn mảnh đất gầy

lác đác sườn non vài dã thú

lềnh bềnh ven biển chiếc thuyền cây

ta là phu tử đi qua đó

Đồng Hới Động Hời bóng xế tây

biên giới xa xưa chừ xóa bỏ

không Chàm chi nữa một trời mây



THĂNG LONG HOÀI CỔ

Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà
                   (Bà Huyện Thanh Quan)

trấn bắc hành cung gạch dãi dầu
đi bộ suốt đời chân mỏi đau ?
hồi chuông kim cổ vang đáy ruột
lớp sóng phế hưng ngói uá màu ?
cảnh cũ người xưa tàn mây khói
ngẩn ngơ biển rộng rẫy nương dâu ?
đầm đầm ngọn lá đầu thu muộn
ô toả non tây ? bạc mấy đầu ?
dặm liễu phất phơ miền hoang dã
lòng quê chậm bước bước về đâu ?


NHỚ NƯỚC ĐAU LÒNG

nhớ nước con quốc kêu cuốc cuốc
nhớ nhà con chim gia kêu gia gia
ta đứng chốn này khóc khô nước mắt
nhìn hoài hòai nơi đất mẹ quê cha
bà Huyện đi dăm ngày về co quóc
qua đèo Ngang qua Thuận Hóa thời xưa
đất nước khó khăn toàn thung với lũng
toàn núi cùng đồi vươn ra đảo Hoàng Sa
kinh thành cổ vẫn mái nhà ngói đỏ
vẫn nội thành cây cỏ lá chen hoa
cung miếu triều xưa giờ đổi khác
thời gian ơi xóa mất mấy canh gà ?
cỏ dại che mờ đường quan lộ
chiều tà bóng núi ngả xa xa
thương nước cũng đành dằn nơi bụng
thương nhà toàn bão táp phong ba
hờn thiêng sông núi vang đâu đó
một dãyTrường Sơn bụi bay nhòa
dừng chân góc núi nhìn ra biển
sóng ba đào vỗ mãi Khúc Hận Ca


ĐÈO NGANG

cả tháng nay trời chớm vào hè
hương đồng mưa lệch dưới lùm tre
người đang nằm khểnh nơi hẻm núi
chan hòa gió thổi 1 giòng khe
bước tới đèo Ngang bóng xế tà
ngươi về bà Huyện bước trong mưa
dặm hòe cô lẻ nơi Thuận Hóa
rải rác đồi nghiêng rợ mấy nhà
thôi đành mỏi miệng con quốc quốc
chuông sớm mủi lòng cái gia gia
người về hay người còn nán lại
cõi ngoài rêu đã phủ phên thưa
đèo Ngang chắn nẻo Hoành Sơn cũ
bà Huyện đương tim dấu vết xưa
cảnh cũ liu điu thung với lũng
cố nhân giờ đã tếch trong mù
khách đi qua đó chồn chân lại
chạnh niềm cố quận buổi can qua
niềm đau còn nặng trong tỳ phế
ngẩn ngơ bảng lảng mấy canh gà?
mình cây nắng nhuộm ở phương mô
bà Huyện ngó hoài rặng liễu đưa
cung miếu triều xưa hồn thu thảo
hồn thiêng sông núi ở phương nào ?
-
bây giờ thiên hạ đang ngủ cả
Bà Huyện nhớ quê thức trên đèo
1 giải Hoành Sơn chia thiên hạ
thảo nào khúc khủyu lắm gien nan
nghe hoài o thấy chi cuốc cuốc
tìm hoài chả thấy cái gia gia
cung miếu triều xưa hoang cùng phế
lay lắt ven sông mấy rặng dừa


BA HUYỆN THANH QUAN

con chim quốc nhớ nước kêu cuốc cuốc
con chim da da nhớ nhà kêu gia gia
ta nhòm bờ bãi đông tây nam bắc
chả chốn nào quê hương ? chả chốn nào nhà ?
nơi đèo Ngang (đang nghèo) bà Huyện đi qua
chôn Động Hời xưa mồ mả Chămpa
giờ hiu quạnh lờ mờ toàn sương khói
nhà rợ nghiêng nghiêng bóng xế tà
bà Huyện trên quan lộ về Thuận Hóa
cung miếu triều xưa rủ bòng cờ
lau sậy mọc hoang ven đường quan tái
chung nỗi lòng người với xót xa
lác đác nom sông thuyền vài lá
sóng lan man vỗ mãi lên bờ
người xưa giờ đã về qui ẩn
gió lào thổi mãi nỗi can qua
-
mỗi năm Bà Huyện về thăm nhà
nơi này đang nghèo nghèo xót xa
qua Quảng Bình Đèo Ngang rồi Hà Tĩnh
núi sông thấm mệt nét can qua
bà ra rồi bà lại vào
Hoành Sơn Nhất Đới tự thủa nào
thiên thư để sẵn cho nhà Nguyễn
xưa rầy chừ ? chỉ thế sao ?


