Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, April 15, 2014

KÝ ỨC - Hoàng Kim Liên


                    



       Trong cuộc sống đời thường, bao nhiêu sự việc diễn ra trong quá khứ - nhất là thời thơ ấu – đều được ghi lại trong bộ nhớ của não một cách rỏ ràng. Nhưng  trong lúc bận rộn cho công việc mưu sinh, tất cả đều bị che lấp, nhường chỗ cho những tính toan để đối phó với những điều kiện, hoàn cảnh cay nghiệt vấp phải. Khi về già những tính toan đó không còn mà phải vui vẻ sống những ngày còn lại trong quỷ thời gian của mình thì những ký ức ngày xưa lại hiện về làm xao xuyến trong lòng, đôi lúc lại cười thầm trong bụng vì những cảnh tượng quá cách biệt giữa xưa và nay rồi thì mũi lòng, cảm động những gì mình trải qua trong quá khứ.
          Xin nhắc lại một vài chuyện mà tin chắc rằng ai đã từng sinh ra, lớn lên ở nông thôn thì thế nào cũng gặp thải.
      1.    Chuyện thắp thuốc cho ba hoặc ông bà: Ngày xưa, ít ai có được một hộp quẹt bỏ túi để thắp (đốt) thuốc như bây giờ. Người sang lắm mới có cái “máy đèn” mua ở chợ tỉnh hay của người thân quen tặng. Ngày xưa gọi là máy đèn. Một hộp chứ nhật nhỏ hai lớp làng bằng nhôm, dày khỏang 8 ly, rộng 3 phân, dài chừng 7 phân, kể cả nắp đậy. Bên trong là ruột đựng bông gòn có tấm dầu lửa, có một tim bằng sọi vải để dễ bắt lửa nhô ra ngoài, một trục bên trên gắn một bánh xe bằng thép, nhám thông vớ một ống nhỏ bên trong ống bỏ viên đá lửa nhỏ bằng que tăm, ngắn chừng 5 ly, được đẩy bằng một lò xo và con ốc vào cho viên đá luôn tiếp xúc với bánh xe, tay cầm máy đèn, ngó cái bật bánh xe toé ra lửa, tiếp xúc với tim sẽ thành ngọn lửa nhỏ để mồi thuốc. thấy cũng oai đấy chứ.
       Ba không có máy đèn.
      Giấy vấn thuốc không được cắt sẵn 4 phân x 7 phân mà cả tờ giấy quyến trắng to đùng, 1 mét x1,2 mét, mua về xếp lại, có người xếp thành tám xé vấn dần, có người thì gấp lại nhỏ đàng hoàng, lấy dao rọc ra từ lớn đến nhỏ, cất bỏ vào bao một ít dùng dần. Còn thuốc thì mùa xuân bắt đầu trồng quanh vườn, đến mùa nắng bẻ lá vào phơi khô, xếp cuốn ,bó bằng mo cau cột giữa bếp, khi hêt thuốc xắt thì lấy xuống, xé bỏ xương gân, xếp miếng to không rách ra ngoài, cuộn tròn lăn thật mạnh thành một cuộn dài chừng 30 phân, lớ gần băng ngón chân cái. Lấy một thanh tre khô bằng hai ngón tay, dài khoảng 45 phân, bào nhẳn. Cách một đầu chừng 10 phân, đục một cái lỗ tròn vừa đủ cuộn thuốc lọt qua, gọi là bàn cắt thuốc. Lấy cây rụa mài thật sắc bén. Tất cả sẵn sàng. Bàn  cắt thuốc đầu trên chống vào nách người cắt, đầu dưới chống vào giưa nền nhà. Tay trái cầm cuộn thươc đun dần dần vào, tay phải tựa theo bàn cắt nhấn mạnh xuống – đưa lên nhấn xuống liên hồi – thuốc sẽ đứt từng nhát mỏng. Thuốc xắt ra hứng trong miếng lá chuối sạch. Xắt xong, xé nhỏ thuốc bỏ vào bao hút dần. Bao đựng thuộc làm bằng bẹ chuối khô, may đẹp xấu, mỹ thuật hay không tuỳ theo. Bao có ba ngăn: ngăn đựng thuốc, ngăn đụng giấy, ngăn đựng máy đèn.
        Mỗi lần hút thuốc, khi vấn (cuộn thuốc vào trong giấy thành điếu), ba đưa điếu thuốc cho tôi biểu đi thắp. Khi thắp (đốt) thuốc thì phải hút thuốc mới cháy thành ra quen dần lớn lên nghiện thuốc. Trẻ con thôn quê hay hút thuốc là vậy.
2.   Cha mẹ đi ra đồng cày, cấy, bón phân hay làm cỏ nên phải tắt hết lửa củi trước khi đi làm bỡi vì đa số nhà thấp, lợp bằng  tranh dễ cháy, đun bếp ba mùa xuân, hạ, thu đều bằng rơm; củi hiếm để dành cho mùa đông rét mướt, có than để sưởi bỏ vào lồng ấp hơ ấp hai tay. Khi cha mẹ về nấu ăn sai con đi hàng xóm, có người ở nhà  xin lả (lửa) về nấu cơm, chạy ra sau cây rơm rút một nắm xoáy tròn bằng tổ chim rồi bóp dẹp lại, một đầu để cầm đầu kia banh ra bỏ cục than đang cháy vào, chạy nhanh về nhà cho mẹ. Đôi khi lửa bén nhanh quá chạy không kịp bị lửa cháy phỏng tay.
