Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 26, 2026

NGUYỄN NGUYÊN AN - MỘT ĐỜI CẦM BÚT GIỮA NHÂN SINH VÀ MIỀN TÂM LINH - Nguyễn Khắc Phước



Nguyễn Nguyên An – Một đời cầm bút 

giữa nhân sinh và miền tâm linh


Có những người viết đi qua đời sống văn học bằng những tuyên ngôn mạnh mẽ, những cuộc cách tân gây chú ý hoặc những tác phẩm ngay lập tức tạo nên tiếng vang. Lại có những người cầm bút chọn một hành trình lặng lẽ hơn: quan sát con người, đi vào những mất mát âm thầm, gom nhặt những trải nghiệm từ cuộc đời rồi gửi chúng vào truyện, thơ, bút ký và những trang suy tưởng. Nguyễn Nguyên An thuộc về kiểu người viết thứ hai.

 

Nguyễn Nguyên An là bút danh của Nguyễn Văn Vinh, một cây bút gắn với đời sống văn học Thừa Thiên Huế, sáng tác ở nhiều thể loại như văn xuôi, thơ, tạp văn, bút ký và những bài viết giới thiệu văn chương. Ông sinh ngày 1-1-1952, mất ngày 13-2-2024. Trong những tháng cuối đời, ông vẫn sống tại phường Thủy Xuân, thành phố Huế và vẫn tiếp tục viết.

 

Điều đáng chú ý ở Nguyễn Nguyên An là cách ông nhìn nghề văn. Ông từng xem thơ là “tay trái”, còn văn xuôi mới là lĩnh vực sáng tác chính. Chi tiết tưởng như nhỏ ấy lại nói khá nhiều về một người viết ý thức rõ về sở trường và con đường của mình. Văn xuôi cho ông không gian rộng hơn để đi vào số phận, hoàn cảnh và những chuyển động khó thấy bên trong con người. Tuy vậy, thơ không vì thế mà trở thành một cuộc dạo chơi. Những bài thơ còn lại cho thấy ở đó có một tiếng nói riêng, nhiều suy tư về tình yêu, lòng chân thật, nhân sinh, sự sống và cái chết.

 

Nếu nhìn vào những tác phẩm đã được xác nhận, có thể thấy nghề văn của Nguyễn Nguyên An được gây dựng từ sự bền bỉ hơn là từ một khoảnh khắc nổi tiếng. Ngọn đèn vẫn tỏ, tập truyện ngắn do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2006, gồm 25 truyện, là một dấu mốc đáng chú ý. Sau đó là Trường đại học của tôi, truyện dài xuất bản năm 2007; Bầu trời cổ tích, một tác phẩm xuất bản năm 2010; và tập thơ Cơn mê của gió do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Tư liệu năm 2010 còn cho biết ông đã có gần mười tác phẩm văn xuôi, cho thấy phần di sản được nhận diện hôm nay có thể vẫn chưa phải là toàn bộ những gì ông từng viết và xuất bản.

 

Điều thống nhất trong những trang văn được giới thiệu là sự quan tâm của Nguyễn Nguyên An đối với con người ở những thời điểm dễ tổn thương nhất. Đó có thể là những con người đi qua chiến tranh, những phận đời chịu mất mát, những người mắc sai lầm rồi phải đối diện với hậu quả, những người sống trong một môi trường khắc nghiệt hoặc đơn giản là những con người phải mang theo một vết thương không thể nhìn thấy từ bên ngoài.

 

Trong Kỷ vật, chiến tranh không chỉ được nhìn qua những biến cố lớn mà còn thông qua nỗi đau của những con người cụ thể: một người phụ nữ nằm lại ở Trường Sơn, một người trở về với tuổi trẻ và sức khỏe đã bị bào mòn. Trong Bầu trời cổ tích, giữa chiến tranh và bất trắc, vẫn có chỗ cho tình người và một thứ ánh sáng của sự gắn bó. Còn Đất sau mưa gợi lên những day dứt về thời gian và mất mát. Từ những câu chuyện ấy, có thể thấy Nguyễn Nguyên An không dừng ở việc kể một biến cố. Ông muốn đi sâu hơn, vào phần con người còn lại sau biến cố: họ chịu đựng ra sao, giữ lấy điều gì, đánh mất điều gì và có thể tiếp tục sống bằng cách nào.

 

Một bài phê bình về ông từng dùng cụm từ “nỗi buồn rực rỡ”. Đó có lẽ là một gợi ý thú vị để đọc Nguyễn Nguyên An. Nỗi buồn trong văn ông không hoàn toàn dẫn con người đến tuyệt vọng. Có những khi, chính trong mất mát, lòng nhân hậu, sự hy sinh và phẩm giá lại hiện lên rõ hơn. Cái “rực rỡ” không nằm ở bản thân đau khổ mà ở phần người vẫn không bị đau khổ hủy diệt.