LẠC ĐƯỜNG (BHTQ)


lạc đường theo chó
lạc ngõ theo trâu
con chó có bờ hè để ngủ
con trâu có chuồng tới tối về
bao năm ta có quê để ra đi
có nước thì ra khỏi nước
Thục đế thác đi hoá thành chim quốc
kêu suốt ngày suốt tháng suốt năm
bây giờ ta có nhiều thứ hồi âm
mà cầm bút chống cằm viết chả nổi
cũng chả còn nhìn thấy con thuyền
dong buồm về Pắc Hổi
phiá đông biển Hai Nàm
ta vẫn chiều chiều ngó mãi về trung
bên kia Thái Bình Dương rặng dừa vẫy gọi
chả lẽ làm mỏm nuí phiá tây đứng đợi
bụi tàn canh gió lốc cuối trời
quê hương chừ 1 chốn đôi nơi
đất mầu mỡ để cho ngươi chia cắt
nay phần đất phần núi đồi phần thác
sông liền sông liền giải giả từ ta ?
những miền đồng rừng đất mẹ quê cha
nay được chuyển tên nhập vào Trung Quốc
tỉnh Lạng Sơn đâu còn thác Bản Giốc
thác quanh năm đổ nước xuống nuôi ngươì
ta chốn này gọi lớn Việt Nam ơi ?


bước tới Đèo Ngang đã hết ngày
Hoành Sơn Quan trụ ở nơi này
ngày xưa biên giới Chăm-  Đại Việt
bây chừ tảng đá vẫn còn đây ?
ngó quanh nào thấy gia gia cuốc
mà khói cùng mây vẫn toả đầy
Trịnh Nguyễn còn ghi dầy dấu tích
hương trầm hương quế thoảng đâu đây


CHIM VIỆT

mặt phàm giọng hát nam bình
thâm khuê công chuá Huyền Trân thở dài
cơ trần giọng hát nam ai ?
Chế Mân trăn trở về hai cõi bờ
nước non nghìn dặm lờ đờ ?
tình yêu đích thực! nhấp nhô tuyệt vời !
một năm cưả bể ngọt bùi ?
tây phương cực lạc canh dài đa mang
Việt Chàm một chiếc thuyền nan


LUNG LAY 

lung lay là bệnh của trời
mịt mờ mê gái bệnh ngườ mần thơ ?
thiên san úp xuống cái lờ ?
bắt con cá nghạnh lên bờ nấu chua
mây qua rặng núi đã trưa ?
bệnh thi nhân lắm bệnh chùa bà đanh
yêu nhau cũng để hành thân ?


                          Chu Vương Miện

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ BÀ HUYỆN THANH QUAN

ĐỌC BA BÀI THƠ NGẮN CỦA ĐÌNH ĐĂNG - Châu Thạch



                          Nhà thơ Trương Đình Đăng


ĐỌC BA BÀI THƠ NGẮN CỦA ĐÌNH ĐĂNG 


Nhà thơ Đình Đăng tên thật Trương Đình Đăng,  còn có bút danh Đăng Sơn, Phương Ngữ.  Ông sinh năm 1933 quê ở Triệu Phong Quảng Trị. Hiện trú tại Đà Nẵng. Đình  Đăng là một thi hữu huynh trưởng. Huynh trưởng về hai phương diện. Nhà thơ đang ở độ tuổi bát tuần, phong cách sống và phong cách thơ được văn thi hữu mến phục và  văn thi đàn mến mộ nhiều. Thơ của ông suy nghiệm sâu xa về tình yêu và triết lý  sống, có cái nhìn tỉnh táo  và công bình để phán xét những sự kiện xảy ra giữa đời thường. Tài sản thơ của ông rất đồ sộ nhưng phần công bố trên báo chí thì ít, vì bản tính nhà thơ thích nhàn hạ tiêu dao, vui với mình với đời bằng vần thơ thanh nghị hơn là xông xáo trên diễn đàn vì cái danh vọng. Để viết tường tận về thơ Đình Đăng thì không thể nghiên cứu ngắn ngày và viết trên một vài trang giấy mà được. Châu Thạch tôi vốn là cây bút nghiệp dư và viết cảm nhận thơ tùy hứng, nên trong khuôn khổ bài viết nầy, chỉ  xin đề cập đến ba bài thơ chữ ngắn của ông. Chữ ngắn nghĩa là câu thơ  ít chữ và bài thơ cũng ngắn.
Bài thơ thứ nhất:

TÌM
Thế gian
ai khóc
ai cười
Ta ngồi đây
với quanh đời
nhiễu nhương.
Từ em
lạc giữa vô thường
Ta như cỏ dại
gió sương
võ vàng.
Đâu trần tục
đâu thiên đàng
Biết tìm đâu
giữa dối gian
cõi người ?
       7/2011

Đọc “Tìm” ta thấy nhà thơ không chỉ cô đơn vì vắng em mà còn mang một nỗi cô đơn lớn hơn nữa, đó là nỗi cô đơn giữa “cõi người”. Bài thơ dễ dàng cho ta hiểu cái ý của nó nhưng khó khăn cho ta đồng cảm với niềm đau tình yêu và niềm đau nhân thế ở một tâm hồn lớn đang sống giữa hiện thực. Những ai thấy đồng cảm, lòng xót xa vì tiếng thơ nầy thì người đó cũng mang chung với tác giả một tâm sự buồn tình và buồn đời. Tình trong “Tìm” của tác giả Đình Đăng không chỉ là thứ tình nam nữ hay vợ chồng đơn thuần mà còn một thứ  tình  đồng điệu của hai người tri kỷ sống giữa cuộc đời biến động.  Bởi thế, khi nhà thơ ngồi nhìn “ai khóc/ ai cười/Ta ngồi đây/với quanh đời/nhiễu nhương” thì ông không nhớ đến bạn bè, đồng đội hay đồng chí mà ông lại nhớ người phối ngẫu của mình trước hết. Tôi biết “em” ở đây là người vợ thân yêu của nhà thơ. Bởi vì ai gần gủi với tác giả đều cảm phục một giai thoại tình yêu tuyệt vời của vợ chồng ông. Bài thơ cho ta thấy rõ ràng tác giả là người bất đắc chí. Nhà thơ đã ngồi đó,  nhìn biến động quanh mình một cách vô vọng, đến nỗi dễ dàng nhầm lẩn vì không biết “Đâu trần tục/ đâu thiên đàng/ Biết tìm đâu/ giữa dối gian/ cõi người?” “Cõi người” đánh dấu hỏi có nghĩa là “có phải cõi người hay không?”, hay đó là cõi ma, cõi quỹ. Đọc bài thơ “Tìm” ta thấy ở đó một tiếng thở dài. Tiếng thở dài đó không phải chỉ của một người nhớ vợ, không phải của chỉ một nhà thơ tức cảnh sinh tình, mà đó là một tiếng thở dài của một bậc trí giả với hai nỗi đau chất chứa trong lòng, nỗi đau cô đơn vì người vợ thân yêu, người tri kỷ duy nhất trong đời đã mất, và nỗi đau lạc lõng trước bao nhiêu biến động dối dang và nghịch lý xảy ra quanh ông. Đọc “Tìm” của Đình Đăng không hiểu vì sao, tự  nhiên tôi nhớ đến cụ Phan Bội Châu thả đò một mình trên sông Hương của xứ Huế đất thần kinh!!!
Bài thơ thứ hai:

TƠ CHIỀU
Cố gỡ
sao lòng mãi rối tơ
Bờ mê
bến giác
trắng sương mờ
Nằm nghe
âm vọng ngoài vô tận
Lắng tiếng ru đời
đắng giọt thơ !