        Ông già bà lão, mùa lạnh ở quê Quảng Trị mình  không có bếp lửa là không ổn. Họ làm một dụng cụ gọi là lồng ấp, vót tre đan cái lồng trên có miệng, ở giữa eo vào để bỏ cái tréc (cái nồi cạn làm bằng đất nung) đựng tro và than, cái lồng để giữ cho áo quần khỏi dính vào lửa khi ôm lòng ấp.
        Mùa lạnh ra đông, người ta lấy rơm bện thành “con cúi”, hay “bông mai”, bỏ cục than đang cháy đỏ vào cho bắt lửa, rồi nó âm ỉ cháy ngún không bốc thành lửa ngọn, giữ lửa suốt ngày đêm tuỳ theo “con cúi” dài hay ngắn.
3.  Về mùa thu hoạch lúa, nông dân rất vất vả, ban ngày đi gặt lúa, đêm về phải đạp lúa. Thường người ta gặt lúa để ngay ngắn từng đống rồi lấy lạt (dây cột, cứng) bó thành từng bó dùng đòn xóc đâm vào hai bó lúa đưa lên vai gánh về chất thành đống cao nghệu, để vài ba ngày cho lúa chính bết mới đem đạp cho lúa hột rụng ra khỏi rơm. Người ít lúa, không có trâu bò, họ đạp chân – chân trần, không mang giày bảo hộ. Làm gì có. Cột một cái sào tre ngang trên bụng vào hai cột nhà để tì vịnh tay vào, mở bó lủa ra chia làm hai hay ba rồi đứng lên chà xát dẫm bàn chân lên ngọn lúa cho lủa lột rụng hết. thật là gian khổ.
        Đạp lúa trâu, bò thì khoẻ hơn, nhanh hơn đạp bằng sức người. Khoảng 5 giờ chiều, hai ba người đàn ông, quét “cươi” (sân) sạch sẽ, ôm lúa bó mở ra trải lên sân, ngay ngắn thứ lớp đàng hoàng, dày mỏng còn tuỳ ít hay nhiều lúa bó, thường dày khỏang 40 đến 50 phân, tròn, đường kín 6 đến 10 mét. Chuẩn bị bổ cào 6 răng, mõ xảy (xảy một, xảy đôi – dụng cụ rủ rom, phơi rơm), giỏ đựng phân trâu. Xong xuôi, sáu giờ, sau khi trâu bò đã ăn no, người cũng ăn xong, cho trâu bò lên giả lúa đi quanh , người điều khiển đàn trâu bò từ ba bốn con, con đi đầu phải có dây dò mũi. Đi quanh đạp chừng 10 phút nghe người điều khiển hô: Trâu ẻ… trâu ẻ (ỉa) là người phụ ở ngoài bưng giỏ có lót rơm chạy vào hứng sau đít trâu kẻo trâu ỉa ra lúa, lúc này cả bầy, hết con nầy đến con khác,  liên tục ỉa làm người phụ ngoài mệt đừ
        Độ một tiếng rưỡi đồng hồ, phía trên mặt đã rụng, người ta lấy bớt chung quang, rủ thật lộn búi rải đều lên trên một lớp cho đi tiếp, nửa giờ sau, lớp này không còn dính lúa hột nũa, lấy cào và xảy đưa rơm ra ngoài rủ sạch, bỏ thành đống ngày mai phơi. Tiếp tục một hai lần lấy bớt như vậy khi giả lúa thấp xuống, cho trâu bò nghỉ, ăn cỏ lót dạ, mọi ngươi xúm nhau rủ búi tất cả số còn lại, sửa sang lại, cũng ăn lót dạ chén cháo gà, chén chè hay đĩa xôi rồi đưa trâu, bò vào đạp tiếp, khi xem lúa không còn dính vào rơm nữa, cho trâu ra nghỉ, người rủ sạch hết số còn lại nầy, đưa rơm ra khỏi sân chất thành đống thì cũng đã 12 giờ đêm. Cứ vậy, ba bốn hôm lại đạp lúa trâu một bữa cho đến hết mùa.
       Với đàn ông thanh niên là vậy, còn với phụ nữ và trẻ 10 trở lên 18 thì có công việc thường lệ hơn cho mỗi buổi tối. Như có bảng phân công bất thành văn mà mỗi người phải ghi nhớ để thực hiện. Sau khi ăn cơm tối xong, mẹ tranh thủ rửa chén bát, dọn dẹp, các con lấy lúa đổ vào cối xay, mẹ làm xong việc dọn dẹp, dọn nẻn (cái nia), sàng ra, lấy lúa đã xay sàng vào trong nia, bỏ trấu (võ lúa) ra ngoài, lấy gạo lứt (gạo chưa bóc cám) bỏ vào cối đá hay cối gỗ giả cho phần cám (võ lụa bám mỏng ngoài hạt gạo) bung ra hết, phải xem cho kỹ, lúc nầy cám và gao đã giả trắng trộn lẫn nhau, mẹ lấy nia trải ra, lấy giần,  giần để loại cám xuống dưới còn gạo lẫn trấu heng (trấu nhỏ) còn lại trên giần. Bây giờ lấy cái trẹt to (nia nhỏ) sảy cho trấu nhỏ bay hết còn lại gạo sạch hoàn toàn, đổ vào dụng cụ chứa gạo để mấu cơm ngày mai.


    

                 
               

       Trừ cối giả gạo làm bằng đá hay gỗ, chày giả làm bằng gỗ ra, còn lại thúng, mủng (thúng nhỏ), trẹt to, trẹt nhỏ sàng giần, cối xay đều đan đát bằng tre. Giả gạo, sàng giần gao là cả một nghệ thuật, không hiểu, không quen chắc chắn sẽ không làm được.







       Có ba loại chày giả gạo:  Một là chày tay, một khúc gỗ dài chừng 1,4 mét, đường kính chừng tám phân đến một tấc, bào tròn, ở chunhs giũa đẽo chuốt nhỏ lại bằng cổ tay để dễ cầm, đứng giẩ. Hai là chày đạp, thường để một chỗ cố định. Cối được chôn thấp xuống, chày nặng hơn, giống chữ L, cán chày dài khoảng 2 mét, đầu chày nhỏ hơn , ngắn khoảng 4 tấc, đầu kia, cách đầu chừng 8 tấc, đục xuyên cán chày làm một trục ngang, trục ngang này tựa vào hai cột chôn vững xuống đất, cách nhau chừng 8 tấc. Chày nầy như là một đòn bẩy , người giả đứng phía sau đạp nhún để cho đầu kia cất lên rôi thả xuống, chày sẽ giả vào côi. Chày nầy có thể xử dụng hai người. Ba là chày vồ, chày có cán tre ở giữa như chữ T, chày giả được hai đầu, cán nhỏ dài chừng 7 tấc, nhỏ để dễ câm, ngồi trên ghế để giả

      Giả gạo một người, hai người còn dễ chứ ba, bốn người,  thì càng khó. Thứ tự theo vòng quay ngược kim đồng hồ, người này giả xuống cất chày lên tiếp người bên phải cứ như thế hết người thứ tư mới đến người đầu trở lại, rất nhanh không để người khác chờ, cũng không xuống trước sẽ gỏ chày trúng nhau. Khi đã quen, thuần tục thì giả đuổi nhau thi nhau nữa, ai mệt sẽ bỏ cuộc ngay. Đôi khi đánh trúng chày người khác làm chày họ giả vào tai cối làm bể hay sứt mẻ cối. 


               

       Thấy cảnh giả gạo chày tư rất thú vị. Còn sàng, giần, cằn, sảy làm sạch gạo là cả một nghệ thuật, học hỏi, kinh nghiệm lâu ngày chứ không đơn giản chút nào. Chỉ những bà mẹ quê từng trải mới làm tốt thôi. Không tin cứ về quê giả gạo làm gạo sẽ biết liền. Trong khoảng 3 ký gạo trộn chừng 15 hạt lúa, chắc chắn mình sẽ tìm cả giờ chưa hết chứ một bà mẹ quê sành sỏi họ lấy sàng ra bỏ lên sàng ba phút sau tất cả các hạt lúa đểu nhóm lại ở chính giữa sàng chỉ lây tay nhón một cái là xong ngay. Vậy đó
        Ai  đã từng có thời son trẻ sống ở vùng nông thôn nghèo mới biết và hiểu được cảnh cơ cực suốt một thời gian dài, vì chiến tranh, lạc hậu. Giờ tuổi trẻ, đầy đủ tất cả mọi tiện nghi, vật chất, khoa học kỹ thuật phát triển gấp cả trăm lần, khi ông cha nhắc  đến thời thời kỳ ấy với những từ ngữ địa phương nữa cắc chắn chúng sẽ ngơ ngác chẳng biết gi hay hình dung được như thế nào cả. Còn lớp già sống vào những thời đó thì nay cũng đã 60 tuổi trở lên, gặp nhau đâu đó. Bên tách cà phê tâm sự hay ly trà hàn huyên hay tranh nhau kể về quá khứ của mình, lòng vướng chút tự hào, chút hoài niện, chút ưu tư mà lòng se lại…

                                                                       Hoàng Kim Liên
READ MORE - KÝ ỨC - Hoàng Kim Liên

Sunday, April 13, 2014

CÒN GÌ ĐÂU NHỚ MÀ QUÊN - Hoàng Anh 79

Tác giả Hoàng Anh 79


Ngày em bỏ học về xứ lụa
Ngã ba sông chiều con nước đau
Áo champa bao mùa mưa nắng
Chắc hẳn giờ đây đã bạc màu.

Khói đồng ai đốt cay khóe mắt
Đò đưa mấy lượt khách sang sông
Biết tóc em còn đen óng mượt
Hay khóc từng đêm nhuốm sợi buồn.

Trông phía Cồn Tiên mờ khói sóng
Ngày về An Phú chẳng có em
Lỗi hẹn mấy mùa điên điển nở
Còn gì đâu nhớ để mà quên.

Nhánh phượng treo sầu trời hạ đỏ
Từng đêm tiếng quốc gọi trong sương
Như em khe khẽ lời kinh nguyện
Vẫn lạc tình nhau góc thánh đường!
                     Ngày 12/06/2014
                       Hoàng Anh 79

Họ và tên: Hồ Mạnh Phi Hùng
Bút Danh: Hoàng Anh 79
Sinh ngày 14/09/1973
Mail: homanhphihung.mt@gmail.com
Blog: http://hoanganh79.blogspot.com/
Điện thoại: 0918.974.522
Địa chỉ:  Long Xuyên, An Giang.


READ MORE - CÒN GÌ ĐÂU NHỚ MÀ QUÊN - Hoàng Anh 79

NÓNG – LẠNH - thơ Trường Hải Lê Văn Đông

Tác giả Lê Văn Đông



Trời đất sinh ra những cơn nóng – lạnh,
Để có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. 
Khí mậu dịch chuyển giao từ đâu đến?
Hầm hập mùa hè, lạnh giá mùa đông!

Loài người xưa nay tồn tại với thời gian,
Biết thích nghi để duy trì sự sống. 
Biết dùng quạt tay xua tan nắng nóng,
Nhóm bếp lửa hồng chống lại đêm đông!

Trong cuộc đời nhiều nóng – lạnh, bão giông,
Những cuộc chiến tranh con người hâm nóng.
Gieo rắc đau thương, khí lạnh tràn về 
Vết sẹo hằn sâu mặt người, mặt đất !                                                                                                          
Thế giới ngày nay, nóng – lạnh trong ngoài,
Nóng khu vực, cả địa cầu nóng bỏng! 
Lạnh vùng miền, lạnh trong mỗi quốc gia,
Nóng – lạnh của mình, nóng – lạnh người ta!

Nóng – lạnh nhập vào, nóng – lạnh tách ra,
Biển đảo, đất liền tranh giành diễn biến. 
Kinh tế toàn cầu phập phù lùi tiến,
Nóng – lạnh kinh niên độc lập, chủ quyền!

Chống nóng – lạnh đất trời,nay có điện,        
Nóng – lạnh con người, biết chống sao đây? 
Lấy nhân nghĩa chống tham tàn, bạo ngược,
Gốc rễ Nhân Dân, hạnh phúc lâu bền.

Đỉnh Sơn , 12/4/ 2014
Trường Hải Lê Văn Đông


READ MORE - NÓNG – LẠNH - thơ Trường Hải Lê Văn Đông

RỒI THẾ NÀO HÒA BÌNH CŨNG PHẢI ĐẾN - thơ Nguyễn Văn Gia


Tác gỉa Nguyễn Văn Gia


Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến
Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen
Hỡi mẹ, hỡi em, hỡi da vàng Đông Á
Xin vẫy tay chào người - bạn - chiến - tranh

Mẹ già ơi hãy sẵn sàng quang gánh
Ta trở về xây dựng lại quê xưa
Thôi từ giã phố phường - chuỗi ngày đói rách
Ơi lúa, khoai đang ngóng đợi ta về

Kìa lũ cau trước sân lũ dừa trước ngõ
Nghe tin hòa bình cũng chợt hồi sinh
Chào chim sẻ, chim cu của ngày còn bé
Rủ nhau về sau năm tháng mù tăm

Trên cánh đồng hòa bình đầy dấu đạn
Mẹ và em chung sức cấy niềm tin
Và khi đó anh xin làm một thầy giáo trẻ
Dạy dỗ bầy em dưới mái trường làng

Mùa tháng ba ta sẽ ăn mừng cơm mới
Ơi lúa ba trăng vẫn mãi mãi ngọt bùi
Mẹ chắc lưỡi nhắc thằng Năm, thằng Sáu
Đứa mất bên kia đứa chết bên này

Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến
Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen
Phải không mẹ , phải không em , phải 
không bạn bè đứa còn , đứa mất
Phải không người, phải không hỡi chiến tranh ?

                           Nguyễn Văn Gia
                               Huế 1972
(Tháng ngày chiến tranh ác liệt, ta mơ về một ngày hòa bình xa xăm )
READ MORE - RỒI THẾ NÀO HÒA BÌNH CŨNG PHẢI ĐẾN - thơ Nguyễn Văn Gia

Tiểu phẩm THẦN ĐỐNG THƠ TỰ DO - Kha Tiệm Ly


  
Tác giả Kha Tiệm Ly


Lễ phát giải cuộc thi thơ tự do TÌM TÀI NĂNG MỚI được tổ chức hoành tráng tại một tỉnh của nước… “Lèo”, dưới sự có mặt đông đủ  của các khách mời danh dự là chánh quyền địa phương, các văn thi sĩ có tên tuổi có nhiều tác phẩm lớn (nhưng ít người đọc) cùng các đại gia có máu mặt tài trợ, vân vân

Bài đoạt giải nhất là bài THƠ TÉ GIẾNG. Theo sự đánh giá của Ban Giám Khảo, đây là một bài thơ vượt không gian, vượt thời gian, là bài thơ có ý tưởng cao vời vợi, cao đến tận mây xanh, mà những đầu óc tầm thường, thì không bao giờ thấu hiểu được! Theo quý vị ấy thì những vần thơ cao siêu thì không cần vần, không cần điệu, đọc lên càng khó hiều càng hay, cáng nói lên đẳng cấp…tửng tửng của tác giả!

Bài thơ đó bốn câu đầu như sau: (xin phép không chép hết mà phí phạm giấy mực).

“Một tràng hoa tặng bịnh trĩ
Điện thoại  chuyên rút hầm cầu
Yêu anh yếu sinh lý
Sữa mẹ thần kinh tọa…”

Ban Tổ Chức còn nói thêm, đây là một bài thơ rất xứng tầm (tất nhiên, đoạt giải nhứt mà lỵ) vì nó rất “thật” với đời thường, với lời thơ mộc mạc, bình dị nên nó đã ăn sâu vào tim gan phèo phổi của người đọc. Nói chung,  THƠ TÉ GIẾNG là bài thơ sáng giá  nhất trong  năm chục năm trở lại đây của đất, xin lỗi,  của nước “Lèo” (nước lèo không có đất!)

Khi  trao giải, người xem đều ngạc nhiên, cùng loạt “ồ” lên một tiếng, tột cùng kinh ngạc vì người chiếm giải nhứt lại là cậu bé mười tuổi! Tiếng vỗ tay muốn bể khán phòng cùng không biết bao nhiêu ánh đèn “nhá nhá” từ máy chụp hình của các phóng viên; nhiều người xem cũng rời ghế đến gần sân khấu cũng “nhá nhá” lia lịa, quyết không để lỡ cơ hội ghi ảnh thần đồng!

Sau lễ phát giải là cuộc phỏng vấn riêng giữa thần đồng (TĐ) và Ban Tổ Chức (BTC):

BTC: Em cho biết em làm thơ từ bao giờ , và bài THƠ TÉ GIẾNG được làm từ lúc nào?

TĐ: Em mới làm thơ từ khi BTC tổ chức cuộc thi, và bài THƠ TÉ GIẾNG là bài đầu tiên!

BTC (nhìn nhau): Ô! Rõ là thiên tài! (nhỏ giọng) Nói em đừng cười nhen! Bài thơ của em có ý tưởng rất cao siêu, vì cao siêu nên có nhiều chỗ khó hiểu, vả lại bố cục lộn xộn. Em có thể giải thích cho chúng tôi “mở rộng tầm nhìn” không?

TĐ (ngơ ngác): Giải thích vụ gì?

BTC::Thì… Thì… sao mà: ““Một tràng hoa” sao lại “tặng bịnh trĩ”;Điện thoai” sao lại “chuyên rút hầm cầu”; Sao mà  “Yêu anh yếu sinh lý”.  Ạ!...Ạ… chắc  là tình yêu cao thượng, không nhục dục, phải không? Hay! Nhưng sao lại “Sữa mẹ thần kinh tọa…” là gì chúng tôi khó hiểu quá?

TĐ (thản nhiên): Em biết chết liền!

BGK (ngạc nhiên): Không biết? Em giỡn chơi hoài! Không biết sao em làm được những vần thơ trác tuyệt như vậy chớ? Hè hè! Giấu nghề hoài!

TĐ (giải thích):  Thiệt mà! Em đâu có làm! Vầy nè: Em trải tờ báo ra, rồi em nhắm mắt, rồi em lấy cây viết, rồi em chỉ đại ngay chữ nào thì em viết chữ đó vào giấy, rồi em lại nhắm mắt, rồi em lấy cây viết chỉ đại vào chỗ khác nữa, nhằm chữ nào, em lại viết tiếp chữ đó vào tờ giấy.  Bảy tám chục lần như vậy, em được một bài thơ. Dễ òm hè!

BTC nghe xong, kẻ lau mồ hôi, người té xỉu!

                                                          Kha Tiệm Ly


READ MORE - Tiểu phẩm THẦN ĐỐNG THƠ TỰ DO - Kha Tiệm Ly