 

Tinh thần ấy còn xuất hiện trong Trường đại học của tôi, tác phẩm khai thác một thế giới hoàn toàn khác: đời sống của một người phạm tội, bị truy nã rồi trải qua những năm tháng trong trại tạm giam, trại cải tạo. Ở một môi trường có nhiều giới hạn, xung đột, sợ hãi và tính toán, Nguyễn Nguyên An vẫn tìm cách quan sát con người từ những biểu hiện rất đời thường. Những trò ma mãnh, sự ích kỷ, những lựa chọn sai lầm, nhưng cả khả năng thay đổi, lòng bao dung và những bài học phải trả giá bằng đau đớn đều trở thành chất liệu văn chương.

 

Nhan đề Trường đại học của tôi vì thế gợi ra một ý nghĩa rộng hơn: cuộc đời cũng có thể là một trường học, nhưng không phải bài học nào cũng đến từ điều tốt đẹp. Có những bài học chỉ xuất hiện khi con người đối diện với giới hạn, sai lầm, tổn thất và hậu quả do chính mình tạo ra.

 

Ở phương diện đó, nghề văn đối với Nguyễn Nguyên An dường như không tách rời việc suy ngẫm về đạo đức và nhân sinh. Ông không viết chỉ để kể chuyện. Phía sau nhiều câu chuyện là một câu hỏi: con người sẽ sống như thế nào sau khi bị thử thách?

 

Chính câu hỏi ấy tạo một chiếc cầu nối tự nhiên từ văn xuôi sang thơ và từ văn chương sang đời sống tâm linh.

 

Tập thơ Cơn mê của gió cho thấy một Nguyễn Nguyên An khác nhưng không xa lạ. Nếu văn xuôi cần nhân vật, hoàn cảnh và sự kiện để đặt ra vấn đề về số phận, thơ cho phép ông đi thẳng vào những khoảnh khắc nhận thức. Người đọc gặp ở đó những suy nghĩ về không gian, thời gian, tình yêu, sự sống, cái chết, sự chân thật và giới hạn của những ham muốn của con người.

 

Ở bài Không, nhà thơ hướng tới những nguyên tắc sống như không làm khổ mình, không làm khổ người khác, không tự lừa dối bản thân và không quay lưng trước nỗi đau của người đời. Với Nhân, ông sử dụng hình ảnh gieo hạt để nói về lòng nhân ái: điều thiện được gieo xuống, nảy mầm rồi thành cây, thành quả. Còn Phía không tìm lại gợi một nghịch lý rất gần với tư tưởng thiền: con người càng mải miết chạy theo điều mình muốn, đôi khi càng xa nó; chỉ đến khi biết dừng lại, ta mới có cơ hội nhìn thấy điều quan trọng.

 

Ở đây cần một sự thận trọng. Những yếu tố thiền, tâm linh và suy niệm về cách sống xuất hiện khá rõ trong tác phẩm Nguyễn Nguyên An, nhưng tư liệu hiện có chưa cho phép khẳng định ông là tín đồ của một tôn giáo cụ thể. Điều có thể nói chắc chắn hơn là ông có một sự quan tâm sâu đến đời sống tinh thần và những câu hỏi mà tôn giáo, triết học và văn chương từ lâu cùng chia sẻ: con người từ đâu tìm được sự bình an, điều gì khiến đời sống có ý nghĩa, lòng nhân ái có vai trò gì, và con người có thể giải thoát mình khỏi sự chi phối của những ham muốn đến mức nào.

 

Cảm thức ấy hiện rõ hơn trong những bài bút ký cuối đời. Trong Nơi lập thiền tốt nhất, từ một chuyến đi Lăng Cô, qua đèo Hải Vân rồi dừng ở Bãi Chuối, Nguyễn Nguyên An không chỉ ngắm núi, biển, mây và sương. Trước thiên nhiên, ông hướng suy nghĩ về sự thanh tịnh, về việc ngồi thiền trước biển và cả khả năng hình thành một không gian để tăng ni, cư sĩ có thể tu tập, học tập, nghỉ dưỡng. Bài viết vì vậy vượt khỏi giới hạn của một bút ký du lịch thông thường, trở thành nơi gặp gỡ của thiên nhiên, tâm linh và khát vọng tìm kiếm sự tĩnh lặng.

 

Trong Bí ẩn của biển, biển lại trở thành một hình ảnh để suy ngẫm về sự đầy và vơi trong đời sống. Con người thường cố lấp đầy mình bằng mong muốn và sở hữu, nhưng càng tích lũy đôi khi càng thấy thiếu. Biển, trong cách nhìn của nhà thơ, gợi đến khả năng cho đi. Từ đó xuất hiện một quan niệm giản dị nhưng có chiều sâu: đời sống tinh thần không giàu lên chỉ bằng việc giữ mọi thứ cho mình; biết trao tặng cũng là một cách làm cho tâm hồn phong phú hơn.