Đọc bài “Tơ Chiều” ta hiểu thêm tâm trạng của nhà thơ và ta dễ dàng sâu nhiệm thêm với những gì chất chứa trong bài thơ “Tìm” ở trên. “Tơ chiều” là nỗi niềm rối ren chất chứa trong lòng tác giả, nhưng lòng tác giả và vũ trụ đồng nhất thể nên tơ chiều ấy cũng trùm lên cả vũ trụ. Bài thơ có nhưng từ “Bờ mê”, “bến giác” nhưng chắc chắn không phải là một bài thơ Thiền hay bài thơ về triết lý nhà Phật. Bài thơ cũng  không phải để bày tỏ sự rối ren trong cuộc sống giao tiếp xã hội. Đây là sự bâng khuâng của một kiếp con tằm giăng tơ, của một tâm hồn thi sĩ mà Thương Đế ban cho ân tứ ấy để làm thơ cho đời. Không Tử nói “Ngũ thập tri thiên mệnh” nghĩa là người có tuổi từ 50 trở lên thì có thể biết được đạo lý, nhận ra giá trị của cuộc sống và phân biệt được đúng, sai trong cuộc sống nhở tri được cái luật của Tạo Hóa. Nhà thơ Đình Đăng đã quá tuổi tri thiên mệnh trên ba mươi năm, không lý gì ông còn rối ren về đạo lý, về sự đúng sự sai ở đời. Vậy mà ông “Cố gỡ/ Sao lòng mãi rối tơ”. Vậy mà ông không phân biệt được “Bờ mê/ bến giác” để thấy nó như trong “trăng sương mờ’ nghĩa là như một bầu trời trong ảo giác . Ông gọi sự rối rối đó là “Tơ chiều”. Vậy “Tơ chiều” là gì? không gì khác là câu hỏi to tướng về cái xấu diễn ra trước mắt. Nhà thơ Đình Đăng thấy được cái xấu, phân biệt được cái xấu đó nhưng không hiẻu vì sao khi nhìn ra xã hội, ông thấy con người không từ bỏ nó mà đam mê như một con thiêu thân lao vào lửa. Ở tuổi về chiều nhà thơ càng sâu nhiệm thêm về đạo làm Người được viết bằng chữ hoa, thì ông lại ngao ngán trước sự lọc lừa, đổi trắng thay đen, vô đạo lý mà ông thấy được. Nhà thơ “Nằm nghe/ Âm vọng ngoài vô tận” nghĩa là nghe được tiếng của thiên nhiên, của vũ trụ, của Thượng Đế hay đúng ra là am hiểu tiếng của chân lý dội trong linh hồn mình. Và khi nghe được tiếng chân lý đó, nhà thơ đem nó so sánh với đời thì đành cay đắng mà thốt kêu lên “lắng tiếng ru đời/ đắng giọt thơ!   
Bài thơ tuy ngắn nhưng chất chứa một nan đề của loài người, nó là một suy tư nằm ngoài các con đường mòn của các triết lý các tôn giáo, nêu lên một sự thật dối gian, ngụy tạo, lẩn lộn giữa chính và tà, giữa sa-tan và thần thánh trong kiếp nhân sinh, làm cho thơ vốn là nguồn chân lý trong sáng vô biên cũng phải đắng cay.
Bài thơ thứ ba:

TRƯỚC BIỂN
Nắng rang
cát bỏng trưa hè
Dã tràng xe
dã tràng xe...
sóng dồi
Gẫm mình
rồi cũng thế thôi
Bao năm xe cát
để rồi cát chôn .
Xác thân
lại trả càn khôn
Bao la vũ trụ
rong hồn phiêu du !
                7/1011

Chuyện Dã Tràng xe cát là chuyện cổ tích ngụ ngôn, mục đích để răn dạy người đời không làm những việc vô ích, không có kết quả gì. Tác giả đứng trước biển bao la, nhìn con Dã Tràng xe cát mà liên nghĩ đén thân phận con người cũng phù phiếm như con Dã Tràng kia, gian lao khổ cực bao năm rồi cũng ra đi, tan vào trong cõi hư không. Đây là một suy tư yếm thế về thân phận con người mà không ai tránh được khi đứng trước sự bao la của vũ trụ thấy mình nhỏ bé và ngắn ngủi đời người. Nhà thơ Đình Đăng tuổi đã cao, suy nghiệm của ông về lẽ thường tình mà thế gian đã thấy có chiều hướng tích cực hơn trong sự yếm thế đó. Nhà thơ cho rằng xác thân ta sẽ trả lại càn khôn nghĩa là trở về với bụi đất vô tri nhưng linh hồn thì phiêu du trong cõi bao la vũ trụ. Quan niệm này gần với Lão giáo, lắng đọng linh hồn con người vào cõi thanh tịnh thật của nó, hòa nhập với thiên nhiên , vô vi cùng trời đất, không cần phải tu tập, cầu nguyện tôn vinh ai vì tất cả đó chỉ là động mà thôi, mà động là đi ngược lại lẽ huyền vi có sẳn, tồn tại giữa thiên nhiên.
Đọc ba bài thơ ngắn của Đình Đăng, tâm hồn ta không thấy ủy mị bởi niềm đau “khổ đế”, không thấy chán đời bởi nghịch cảnh xảy ra trong cuộc thế, mà cũng không cảm thấy cần phải có một niềm tin tôn giáo cho đời. Thơ ông chất chứa một sự suy tư của chính ông, trình bày những rối ren thực tế trong cõi người, đặt vào tâm hồn mỗi người đọc thơ sự cảm nhận những phủ phàng không phải không lý giải được trước cuộc đời, trước xã hôi thực tại và nhìn nó, chấp nhận sự rối ren của nó,than van thì có nhưng oán trách thì không . Thơ ấy không làm cho tâm hồn ta rung động trong cảm thức khoái lạc nhưng làm cho ta cảm thấy mình lớn hơn, cao hơn và sâu sắc hơn trong cuộc làm Người.

                                                                Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC BA BÀI THƠ NGẮN CỦA ĐÌNH ĐĂNG - Châu Thạch