Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, November 14, 2013

MÙA XUÂN VẪN ĐUỔI PHÍA SAU LƯNG - chùm thơ Phan Minh Châu




MÙA XUÂN VẪN ĐUỔI PHÍA SAU LƯNG

Cứ thế mùa Xuân lại đến
Và cái tết cận kề đang đuổi phía sau lưng
Những sợi tóc trên đầu thêm tuổi lại rưng rưng
Và trái tim lại mở đường để đôi chân bước tiếp
Sáu mươi năm  đời ta chưa cạn kiệt
Khi áo cơm cơm áo vẫn đi cùng
Khi trăm thứ cứ chờn vờn trước măt
Và những đồng tiền lương thiện chảy thêm ra
Từ bến bờ gần đi đến …bến bờ xa
Bờ với bến cả đời ta chóng mặt
Đêm nằm ngũ nỗi đau chồng lên mắt
Bao lo toan đè xuống phiến thân gầy
Những vết hằn ta sờ soạng bàn tay
Sờ soạng đôi chân nhẹ hều trên mặt đất
Sờ soạng trái tim cả đời thinh lặng
Sờ lại cuộc đời mình gian khỗ đổ hai vai
SôngThu buồn nhìn chiếc lá Thu phai
Sông thu xám thấy đời thêm lặng lẽ
Trái xuân chin đời ta không rộ nữa
Hương Xuân qua ta vẫn cảm ơn đời
Vôc nước trà năm cũ ấm trên môi
Ta ngồi viết những vần thơ cạn kiệt
Ngoài song cửa Thu thổi hồn lên biễn
Thu ở trong lòng Ta… phố nhỏ lao xao
  


PHỐ NÚI TÌNH THÂN

Đứng trước biển mà mơ về phố núi
Ta buâng khuâng bên dãi lụa sông hồ
Đâu Dốc Võng đâu Hòn Ngang lẻ bạn
Tháng giêng vàng hanh buổi chợ chiều quê
Tháng giêng sót nhánh mai rừng nở muộn
Tiếng gà trưa gáy vỡ tuổi thơ buồn
Giàn mướp chin nồng hương phơi trước ngõ
Tiếng chim chiều kêu khãn giữa hoàng hôn
Dưới lũng vắng một làng xa ấm lửa
Chợ tàn đông nuối tiếc buổi xuân về
Chiều viễn xứ chạnh lòng thương tháng chạp
Buổi giao mùa sáng lại một màu quê
Trăng đã vỡ sao mùa thu vẫn thức
Trời lên xanh sap bấc vẫn đan chiều
Con dốc nhỏ ngày xưa gom ký ức
Để hương thề lên tím tuổi vừa yêu
Hen gặp lại đêm thơ tình năm cũ
Mượn màu trăng ta thắp nến tự tình
Chút nuối tiếc theo vừng trăng hạnh nguyện
Giữa xuân hồng thêm một chút bình yên.



MÀU QUÊ

Em xuống phố mang theo gió núi
Và hương thơm về nơi phía không mùa
Chùm lục bát mẹ ngồi tựa cửa
Ngẫm hương thầm nuối tiếc một chiều xưa
Và mùa xuân dài theo nỗi nhớ
Cụm lục bình tím thẫm bến sông
Trăng đổ bóng xuống đời hương vị lạ
Để chút tình lên tím tháng năm. 


Phan Minh Châu
3b Âu Cơ Nha Trang,  Khánh Hòa
xua_roidiem@yahoo.com

READ MORE - MÙA XUÂN VẪN ĐUỔI PHÍA SAU LƯNG - chùm thơ Phan Minh Châu

EM XƯA BÊN HỒ HOÀN KIẾM - thơ Huy Uyên




Buổi sáng sương thả chùng cuối thu
em gánh hàng hoa bán bên hồ Hoàn-kiếm
mỏng manh nắng
hoa chúm chím cười
hơi thở Ngọc-hà
hoa vỡ chi để tim người nhạt phai sắc tím .

Thương ai mà loài hoa muộn nở
hanh xao lòng với đám lá xanh non
Hà-nội ngọc-bích mắt ai ngoài phố
người ngang qua có lạnh trong hồn .

Bên đám cúc xanh Hà-nội không già
trên cao trời màu xanh biếc
người thở dài ngày tháng mau qua
ở lại cắn môi ai rừng chiều da-diết .

Lạnh căm bên hồ sương nến
nghe chừng như tiếng thở dài bên đường
thư cuối cùng gởi người không nhận
đêm đen thở yêu ma chập chùng .

Có thể yêu em
người đàn bà có chồng
nguôi quên giận dữ
mang bên lòng nỗi tuyệt vọng dịu êm
lặng lẽ một đời không nói .

Có thể tôi đăm mắt nhìn em ngoài phố chợ
những dây hoa-ti-gôn mĩm cười một mình
điếu thuốc trên tay cháy dỡ
quắt quay đời chìm theo bóng hoàng-hôn .

Tím trần tay em đám lá xanh
suối tóc mềm thả lòng hoang dại
để sắc hoa xa xót ai đành
chợ tan rồi chờ ai mà em đợi mãi .

Sương xám trắng choàng hàng cây trên phố
mùi hương-hoa ngủ muộn khuya đêm
vĩnh viễn xa người quay về chốn cũ
tôi ép vào tim héo sắc ti-gôn
(nơi rất xa biết tin em lấy chồng) .

Thôi em suốt đời hoa-tim-vỡ
lấp đi mộ tình quên bóng hình ai
trên đồi ngày xưa đứng chờ hoa nở
bỏ mặc cho thu đi mãi không về .

Rồi một ngày
người đàn bà quay lại bên tôi
tóc nhuộm sương môi thôi hồng tía
dưới giàn ti-gôn đọng tiếng thở dài
chia trên mi giọt hai hàng lệ .

Đêm đã đi rồi và tình trôi đã muộn
em xưa còn ra Hoàn-kiếm bán buôn hoa
giấc mơ đổ ngang trời tuyệt-vọng
ký-ức tôi thắt quặn tái tê chờ
(dỗ lòng dấu kín một giấc mơ)


Huy Uyên
READ MORE - EM XƯA BÊN HỒ HOÀN KIẾM - thơ Huy Uyên

VÔ ĐỀ - thơ Hoàng Đình Chiến




Chừng như trong cõi đời tôi
Vui chênh vênh nửa, nửa chơi vơi buồn
 Mỏng tang một cánh chuồn chuồn
Lang thang gió cuốn mây cuồn cuộn trôi
Đã đành nắng đẫm đơn côi
Đã đành mưa ướt đỉnh đồi mộng mơ
Ngày trừ, cộng cái vu vơ
Đêm nhân chia cái ngẩn ngơ một mình
Chiều tàn lại gặp bình minh
Giữa không gian thấy bóng mình bay bay
Thu tàn ngậm cái đắng cay
Heo may thổi rụng heo may ngỡ ngàng
Đông dài nhấm nháp lỡ làng
Nửa chăn, nửa gối bẽ bàng. Bởi ai? 
Hạ vàng nặng gánh hai vai
Mưa rơi sợi ngắn sợi dài ly hương
Xuân thì chạm mặt vấn vương
Độc hành độc ẩm chán chường dở dang
Đời tan một giấc mộng vàng
Mà ta say đắm mơ màng mãi thôi.

                             HOÀNG ĐÌNH CHIẾN
                                  
READ MORE - VÔ ĐỀ - thơ Hoàng Đình Chiến

Ra mắt “Gia tài tuổi 20” phiên bản sách nói - Hà Hương





Chắc hẳn độc giả không còn xa lạ gì với nhà văn trẻ Lưu Quang Minh cùng rất nhiều truyện ngắn đầy ý nghĩa từng được đăng trên nhiều tờ báo. Lưu Quang Minh đã sở hữu trong tay một “gia tài” đáng mơ ước với 3 tập truyện ngắn: “Gia tài tuổi 20” (2010), “Những tâm hồn đồng điệu”, “Thực hay mơ” (2013) và chuẩn bị xuất bản một tập truyện ngắn ẩm thực “Sài Gòn ẩm thực của tôi”.

Những câu chuyện của Lưu Quang Minh sẽ dễ dàng đến gần hơn với các độc giả yêu quý anh thông qua phiên bản sách nói. Lần đầu tiên, tập truyện “Gia tài tuổi 20” với 20 truyện ngắn phiên bản sách nói do thư viện sách nói ODIGO xây dựng, với các giọng đọc truyền cảm, ấm áp, nhẹ nhàng sẽ đưa các câu chuyện thấm sâu, lan tỏa vào tâm hồn mỗi người. Đây cũng chính là một kênh kết nối thân thiện, gần gũi, hiện đại kéo gần khoảng cách giữa các nhà văn và người hâm mộ, bạn đọc các thế hệ. Chỉ cần có trong tay dòng máy điện thoại thông minh (smartphone) chạy trên nền Android, bật kết nối Internet (Wifi hoặc 3G), sau đó vào Google Play tải ứng dụng “Gia tài tuổi 20” về điện thoại, nghe các câu chuyện dưới dạng audio. Cách thức thanh toán khi nghe truyện rất đơn giản, chỉ cần click vào câu chuyện trên app, trên màn hình sẽ hiển thị “Bạn có đồng ý tải câu chuyện về điện thoại với phí 3000 đồng/sách nói”. Bấm vào đó, hiện ra tin nhắn soạn sẵn nội dung. Bạn nhấn nút send (gửi), hệ thống tự động gửi tin nhắn thanh toán mua sách đến 8309. Quay trở lại ứng dụng, bạn đã tải được câu chuyện và bắt đầu nghe cuốn sách vừa thanh toán.

Những truyện ngắn của tác giả là những câu chuyện đời thường giản dị, được chuyển tải một cách nhẹ nhàng, dung dị, sâu lắng, để rồi cứ khiến người đọc phải dừng lại ngẫm ngợi, nghĩ suy. Mỗi tập truyện ngắn của anh đều có ca khúc chủ đề do chính anh sáng tác và biểu diễn, với mong muốn tạo nên sự giao thoa, hòa quyện giữa văn chương và âm nhạc. Các ca khúc của anh là sự chuyển hóa bằng thanh âm, bằng nốt nhạc, là cách kể chuyện mới mẻ: kể chuyện bằng âm nhạc. Một lần nữa, thông qua phiên bản âm nhạc, những triết lý đời thường càng dễ dàng thấm sâu và lan tỏa vào tâm hồn người đọc, người nghe. Với ứng dụng  “Gia tài tuổi 20”, người hâm mộ vừa được thưởng thức truyện vừa được cảm nhận âm nhạc với các ca khúc mang tên các câu chuyện trong tập sách như: “Bắp xào ơi”, “Gia tài tuổi 20”, “Tiếng lanh canh và những ô cửa sổ sáng đèn”. “Đàn ông đi chợ”, “Con mèo đen”. Chỉ cần mở điện thoại lên, các bạn có thể lắng nghe ngay câu chuyện mình yêu thích. Hy vọng ứng dụng sách nói “Gia tài tuổi 20” của tác giả Lưu Quang Minh sẽ đánh dấu một bước chân trên con đường đưa các tác phẩm văn chương tới gần với độc giả, thính giả một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất, mọi nơi mọi lúc.


HƯỚNG DẪN TẢI ỨNG DỤNG (APP)  “GIA TÀI TUỔI 20”

Tìm kiếm ứng dụng kho Google Play
(xem hướng dẫn chi tiết trong tệp gắn kèm)
Gõ liên kết sau vào trình duyệt trên điện thoại của bạn: http://goo.gl/G7Dp5Q
(Lưu ý: gõ chính xác cả ký tự viết HOA và viết thường)
Sau đó các bạn đã có ngay ứng dụng (app) trên điện thoại và có thể nghe, tải các truyện ngắn về điện thoại của mình để thưởng thức.

Chúc các bạn có những phút giây thư giãn thú vị cùng thư viện sách nói ODIGO.

***
Nguyên văn từ:  lqmproduction@gmail.com

READ MORE - Ra mắt “Gia tài tuổi 20” phiên bản sách nói - Hà Hương

NHỚ ƠN THẦY, CÔ - Chùm thơ Tuyền Linh



Nhớ ơn Thầy, Cô

Mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam
Con xin dâng tặng trăm ngàn đóa hoa
Thầy, Cô thay mặt Mẹ, Cha
Dạy con chữ nghĩa nết na ở đời
Chúng con hạt chữ đong đầy
Là nhờ công sức Cô, Thầy truyền ban
Cô, Thầy là chuyến đò ngang
Chở bao thế hệ lên đàng lập thân
Trò này, trò nọ sang sông
Kẻ quên người nhớ Thầy không chút buồn
Dù đời nắng gội mưa tuôn
Vững tay chèo chống, tâm luôn tĩnh bền
Thầy, Cô thắp lửa vào hồn
Cho con kiến thức vun trồng tương lai
Ơn này chẳng thể nào phai
Chúng con mang suốt đường dài lập thân
Bao nhiêu thế hệ xa gần
Ươm từ viên phấn bảng đen của Thầy
Chúng con trong phút này đây
Làm sao quên được công dày Thầy, Cô
Thầy, Cô là những ánh sao
Soi đường dẫn lối đường vào ngày sau
Lời Cô mật ngọt ca dao
Lời Thầy định hướng lối nào con đi
Lần trang ký ức khắc ghi
Chúng con nhớ lại những gì Thầy khuyên
Lời Thầy còn mới tinh nguyên
Giọng Cô nhỏ nhẹ chẳng quên tí nào
Chừ đây hơn nửa đời người
Còn nghe bụi phấn rơi rơi tóc Thầy
Bảng đen phấn trắng còn đây
Tiếng ê a nhỏ bám đầy áo Cô
Lòng con cảm thấy xôn xao
Ước chi sống lại ngày nào tuổi thơ !
Bây giờ cho đến bao giờ
Làm sao tìm lại giấc mơ Thiên Đàng ?




Nhớ Thầy

Có lẽ bây giờ Thầy đã quên con
Bởi thời gian dịch xê khiến tuổi trời chìm nổi
Học trò quá đông, Thầy làm sao nhớ xuể
Qua sông rồi, mấy ai nhớ đến bến đò ?

Riêng con đây, luôn vẫn nhớ đến Thầy
Với mái tóc hoa râm hòa cùng bụi phấn
Vẫn tròng kính trắng, sáng ngời trên bục giảng
Và giọng Thầy trầm ấm thân quen
Sóng gió cuộc đời đọng lại những nếp nhăn
Con nhìn trán Thầy mà lòng mình se lại
Những phấn trắng bảng đen, những hy sinh thầm lặng
Thầy vun trồng bao thế hệ mai sau
Thầy để lại cho con những nghĩa nặng tình sâu
Công lao ấy bao giờ con quên được ?
Dẫu cơm áo gạo tiền bắt con xuôi ngược
Lòng vẫn luôn canh cánh nghĩa ơn Thầy
Và…hôm nay trong giây phút nầy đây
Dòng ký ức quay về trong tâm tưởng
Ngày mới đến Trường, con chưa định hướng
Thầy dìu dắt con từng bước vào đời
Những bảo ban của Thầy, con nhớ quá Thầy ơi !
Ân truyền thụ minh tâm khắc trí
Thuở học trò chẳng bao giờ suy nghĩ
Mầm tương lai từ hạt giống Thầy ươm
Đến bây giờ mới thấy nghĩa sâu thâm
Ơn Thầy, Cô chẳng bao giờ cùng tận
Nhờ vào ai mà công thành danh toại
Nhờ vào ai con định hướng được đường đời
Chỉ có Thầy, và chỉ có Thầy thôi
Thầy gieo hạt mà chúng con hái trái
Ôi, công lao Thầy to như trời bể
Lòng chúng con hạn hẹp tựa ao tù
Biết bao năm Thầy lèo lái con đò
Khách sang sông, có bao giờ nhớ bến ?
Còn gì phũ phàng trên đời nầy hơn thế
Con xót xa khi nghĩ đến Thầy ơi !
Mấy chục năm rồi, không biết Thầy còn vui
Như khi dìu dắt chúng con dưới mái Trường xưa cũ ?
Ngày xa Thầy con vẫn luôn tự nhủ
Phải có ngày về thăm Thầy cũ Trường xưa
Vậy mà đời luôn sóng gió đẩy đưa
Chưa có dịp về thăm Thầy thăm lớp
Kính thưa Thầy, điều nầy con ghi nhớ
Để khi về thăm, tạ lỗi cùng Thầy
Trái tim con vẫn gõ nhịp mãi đây
Hình bóng Thầy chẳng bao giờ phai nhạt



Thầy ơi!

Con về chốn cũ viếng thăm Thầy
Cảnh cũ người xưa lạnh nước mây
Bóng dáng Thầy còn in trí nhớ
Hình hài yêu kính đã lung lay
Trăm năm chẳng được ngày tao ngộ
Một nỗi buồn thương đến bủa vây
Ân nghĩa của Thầy con chữa trả
Thầy ơi, sao sớm vội về Tây !

Tuyền Linh
tuyenlinh_nguyenthi@yahoo.com.vn


READ MORE - NHỚ ƠN THẦY, CÔ - Chùm thơ Tuyền Linh

CÔ GIÁO MẦM NON - Linh Thy



Em đây cô giáo mầm non
Ríu ra, ríu rít lắm con – chưa chồng!
Yêu sao má lúm, môi hồng
Ngây thơ trong trắng như bông cải vàng

Mắt nai nhìn cô chứa chan
Vượt bao gian khó sẵn sàng hy sinh
Tâm con như ánh bình minh
Thiết tha - tha thiết nghĩa tình mẹ con

Dẫu cho vóc hạc héo mòn
Bên con em vẫn lưng thon ngày nào…
Cùng con em ngắm trăng cao
Ru cho giấc điệp chiêm bao lạ kỳ

Thế giới kia có những gì???
Cô - trò luôn mãi thầm thì bên nhau
Chắt chiu dạy dỗ mong sao!
Một mai con lớn … tự hào tiền nhân.

Kỷ niệm ngày NGVN 20/11/2013
Linh Thy
Bến Tre
Linhthy0305@yahoo.com.vn
01262890760


READ MORE - CÔ GIÁO MẦM NON - Linh Thy

LÒNG TỬ BI VÀ TÍNH BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO - Trương Nguyễn




Lòng từ bi của Phật Giáo:
          
Từ bi là sắc thái của giáo lý Phật giáo, phổ biến sâu rộng đến độ quần chúng bình dân Việt Nam qua nhiều thế kỷ đã gọi rất thân mật cửa chùa là “cửa từ bi”.  Bản kinh nhỏ “Kinh từ bi” thuộc kinh tập (Sutta – Nipata) tiểu bộ kinh ghi lời dạy của đức Phật là: “Mong rằng tất cả chúng sanh yếu hay mạnh, cao, vừa hay thấp, lớn hay bé, hữu hình hay vô hình, đã sanh hay sẽ sanh đều được hạnh phúc”.  Để trải nghiệm lòng từ bi chân thực, phải có sự phát huy cảm giác thân mật với người khác, kết hợp với ý thức trách nhiệm đối với lợi lộc của họ. Lòng từ bi chân chính phát triển khi chính chúng ta có ước nguyện đem sự an lạc đến và giải trừ khổ đau cho người khác và nhận thức rằng mọi người đều có quyền theo đuổi mục tiêu này.
            
Lòng từ bi thúc giục chúng ta tiếp xúc với tất cả các loài hữu tình, gồm cả giới được gọi là kẻ thù, những người gây rối và não hại chúng ta, tất cả những gì họ gây ra cho mình, nếu chúng ta nghĩ rằng mọi chúng sinh đều mong muốn mình được an vui và giải thoát, thì nên phát triển lòng từ bi đến phía họ. Ý thức về lòng từ bi thường bị hạn cuộc và thiên vị. Chúng ta chỉ ban rãi tình thương đến gia đình, bạn bè, hoặc chỉ thương yêu những người thương yêu mình mà thôi. Đó không phải là lòng từ bi chân chính, lòng từ bi chân thực là phổ quát cùng khắp mà không hề phân biệt. Nó được đồng hành bởi cảm giác trách nhiệm .
              
Đối với người Phật tử, muốn trưởng dưỡng lòng từ bi, ngoài những lúc công phu thiền quán, phải nỗ lực nghĩ đến tha nhân nhiều hơn, luôn luôn chia sẻ những nỗi khổ đau bất hạnh của kiếp người và cho họ biết rằng cuộc sống vốn khổ đau và mọi sự vật đều vô thường, giúp cho họ biết được nguồn gốc của khổ đau mà đoạn diệt. Như bài dạy đầu tiên mà đức Phật đã thuyết giảng cho 5 anh em Kiều Trần Như trong vườn Nai Lộc Uyển là “Tứ Diệu Đế”.
          
Lòng từ bi là tình thương vượt lên trên tất cả mọi tình thương hẹp hòi của thế gian, không bến bờ, không giới hạn; vượt lên trên mọi sự ràng buộc của ý niệm.
          
Đối với Phật giáo, tất cả chúng sanh đều là bạn hữu và mọi nơi mọi chốn của thế gian đều là thân bằng quyến thuộc. Tình thương ấy tựa như ánh sáng mặt trời bao trùm cả thế gian vậy. Chúng ta đang sống giữa một thời đại mà quyền lực và danh vọng đang khống chế con người, mọi tham vọng của nhân loại đang bùng vỡ đến cùng cực. Chúng ta hãy nhìn lại quá khứ và hiện tại. Những cuộc chiến tranh tương tàn, bi thảm đang hủy hoại dần dần xương thịt của anh em chúng ta, bởi vậy, từ bi là chất liệu cần thiết cho cuộc đời. Chỉ có vận dụng lòng từ bi mới dập tắt được những hận thù đang ngùn ngụt cháy giữa chúng ta. Lời đức Phật dạy: “Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù đó là định luật”.
            
Nói như vậy nhưng không cho rằng loài người có bản tính hung hãn, cho dù sự biểu lộ khá phổ biến của tình trạng chống đối và thù hận nhau trên thế giới.

Bản chất con người vốn yêu thương và hòa dịu. Ngay từ thuở mới sinh ra, chúng ta đã cần sự yêu thương và trìu mến. Đây là một sự thật mà không ai có thể cưỡng cãi. Cho đến lúc từ giả cõi đời, không có tình thương thì chúng ta không thể sống còn. Loài người là một sinh vật có tính xã hội cao và mối tương quan lẫn nhau là tính chất cơ bản của đời sống hợp quần. Nếu chúng ta dừng lại suy nghĩ và so sánh vô số hành xử từ ái mà mọi người khắp nơi trên trái đất đang nhắm đến đời sống thiêng liêng cao thượng thì hận thù, đố kỵ, ganh ghét quả là rất ít, vậy lòng từ bi thì bất cứ ở quốc gia nào cũng phát huy được.
           
Tính bình đẳng của đạo Phật:
               
Ở đây chúng tôi không chép lại toàn văn của kinh “ASSA LAY ANA” trung bộ 2 ghi lại cuộc đối thoại giữa vị giáo chủ Bà La Môn với đức Cổ Đàm. Về các giai cấp xã hội và tính bình đẳng.
               
Muốn nói đến tính bình đẳng, điều đầu tiên phải đề cập đến cuộc đời Đức Phật. Ngay trong buổi hoàng hôn- tăm tối của nhân loại, Ngài sinh ra trong một dòng dõi vua chúa của xứ CA TỲ LA VỆ phía nam nước NÊ PAL. Như một tiếng chuông tiên phong xóa tan bóng tối trầm luân- khổ ải của chúng sanh bằng một câu châm ngôn vĩ đại “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn”.  Sự kiện ra đời của ngài là vô tiền khoáng hậu và lời tuyên bố hùng hồn mở đầu cho một trang sử mới để hình thành một nền tảng của hệ thống giáo lý mà trong đó tính bình đẳng được thể hiện trọn vẹn về cả hai phương diện: Lý thuyết và thực tiễn.
            
Ngài Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ ngôi vị đế vương, đoạn diệt tất cả sự vinh hoa, phú quý, vương quyền- quý tộc, vợ đẹp, con ngoan, khước từ mọi đặc ân cao tột dành cho giai cấp vua chúa, túi không, tâm không với lớp áo hoại sắc một thân, một mình, đi tìm sự giác ngộ để cứu vớt chúng sanh. Cũng chính Đức Phật, một con người đơn sơ, giản dị đã chiến thắng ngoại ma, nội ma, vượt lên trên tất cả để thành đạo. Sự kiện chung quanh ngài đã thể hiện tính bình đẳng tuyệt vời trong suốt 49 năm du thuyết. Ngài đã hóa độ cho biết bao nhiêu chúng sanh, từ hàng cùng đinh mạt hạng cho đến các vương tôn quý tộc bằng câu châm ngôn “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.
               
Ngài đã soi xét và quán chiếu trong mỗi một chúng sanh dù khác nhau về hình thức, sự hiểu biết, nhưng Phật tánh thì ngang nhau, bởi vậy tính bình đẳng được thể hiện.
               
Đức Phật luôn luôn thương yêu, khuyến giáo mọi người hãy nhận thức được chân giá trị cuộc sống. Tính bình đẳng không những đối với con người, ngay cả các loài vật, tất cả các sinh vật hiện diện trong cuộc đời này đều mang một tâm lý rất chung là tham sống và sợ chết. Vậy sao chúng ta cướp đi mạng sống của kẻ khác ?.
               
Trong bước đường du hóa của Ngài “Ngài từng bế một chú cừu non lạc bầy tìm về với mẹ” và “Ngài cũng đã từng dạy cho một số người cuồng sát, mê tính đã hiến dâng những con thú sống cho các đấng thần linh huyễn hoặc. Cứu vớt những mạng sống khỏi cái chết hỏa thiêu, chôn sống, chỉ vì một niềm tin mù quáng”,
              

Theo Phật giáo mọi sai biệt trên trái đất này đều tùy thuộc vào nhân duyên mà sinh khởi, vậy sự khác nhau về địa vị, hoàn cảnh giàu sang hay nghèo hèn, ngu dốt hay thông minh đều do hành vi tạo tác thành nghiệp lực để rồi mãi mãi quay trong luân hồi sinh tử nhưng quyền sống thì ngang nhau, Phật tính ngang nhau.
READ MORE - LÒNG TỬ BI VÀ TÍNH BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO - Trương Nguyễn

ĐẠO PHẬT TRONG TÂY DU KÝ (Tiếp theo kỳ trước) - Lê Hoàng


                                  
Hiện nay những bộ phim Tân Tây Du Ký đang được chiếu trên các kinh của người Việt Nam ở Hoa Kỳ. Những bộ phim này gồm có, bản của đạo diễn Trương Kỳ Trung (2010) và Châu Tinh Trì (2011).

Tôi cũng không biết họ cho thực hiện lại bộ phim này để làm gì ? Thực tế trong phim chỉ thay đổi một vài bối cảnh khác đi một chút, tài tử hoá trang thì tuy có khác, nhưng những nét chính thì không thể bỏ đi được. Lời đối thoại tuy có thay đổi, nhưng chung quy thì cũng một ý như nhau?

Nói về thầy trò Đường Tăng vượt qua bao khổ ải để một ngày đến được Thiên Trúc gặp Phật Tổ xin thỉnh kinh  là một quá trình lâu dài. Thầy trò Đường Tăng phải vưọt qua 81 khổ nạn, lúc đó mới được diện kiến Phật Tổ và vui mừng hoàn thành tâm nguyện của vua Đường giao phó.

Đi từ kinh đô Tràng An, nước Đại Đường, đến chùa Lôi Âm nước Thiên Trúc, thầy trò Đường Tăng đã phải trải qua tám mươi mốt nạn và vưọt qua mười vạn tám ngàn dặm (108.000 =  9 x 12.000). Ý cho rằng quá trình tu luyện siêu hoá từ phàm nên thánh, họ phải qua những công đoạn bắt buộc.

Một trăm lẻ tám ngàn dặm là bội số cũa số 9. Cây tích trượng có 9 vòng. Cây đinh ba của bát Giới có 9 răng. Xâu sọ người cũa Sa Tăng có 9 cái. Xâu chuổi lớn của các nhà sư thông thường cũng có một trăm lẻ tám hột, hoặc 54 hột hay 27 hột  v.v.

Giới đạo sỹ cho dù theo môn phái nội đơn (thiền) hay ngoại đơn, cũng phải theo quá trình 9 lần khổ luyện này mà thuật ngữ đạo Lão gọi là “ Cửu chuyển công thành”.  Cao Đài Giáo cũng vậy. Cửu cửu là giai đoạn tịnh thiền căn bản, hành giã bước vào sơ thiền đều phải qua, mới có thể chuyển lên những bực cao hơn.

Cao Đài Giáo có câu rằng:

      “ Cửu cửu công phu chẳng chí bền
      “ Con đường tu luyện khó lòng nên….”
 
Đạo Phật và Cao Đài giáo hành giã đều không quan trọng hoá việc cầu siêu bốn mươi chin ngày (thất thất vong) lẻ vì hành giã phải tự giải thoát cho chính mình bằng chứng “NGỘ” .Cầu siêu chỉ để cho những ai đang còn trong rang buộc luân hồi .
    
Con số 9 là một tượng số khá phổ biến trong thiền của Phật Giáo (nói chung).
    
Tại sao Phật, Lão, Cao Đài  đều chú trọng con số 9?
 
Trong Tây Du Ký Đường Tăng muốn thành tựu ý nguyện phải trải qua 9 lần 9 (9 x 9 = 81) tai nạn.
 
Số 9 là số thành và là số dương lớn nhất (lão dương).Tu luyện là chuyển từ âm trược (phàm phu) trở thành dương thanh (Tiên, Phật). Số 9 là số thuần dương, cho nên số 9 gắn liền với thiền đạo vậy.
 
Lò Bát Quái trong Tây Du Ký: Lò Bát quái trên cung Đâu Suất cũa Thái Thượng Lão Quân (Lão giáo) đã “nấu” Tề thiên đại thánh. Lò này khác với  những bát quái mà chúng ta thường thấy có một vài nhà hay đuổi tà ma treo

Vòng bát quái trước nhà. Bát quái này gồm có tám quẻ được xếp đặt như sau:  Càn, Cấn, Khảm, Chấn, Khôn, Đoài, Ly, Tốn (thuận theo chiều kim đồng hồ.
   
Thời vua Phục Hy đã có sơ đồ Thiên tiên bái quái (Tiên thiên là lúc mới có trời, đất). Phục Hy cũng có tám quẻ nhưng đi ngược kim đồng hồ “theo chiều dương gồm có: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.
 
Nguyên thủy trời đất thuần dương. Lòng người là tâm Phật nên quẻ của Phục Hy biểu tượng Càn ở trên (Dương) quẻ Khôn (âm) ở dưới, chính vị hoà hài âm dương.

Lò của Thái Thượng Lão Quân không kết hợp theo tiên thiên bát quái của Phục Hy mà lò này đúc theo hậu thiên bát quái của Văn Vương sau này. Văn Vương xếp theo quẻ âm, con người biến chất nhiều rồi vậy.

Lò bát quái là một ẩn ngữ, nó nói lên sự tu luyện của con người. Lý, lò đặt ở cung Đâu Suất, nhưng suy rõ ẩn ý thì lò chính đang đặt trong thân xác con người, đặt ở chỗ mà đạo gia gọi là đơn điền, là phương tốn….
  
Lò xử dụng lửa gì để đốt? Đó là thứ lửa “Văn,vũ”.  Hiểu đơn sơ: Văn ám chỉ kinh điển, phải học kinh, trì chú để trợ lực.Vũ (võ) ám chỉ phép hành công tọa thiền, thêm một số công phu (ngoại công phu) để hỗ trợ như : Bát đoạn cầm,Thập nhị cầm đoạn v.v…,  cho nên, người tu thiền cũng phải cần luôn luôn luyện tập (văn ôn võ luyện). Lửa ở đây là lửa trong nội thân, để luyện hỏa hầu khi hành giã có lúc vận công nhu nhuyển giống như đốt lửa riu riu, nhưng thấm dần vào trong tâm thức của hành giã vậy.

Nói về Tề Thiên bị đốt bốn mươi chin ngày trong lò bát quái. Nhưng Tề Thiên núp vào cung Tốn (gió) nên an toàn.
  
Điều này cho rằng hành giã khởi công phu phải dựa vào hơi thở, vô ra cho đúng cách. Điều tức, điều tâm đúng phương pháp vậy.
  
Chúng ta còn nhớ đoạn Phật tổ và Tề thiên thách đấu. Tôn Ngộ Không tưởng rằng với khả năng của mình để vượt qua ngũ hành năm ngọn đó thì quá ư là dễ dàng. Nhưng, không phải thế, khi biết mình đã thua toan xù bỏ chạy trốn, vội vàng tung người bay vút lên mây. Nhưng không kịp với ngũ hành sơn năm ngọn (Theo thuật bói toán của bàn tay trong năm ngón tay và bàn tay là cả vận mệnh của một con người). Nên truyện mượn bàn tay để tương ứng với núi Ngũ hành sơn để nhốt Tề Thiên vậy.
 
Phật Tổ lúc nhốt Tề Thiên xong, đem lòng từ tâm mà ra lệnh cho Thổ Địa, “Nếu khi nào Tề Thiên đói, khát thì đem sắt và nước rỉ đồng cho ăn và uống?

Sắt và đồng thì làm sao mà ăn. Thực chất đây cũng chỉ là một ẩn dụ mà thôi.
  
Ngọn lửa Hồng hài Nhi:

Chuyện Tề Thiên đánh nhau với Hồng Hài Nhi quả là trớ trêu! Từ hồi thứ bốn mươi qua tới hồi bốn mốt, bốn hai mới xong chuyện này.

Lai lịch HHN cũng đơn giãn: “Con trai Ngưu Ma Vương. Bà La Sát nuôi nó. (Việt Nam ở miền Trung và miền Bắc trước đây thường hay có những lễ cúng bà La Sát. Thường có những ông thấy pháp dựng những cây đa bằng giấy, trên cây đa có rất nhiều chiếc nôi trẻ con nằm. Tượng trưng cho nơi để bà La Sát nuôi con nuôi (Ăn thịt con nít). Mỗi lần nhà ai có con chết bất đắc kỳ tử mà còn nhỏ tuổi, thường hay nhờ thầy pháp cúng bà La Sát …)
  
Hồng Hài Nhi trước đó đã tu tới ba trăm năm ở Hõa Diệm sơn (hiệu là Thánh Anh đại vương). Hai nhân vật này còn quan hệ chú cháu khi T.N.K (Hầu Vương) kết nghĩa anh em với Ngưu Ma Vương)
  
Hồng H. Nhi sở trường về dụng hỏa. Năm chiếc xe lửa của HHN cũng áp dụng theo phương thức ngũ hành … nên lửa của HHN khác lạ thường, Tề Thiên không thể phá nổi. Ngay cả khi Tề Thiên mời cả bốn vị Long vương đến làm mưa gió cũng không dập tắt được lửa của HHN.
 
Theo Phật, trên đời có 3 thứ độc: Tham, Sân, Si. Món thứ hai Sân giận rất độc hại, giận là nóng nảy (lửa). Lữa HHN hiểu theo là lửa NÓNG GIẬN. Dụng ý của Ngô Thừa Ân dựng HHN để biểu hiện sự nóng giận của con người đưa đến nhiều hậu quả khó lường. Theo Phật giáo, Lão giáo hay cao Đài giáo thì công phu hàm dưỡng giống nhau gọi là Thiền hay Tịnh cũng đồng nghĩa như nhau. Cho nên, muốn trừ sự tức giận thì phải thiền định. Trong truyện phải nhờ tới Quan Thế âm Bồ tát. Trong kinh Pháp Hoa phẩm Phổ môn dạy rằng muốn trừ tam độc: tham, sân, si phải cần cẩu đến oai lực của Quan Thế Âm.
   
Từ bỏ lối văn kinh điển nghiêm túc Ngô Thừa Ân xử dụng phương pháp ẩn dụ để kể chuyện Tam Tạng cùng thầy trò đi thỉnh kinh, đánh đá, phép tắc biến hoá linh động với yêu quái ma vương. Ngô Thừa Ân quả là một “thuyết gia” bất hủ trong làng văn ngụ ngôn vậy.  Ông thật thấu đáo từng ẩn ngữ, điển tích, tinh tế, để “biến hoá” hợp lý cho câu chuyện càng thêm sung tích và linh hoạt. Kết hợp đều đặn qua nhiều chương liên kết.
 
Chúng ta xem phim hay đọc truyện Tây Du Ký bất cứ lúc nào cũng say mê như đám trẻ cho dù ở đâu. Nếu là trẻ em Châu Á nói chung, Việt Nam và Trung Quốc nói riêng, đều rất thích xem Tây Du Ký.

(Còn tiếp)
                                   

Tham khảo thầy Huệ Khải.  

Lê Hoàng                                             

                                                                                  
READ MORE - ĐẠO PHẬT TRONG TÂY DU KÝ (Tiếp theo kỳ trước) - Lê Hoàng

Tuesday, November 12, 2013

CHUYỆN ĐỜI THẦY TÔI - Hoàng Đằng

Bài viết nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11

Thầy Dương Đình Trọng cùng một số học trò trường Bán Công Đông Hà cũ
 
(Thầy Trọng là người thứ hai hàng trước tính từ trái qua phải)



Lạy Trời, lạy Đất, xin Trời Đất cho thầy sớm nhắm mắt. Nhìn thầy chưa tắt thở thêm phút nào, tôi đau khổ thêm phút ấy.

Thú thật, tôi tàn nhẫn cầu nguyện như thế khi ngồi bên thầy tôi đang hấp hối.

Tại trường trung học bán công Đông Hà, qua năm học 1959 – 1960, khóa tôi – khóa đầu tiên – lên đệ tứ (lớp 9), thiếu giáo sư dạy môn toán. Thầy Dương Đình Trọng, người Thừa Thiên, được mời ra. Thầy trẻ lắm, tuổi tác chỉ ngang mấy học sinh lớn. Nhưng chúng tôi rất kính phục thầy vì thầy thông minh, chịu khó, biết phương pháp giảng bài dễ hiểu, chúng tôi học mỗi ngày mỗi tiến bộ. Xin mở ngoặc - nói trạng một chút - để trưng bằng cớ: sau khi đỗ kỳ thi trung học đệ nhất cấp, chúng tôi lên bậc học đệ nhị cấp, đa số chọn ban chuyên toán – ban B.

Thầy mến học trò Đông Hà, mến đất Đông Hà rồi yêu người Đông Hà. Vài năm sau đó, thầy lập gia đình với cô Phù thị Lan, ái nữ của một phố thuốc bắc trong chợ Đông Hà gần bờ sông Hiếu. Cô Phù thị Lan là hoa khôi “phố bụi gió lào”, nét mặt, dáng người, bước đi như người trong tranh thủy mặc. Thầy muốn chọn Đông Hà làm quê hương thứ hai.

Rồi chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt, không cho phép ai được an cư lạc nghiệp. Cuộc sống đẩy đưa thầy từ công việc này đến công việc khác, từ nhiệm sở này đến nhiệm sở khác. Thầy chuyển ra trường trung học Gio Linh, rồi động viên vào quân đội. Nhờ vốn toán học, thầy được chọn vào ngành pháo binh. Thầy sắp được đi tu nghiệp pháo binh ở nước ngoài thì, vì nhu cầu giáo dục, chính phủ miền Nam đưa ra chương trình biệt phái giáo chức về nhiệm sở cũ, thầy xin miễn đi du học để trở về nghề đi dạy.

Năm 1967, vùng Gio Linh bị bạch hóa để lập hàng rào điện tử Mac Namara, trường Gio Linh giải tán, thầy và trò trường này sáp nhập vào trường trung học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ Quảng Trị. Rời quân ngũ, thầy về trường Nguyễn Hoàng. Ở đây, với sự tận tụy trong nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn vững vàng và sự trong sáng trong giao tiếp, thầy được đồng nghiệp nể vì, học trò yêu kính.

Năm 1973, sở học chánh tỉnh Quảng Trị thành lập, nhờ uy tín, thầy được cử giữ chức chủ sự phòng học vụ.

Qua đầu năm 1974, thầy từ chức, cùng gia đình vào Bình Tuy theo chương trình khẩn hoang lập ấp. Thầy lập cư ở khu Láng Gòn (nay là xã Tân Hà). Sở học chánh Bình Tuy lại cử thầy giữ chức chủ sự phòng học vụ ở sở này. Ngoài công việc văn phòng, thầy tranh thủ thời gian, nhận lời mời, đến dạy, để kiếm thêm thu nhập ở các trường trung học tư thục Thanh Linh (đặt ở khu khẩn hoang lập ấp Động Đền dành cho dân Cam Lộ và Gio Linh cũ), tư thục Đắc Lộ (đặt ở khu khẩn hoang lập ấp Láng Gòn dành cho dân Đông Hà cũ và các “quận” khác), công lập Nguyễn Phúc Chu (mới mở ở khu Láng Gòn dành cho học sinh có trúng thi tuyển ở khu Láng Gòn và khu Bình Ngãi – khu khẩn hoang lập ấp của dân Bình Định và Quảng Ngãi).

Đất nước thống nhất. Có lẽ do cái chức chủ sự phòng học vụ cộng thêm cái nghiệp lính động viên trong thời chiến, thầy phải đi “học tập cải tạo tập trung”. Thầy bị bắt cùng ngày với tôi. Trưa ngày 05/7/1975, tôi mới bị áp giải tới ngồi ở “Ủy Ban Quân Quản” khu khẩn hoang lập ấp Láng Gòn (đặt ở cơ sở tạm trường trung học Nguyễn Phúc Chu) được khoảng 15 phút thì thấy Thầy đến, tay xách túi đựng quần áo, vẻ mặt ngơ ngác, sợ sệt, lo âu.

Trong thời gian “học tập cải tạo”, thầy ở cùng trại với tôi, và nhiều lúc còn cùng buồng nữa. Đầu tiên, chúng tôi ở trại tạm giam cũ do chính quyền Sài Gòn dựng lên ở thị trấn La Gi để giam tội phạm của chế độ; sau một tháng, chúng tôi được chuyển lên trại cải tạo ở vùng huyện Tánh Linh, một vùng rừng núi bạt ngàn, dân cư thưa thớt. Trại này nguyên là một trường tiểu học. Không biết lúc đó học trò đi đâu mà người ta cải biến trường thành trại cải tạo. Vùng Tánh Linh nguyên là rừng và rừng; trong những năm cuối thập kỷ 1950 và đầu thập kỷ 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm lập khu dinh điền để giãn dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi; sau đó, do chiến tranh ác liệt, một số đông dân đã bỏ đi để lại nhiều mảnh vườn và nền nhà hoang hóa.

Sống ở đây được một thời gian ngắn, thầy bị sốt, tôi cũng bị sốt. Cơn bệnh diễn tiến kỳ lạ, người nóng bừng rồi ớn lạnh, đắp mấy lớp mền cũng cứ cảm thấy rét, rồi một giờ sau, cơn bệnh đi qua, người bệnh cảm thấy gần bình thường, chỉ có yếu đi, xáy đầu và mệt trong ngực. Những ngày kế tiếp, đến giờ đó, bệnh lại đột ngột tái phát. Tôi qua khỏi bệnh  nhờ chích lể. Anh trại viên tên Luyến - hình như quê ở Sòng (Cam Lộ) - cùng buồng với tôi giỏi chích lể sớm cứu giúp và tôi lành, chứ tôi không dùng thuốc men gì hết. Còn thầy, mặc dù bệnh, thầy vẫn đi lao động hàng ngày – lao động chủ yếu là nông nghiệp: cuốc đất, gieo bắp, gieo đậu, cấy lúa, gặt lúa ..., thỉnh thoảng leo núi cao chặt tre về dùng vào những việc vặt trong trại. Thầy không chịu ở nhà, dầu xin ở nhà vì bệnh cũng dễ được chấp thuận. Thầy không chịu báo với y tá trại để xin thuốc. Thầy thật thà nghĩ rằng ở nhà sẽ mất điểm trong “học tập cải tạo”, cơ may phóng thích ít hơn; còn uống thuốc sốt – quinine – vào sẽ hại gan và vàng da, hại cho sức khỏe lâu dài, chi bằng cứ để cho các kháng nguyên vốn có trong cơ thể chống đỡ.

Bệnh tình của thầy cứ nặng dần. Đến một ngày, thầy không ngồi dậy được nữa. Thầy nằm liệt tại chỗ. Chỗ nằm của trại viên là hai bục ciment xây dọc hai bên mỗi lớp học, giữa dành một lối đi. Vào những ngày thời tiết chuyển, hơi ẩm bên dưới bốc lên rịn ướt.  Tôi nằm sát bên cạnh thầy. Tôi tự thấy mình có bổn phận phải chăm sóc thầy. “Thầy trò đạo ngãi cha con” mà!

Hàng ngày, tôi báo nhà bếp của trại thay phần cơm thầy bằng phần cháo. Tôi ngồi đút cho thầy từng thìa cháo, thìa nước. Khổ nỗi là cháo cũng chỉ là một loại cơm có nước. Thầy cố nuốt cho vừa lòng tôi, chứ miệng thì đắng, cháo lại nhạt nhẽo, có ngon béo gì đâu; nhiều khi mới nuốt xong, thầy nôn ọe ra liền. Tôi phải lấy khăn lau miệng, cằm, cổ cho thầy. Khăn lau là những mảnh bao cát vải, nhặt được thời đi lao động trong khuôn viên trại tạm giam ở La Gi, giặt sạch cất vào tư trang. Ngoài phục vụ ăn uống, tôi cố gắng vệ sinh cơ thể và chỗ nằm cho thầy. Tôi ra giếng lấy nước vào lau mình cho thầy. Không có chậu, thau, tôi phải đựng nước trong cái két đạn đại liên – cũng được lượm khi đi lao động ở trại tạm giam La Gi. Ở đây, cái két đạn đại liên rất đa năng. Những khi đi lao động bên ngoài trại, kiếm được mớ rau rừng, nó là cái soong luộc rau để “cải thiện” bữa ăn; khi quần áo nhớp, nó là cái thau giặt; lúc đêm hôm, buồng giam đã khóa kỹ, nó là cái pô để đựng nước tiểu hay phân – một hình thức cầu tiêu thu nhỏ, di động.

Quần áo, mền chiếu của thầy tôi phải giặt giũ. Công việc này trong trại không dễ dàng chút nào. Tôi cũng là trại viên, phải đi lao động, phải lên lớp học tập chính sách, chủ trương Cách Mạng. Không thể nại cớ này nọ để tránh việc, việc gì không muốn cũng phải làm, thậm chí xem phim hay xem biểu diễn văn nghệ cũng bắt buộc phải đi. Lại thêm, mỗi lần ra phòng, vô phòng, phải xin phép cán bộ công an quản chế. Đứng thế nghiêm, miệng nói lớn: Xin phép cán bộ, tôi đi ...

Thầy không đi được, phải giải quyết “việc cần” tại chỗ. Giặt giũ, lau chùi không có xà phòng, mùi hôi không hết được, ghét bẩn không sạch được; quần áo, mền chiếu của thầy nhàu nát. Tôi nằm trần trên nền ciment, còn chiếu chăn của tôi đem ra phục vụ thầy. Chỉ được ít lâu, chiếu chăn của tôi cũng phải vất bỏ. Linh mục Nguyễn Vân Nam, người đồng trại, nguyên hiệu trưởng trường trung học Thanh Linh (trước đặt ở Quán Ngang – khu tập trung của dân Gio Linh, chuyển vô ở Hòa Khánh rồi ở khu Động Đền) – nơi thầy có dạy giờ - giao cho tôi đồ của cha để dùng cho thầy. Đến lượt, đồ của cha cũng hết sử dụng được. Tôi đang không biết xoay xở cách nào nữa thì anh em cùng buồng, người góp cái áo, người góp cái quần ... quấn ủ cho thầy.

Sốt mất nhiều hồng cầu, mà không có chi bồi bổ, thầy kiệt sức, hơi thở yếu đi. Thầy thở bằng mũi ít mà bằng miệng nhiều. Rồi miệng thầy há ra, không khép lại nữa, thỉnh thoảng nấc lên. Một chốc sau, thầy chỉ nấc. Thầy thở cá ... hấp hối. Thầy sắp chết. Tôi ngồi nhìn thầy, không làm gì cho thầy nữa - làm gì cho nhọc công! Con người thầy chỉ còn xương và da. Lưng thầy đầy những vết loét lớn, sâu ... màu đỏ sẫm. Mùi tanh tao từ thân thể cộng thêm mùi ghét bẩn rịn ướt nơi chỗ nằm mời gọi các loài kiến lâu nay ẩn dấu dưới nền nhà bò lên. Kiến leo, bò lên trên mình thầy. Chắc lúc ấy, thầy không còn cảm giác; nếu có cảm giác thì tội nghiệp thầy lắm. Cái cắn đau của loài kiến lửa, cái bò gây “nhột” của loài kiến hôi hoặc kiến đen ... Lúc đầu, ít con, tôi chụm mấy ngón tay để bắt, để giết. Rồi kiến lên nhiều quá, tôi đành bó tay. Giá như có một ít dầu hỏa, bôi quanh người thầy và chỗ thầy nằm thì chắc chắn kiến bỏ đi, nhưng dầu hỏa đâu lúc đó! Trong tình thế này, trước sau thầy cũng chết. Có thể một giờ nữa, hai giờ nữa ... đêm nay ... hay cùng lắm ngày mai. Ngồi bên thầy, buồn rười rượi, hết đường tính toán, tôi chấp tay trước ngực, miệng lâm râm cầu nguyện thầy sớm về cõi Vĩnh Hằng, hóa kiếp để đỡ khổ cho thầy và cũng đỡ khổ cho tôi.

Hôm ấy, khoảng 4 giờ chiều, trại sai người đưa băng-ca vào bưng thầy đi. Thầy nằm bất động, tôi khóc vì nghĩ rằng thầy trò không bao giờ gặp nhau nữa. Mai mốt may mắn được về, gia đình thầy hỏi mồ mả thầy thì tôi biết đâu mà chỉ. Tôi khóc thành tiếng, anh em trong buồng ai cũng rươm rướm nước mắt. Họ thương thầy mà cũng thương tôi . Thương thầy vì thầy là bạn cùng ăn, cùng ở với họ; cách cư xử của thầy đã làm cho họ mến mộ. Thương tôi vì cả thời gian dài tôi chăm sóc thầy trong điều kiện khó khăn như thế, giờ chỉ là “dã tràng xe cát”. Thú thật: qua việc tôi tận tình với thầy, anh em cùng buồng đánh giá tôi là người có tình, có nghĩa. Từ đó về sau, họ dành cho tôi nhiều tình cảm. Tôi ở trong trại không có nguồn tiếp tế của người thân. Vợ tôi đã mất, con tôi còn dại, đại gia đình đã về Đông Hà. Tôi còn sức khỏe để có ngày ra trại, chủ yếu là nhờ bạn cùng buồng và cùng trại. Ông Trời lại cầm cân nảy mực rất công bằng; sống có lòng thì không bao giờ thiệt thòi; trong đoạn đời từ ngày ra trại đến nay, tôi thoát nguy hiểm suýt chết nhiều lần và được bạn bè, học trò cũ giúp đỡ khi khó khăn mặc dầu tôi không bao giờ gợi ý.

Đêm ấy, thầy nằm một mình ở một cái chòi dựng bên một dòng suối. Có lẽ ban quản đốc trại không muốn thầy chết trong buồng giam. Tôi nghĩ thầm: thầy sẽ chết trong đêm và chắc chắn được chôn cất ngay trước khi trời sáng. Trước đó ít lâu, một trại viên chết do bệnh, trại không chọn ban ngày để chôn cất  mà chờ ... cử người đi chôn trong màn tối của đêm. Tôi không ngủ được, cứ trở mình qua về. Hễ nhắm mắt lại, tôi mộng thấy chiếc xe bò kéo đang chở xác thầy ra khu rừng vắng, trên không, mấy con quạ đen bay lượn, buông dồn liên hồi những tiếng kêu kinh tởm.

Sáng hôm sau, một ông bác sĩ phụ trách y tế của sở Công An tỉnh Thuận Hải (tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận gộp lại) lên. Không biết ông lên theo lời mời của trại để xử lý trường hợp thầy hay ông đi công tác định kỳ. Thầy chưa chết, vẫn đang thở cá, ông bác sĩ thăm khám thầy và đề nghị trại đưa thầy vào một phòng riêng để truyền dịch và điều trị bằng thuốc men. Thầy dần tỉnh, bệnh tình thuyên giảm từng ngày.

Khoảng một tháng sau, trại trả thầy về buồng, thân hình chỉ còn da bọc xương, tóc dài bù xù, râu mọc quăn queo. Thầy chống chiếc gậy để bước, lưng cong xuống như cụ già trăm tuổi, mặc dầu lúc ấy thầy mới 36 tuổi. Đêm đêm, thầy phải nằm nghiêng, rên hư hử. Thầy nằm ngửa không được, những đám loét sâu ở lưng còn đau lắm.

Trong thời gian dưỡng bệnh, thầy rất thèm ăn. Đáng lẽ được ăn nhiều, ăn đồ bổ để chóng bình phục, tội nghiệp bữa nào cũng như bữa nào, thầy chỉ hưởng phần ăn của một trại viên bình thường: lưng chén cơm với một tí đồ ăn khô hoặc nước. Biết thầy thiếu đói mà bất lực, tôi nhói lòng.

Do bệnh hoạn, thầy được phóng thích sớm. Về nhà, cả thời gian dài, thầy không làm gì được, mọi việc gia đình trút lên vai người mẹ già và người vợ “yểu điệu thục nữ”.

Rồi mấy năm sau, dòng đời đẩy đưa thầy trôi nổi. Thầy theo gia đình về tận Bạc Liêu. Để tồn tại, thầy làm đủ nghề: bán kem, vá soong nồi nhôm, sửa máy khâu ... Công việc lưu động đi từ vùng này qua vùng khác, đến đâu nghỉ đó. Thầy gánh vác việc gia dình để phu nhân thầy – cô Phù thị Lan - rảnh tay vào học trường sư phạm. Nhờ ơn trời, cô ra trường được tuyển dụng, cùng lúc đó, sở giáo dục & đào tạo tỉnh Bạc Liêu cũng mời thầy trở lại nghề cũ – dạy toán ở trung tâm giáo dục thường xuyên. Học trò thầy đa số là cán bộ nhà nước đủ ngành. Thầy có thu nhập đều đặn. Quan hệ xã hội mở rộng. Uy tín trong cộng đồng tăng dần.

            
             
                

Thầy Dương Đình Trọng
(Ảnh 2012)


Thầy cô đã nuôi dạy 6 người con thành đạt, có công ăn việc làm ổn định.  Phần lớn theo nghiệp cha mẹ làm thầy giáo cô giáo. Có người gợi ý gia đình thầy nên xin nhà nước mở một trường tư thục riêng cho tiện. Thầy cười: còn thiếu nhiều điều kiện quá!

Bây giờ, thầy đã về hưu. Không những được học trò mới đùm bọc, thầy còn được học trò cũ chiếu cố. Thầy đã được mời ra Quảng Trị gặp mặt nhiều lần với học trò cũ: Bán Công Đông Hà, Trung Học Gio Linh, Trung Học Nguyễn Hoàng. Và năm 2008, học trò cũ của thầy đã mời thầy đi chơi một chuyến bên Mỹ. Gần đây nhất, vào tháng 6 năm 2012, thầy đã ra dự họp mặt liên trường ở thành phố Đông Hà và kỷ niệm 60 năm thành lập trường Nguyễn Hoàng ở thị xã Quảng Trị. 

Trong những lần thầy ra Quảng Trị, tôi may mắn gặp lại thầy, nghe thầy kể cuộc sống hiện tại mà mừng. Một người giỏi về nhiều phương diện như thầy lẽ nào phải chịu cực mãi. Thầy phải hưởng và thật sự đang hưởng một cuộc sống xứng đáng.

“Trời có mắt”. Rất đúng!

Viết đến đây, tự nhiên lòng tôi dậy lên câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng ...”./.

Hoàng Đằng
READ MORE - CHUYỆN ĐỜI THẦY TÔI - Hoàng Đằng