 

Có lẽ chính sự giao thoa giữa nghề văn và đời sống tâm linh làm nên nét riêng đáng chú ý ở Nguyễn Nguyên An. Ông không biến văn chương thành một bài thuyết giáo. Những suy niệm thường đi ra từ trải nghiệm: một chuyến đi, một cảnh biển, một dòng sông, một người mẹ, một người nghệ sĩ, một phận người đi qua chiến tranh.

 

Trong Về thượng nguồn sông, cảnh Dương Hòa, sông Hương, hồ Tả Trạch và những khu vườn không chỉ được miêu tả như phong cảnh. Tác giả chú ý đến sự cần cù, chân tình, lòng hiếu khách của cư dân, đến những việc nhỏ như cách người ta chăm sóc khách hay giữ gìn môi trường. Thiên nhiên ở đây là cánh cửa để ông nhìn vào văn hóa và đạo đức của cộng đồng.

 

Trong Mẹ – mặt đất bao dung, đời sống tinh thần ấy trở về nơi gần gũi nhất: gia đình. Nguyễn Nguyên An nhớ lại những năm tháng mẹ chăm sóc mình khi ốm đau, tai nạn, những lần người mẹ phải vất vả chạy chữa cho con. Không cần một hệ thống tư tưởng cầu kỳ, hình ảnh người mẹ được ví như mặt đất âm thầm nâng đỡ, nuôi dưỡng và chở che đã đủ cho thấy cách ông nhìn về lòng bao dung.

 

Ngay cả khi viết về những người cầm bút khác, Nguyễn Nguyên An cũng thường tìm đến phần đời phía sau câu chữ. Với Chu Vương Miện, ông chú ý đến sức sáng tạo bền bỉ, vốn lịch sử, Hán Nôm và những suy tư về thân phận. Khi viết về Ngô Thái Dương, ông không chỉ khen thơ mà cố gắng nhận ra cách dùng ngôn từ, tổ chức ý và những chuyển mạch riêng. Điều đó cho thấy nghề văn, trong quan niệm và thực hành của Nguyễn Nguyên An, còn bao gồm việc đọc, lắng nghe và nhận ra cá tính của những người cùng viết.

 

Một trong những chi tiết xúc động nhất về cuộc đời cầm bút ấy nằm ở những ngày cuối. Bút ký Len lỏi mưa Hồng Hạ cuối năm được đăng ngày 27-1-2024, ghi lại chuyến đi vào cuối năm 2023. Chỉ ít lâu sau, ngày 13-2-2024, ông qua đời. Nhưng trên hành trình gần cuối đời ấy, Nguyễn Nguyên An vẫn quan sát cảnh vật, vẫn quan tâm đến đồng bào địa phương, cách họ đón khách, cách họ giới thiệu văn hóa của cộng đồng mình. Người cầm bút vẫn đang nhìn, ghi nhận và viết.

 

Có lẽ không cần một tuyên ngôn nào rõ hơn về nghề văn.

 

Viết, với Nguyễn Nguyên An, dường như là một cách sống lâu dài. Đi qua chiến tranh, số phận, tù tội, tình yêu, người mẹ, thiên nhiên, thiền và những cuộc gặp gỡ, ông luôn trở lại với con người. Đằng sau những đổi thay của hoàn cảnh, điều ông tìm kiếm vẫn là lòng nhân hậu, sự chân thật, khả năng yêu thương và một khoảng tĩnh lặng để con người nhìn lại chính mình.

 

Nguyễn Nguyên An mất năm 2024, nhưng hồ sơ về đời văn của ông vẫn còn những khoảng trống. Danh mục tác phẩm chưa được xác lập hoàn toàn, nhiều sáng tác vẫn cần được sưu tầm và đọc trực tiếp. Bởi vậy, có lẽ chưa nên vội đưa ra những kết luận lớn về vị trí của ông trong lịch sử văn học Huế.

 

Nhưng từ những gì còn lại, có thể nhận ra khá rõ chân dung một người viết: lấy văn xuôi làm con đường chính, bước sang thơ bằng một tâm thế suy nghiệm, tìm đến thiền và miền tâm linh như một cách đối thoại với đời sống, đồng thời luôn giữ sự chú ý đến những con người bình thường.

 

Một đời văn có thể khép lại khi người viết dừng bút. Nhưng những câu hỏi họ gửi vào tác phẩm thì không nhất thiết kết thúc cùng họ. Với Nguyễn Nguyên An, đó là câu hỏi về cách con người gìn giữ lòng nhân hậu sau mất mát, giữ sự chân thật giữa những va đập của đời sống và tìm được sự bình an khi đã đi qua đủ những được – mất của một kiếp người.

 

Có lẽ cũng từ điểm ấy, nghề văn và miền tâm linh trong Nguyễn Nguyên An gặp nhau: đều bắt đầu từ việc nhìn sâu vào con người, và cuối cùng đều hướng tới một mong muốn giản dị – hiểu người hơn, hiểu mình hơn và sống nhân hậu hơn.

No comments: