Nguyễn Nguyên An – Một đời cầm bút
giữa nhân sinh và miền tâm linh
Có những người viết
đi qua đời sống văn học bằng những tuyên ngôn mạnh mẽ, những cuộc cách tân gây
chú ý hoặc những tác phẩm ngay lập tức tạo nên tiếng vang. Lại có những người cầm
bút chọn một hành trình lặng lẽ hơn: quan sát con người, đi vào những mất mát
âm thầm, gom nhặt những trải nghiệm từ cuộc đời rồi gửi chúng vào truyện, thơ,
bút ký và những trang suy tưởng. Nguyễn Nguyên An thuộc về kiểu người viết thứ
hai.
Nguyễn Nguyên An
là bút danh của Nguyễn Văn Vinh, một cây bút gắn với đời sống văn học Thừa
Thiên Huế, sáng tác ở nhiều thể loại như văn xuôi, thơ, tạp văn, bút ký và những
bài viết giới thiệu văn chương. Ông sinh ngày 1-1-1952, mất ngày 13-2-2024.
Trong những tháng cuối đời, ông vẫn sống tại phường Thủy Xuân, thành phố Huế và
vẫn tiếp tục viết.
Điều đáng chú ý ở
Nguyễn Nguyên An là cách ông nhìn nghề văn. Ông từng xem thơ là “tay trái”, còn
văn xuôi mới là lĩnh vực sáng tác chính. Chi tiết tưởng như nhỏ ấy lại nói khá
nhiều về một người viết ý thức rõ về sở trường và con đường của mình. Văn xuôi cho
ông không gian rộng hơn để đi vào số phận, hoàn cảnh và những chuyển động khó
thấy bên trong con người. Tuy vậy, thơ không vì thế mà trở thành một cuộc dạo
chơi. Những bài thơ còn lại cho thấy ở đó có một tiếng nói riêng, nhiều suy tư
về tình yêu, lòng chân thật, nhân sinh, sự sống và cái chết.
Nếu nhìn vào những
tác phẩm đã được xác nhận, có thể thấy nghề văn của Nguyễn Nguyên An được gây dựng
từ sự bền bỉ hơn là từ một khoảnh khắc nổi tiếng. Ngọn đèn vẫn tỏ, tập truyện
ngắn do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2006, gồm 25 truyện, là một dấu
mốc đáng chú ý. Sau đó là Trường đại học của tôi, truyện dài xuất bản năm 2007;
Bầu trời cổ tích, một tác phẩm xuất bản năm 2010; và tập thơ
Cơn mê của gió do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Tư liệu năm 2010 còn
cho biết ông đã có gần mười tác phẩm văn xuôi, cho thấy phần di sản được nhận
diện hôm nay có thể vẫn chưa phải là toàn bộ những gì ông từng viết và xuất bản.
Điều thống nhất
trong những trang văn được giới thiệu là sự quan tâm của Nguyễn Nguyên An đối với
con người ở những thời điểm dễ tổn thương nhất. Đó có thể là những con người đi
qua chiến tranh, những phận đời chịu mất mát, những người mắc sai lầm rồi phải
đối diện với hậu quả, những người sống trong một môi trường khắc nghiệt hoặc
đơn giản là những con người phải mang theo một vết thương không thể nhìn thấy từ
bên ngoài.
Trong Kỷ vật, chiến
tranh không chỉ được nhìn qua những biến cố lớn mà còn thông qua nỗi đau của những
con người cụ thể: một người phụ nữ nằm lại ở Trường Sơn, một người trở về với
tuổi trẻ và sức khỏe đã bị bào mòn. Trong Bầu trời cổ tích, giữa chiến tranh và
bất trắc, vẫn có chỗ cho tình người và một thứ ánh sáng của sự gắn bó. Còn Đất
sau mưa gợi lên những day dứt về thời gian và mất mát. Từ những câu chuyện ấy,
có thể thấy Nguyễn Nguyên An không dừng ở việc kể một biến cố. Ông muốn đi sâu
hơn, vào phần con người còn lại sau biến cố: họ chịu đựng ra sao, giữ lấy điều
gì, đánh mất điều gì và có thể tiếp tục sống bằng cách nào.
Một bài phê bình
về ông từng dùng cụm từ “nỗi buồn rực rỡ”. Đó có lẽ là một gợi ý thú vị để đọc
Nguyễn Nguyên An. Nỗi buồn trong văn ông không hoàn toàn dẫn con người đến tuyệt
vọng. Có những khi, chính trong mất mát, lòng nhân hậu, sự hy sinh và phẩm giá
lại hiện lên rõ hơn. Cái “rực rỡ” không nằm ở bản thân đau khổ mà ở phần người
vẫn không bị đau khổ hủy diệt.
Tinh thần ấy còn
xuất hiện trong Trường đại học của tôi, tác phẩm khai thác một thế giới hoàn
toàn khác: đời sống của một người phạm tội, bị truy nã rồi trải qua những năm
tháng trong trại tạm giam, trại cải tạo. Ở một môi trường có nhiều giới hạn,
xung đột, sợ hãi và tính toán, Nguyễn Nguyên An vẫn tìm cách quan sát con người
từ những biểu hiện rất đời thường. Những trò ma mãnh, sự ích kỷ, những lựa chọn
sai lầm, nhưng cả khả năng thay đổi, lòng bao dung và những bài học phải trả
giá bằng đau đớn đều trở thành chất liệu văn chương.
Nhan đề Trường đại
học của tôi vì thế gợi ra một ý nghĩa rộng hơn: cuộc đời cũng có thể là một trường
học, nhưng không phải bài học nào cũng đến từ điều tốt đẹp. Có những bài học chỉ
xuất hiện khi con người đối diện với giới hạn, sai lầm, tổn thất và hậu quả do
chính mình tạo ra.
Ở phương diện đó,
nghề văn đối với Nguyễn Nguyên An dường như không tách rời việc suy ngẫm về đạo
đức và nhân sinh. Ông không viết chỉ để kể chuyện. Phía sau nhiều câu chuyện là
một câu hỏi: con người sẽ sống như thế nào sau khi bị thử thách?
Chính câu hỏi ấy
tạo một chiếc cầu nối tự nhiên từ văn xuôi sang thơ và từ văn chương sang đời sống
tâm linh.
Tập thơ Cơn mê của
gió cho thấy một Nguyễn Nguyên An khác nhưng không xa lạ. Nếu văn xuôi cần nhân
vật, hoàn cảnh và sự kiện để đặt ra vấn đề về số phận, thơ cho phép ông đi thẳng
vào những khoảnh khắc nhận thức. Người đọc gặp ở đó những suy nghĩ về không
gian, thời gian, tình yêu, sự sống, cái chết, sự chân thật và giới hạn của những
ham muốn của con người.
Ở bài Không, nhà
thơ hướng tới những nguyên tắc sống như không làm khổ mình, không làm khổ người
khác, không tự lừa dối bản thân và không quay lưng trước nỗi đau của người đời.
Với Nhân, ông sử dụng hình ảnh gieo hạt để nói về lòng nhân ái: điều thiện được
gieo xuống, nảy mầm rồi thành cây, thành quả. Còn Phía không tìm lại gợi một
nghịch lý rất gần với tư tưởng thiền: con người càng mải miết chạy theo điều
mình muốn, đôi khi càng xa nó; chỉ đến khi biết dừng lại, ta mới có cơ hội nhìn
thấy điều quan trọng.
Ở đây cần một sự
thận trọng. Những yếu tố thiền, tâm linh và suy niệm về cách sống xuất hiện khá
rõ trong tác phẩm Nguyễn Nguyên An, nhưng tư liệu hiện có chưa cho phép khẳng định
ông là tín đồ của một tôn giáo cụ thể. Điều có thể nói chắc chắn hơn là ông có
một sự quan tâm sâu đến đời sống tinh thần và những câu hỏi mà tôn giáo, triết
học và văn chương từ lâu cùng chia sẻ: con người từ đâu tìm được sự bình an, điều
gì khiến đời sống có ý nghĩa, lòng nhân ái có vai trò gì, và con người có thể
giải thoát mình khỏi sự chi phối của những ham muốn đến mức nào.
Cảm thức ấy hiện
rõ hơn trong những bài bút ký cuối đời. Trong Nơi lập thiền tốt nhất, từ một
chuyến đi Lăng Cô, qua đèo Hải Vân rồi dừng ở Bãi Chuối, Nguyễn Nguyên An không
chỉ ngắm núi, biển, mây và sương. Trước thiên nhiên, ông hướng suy nghĩ về sự
thanh tịnh, về việc ngồi thiền trước biển và cả khả năng hình thành một không
gian để tăng ni, cư sĩ có thể tu tập, học tập, nghỉ dưỡng. Bài viết vì vậy vượt
khỏi giới hạn của một bút ký du lịch thông thường, trở thành nơi gặp gỡ của
thiên nhiên, tâm linh và khát vọng tìm kiếm sự tĩnh lặng.
Trong Bí ẩn của
biển, biển lại trở thành một hình ảnh để suy ngẫm về sự đầy và vơi trong đời sống.
Con người thường cố lấp đầy mình bằng mong muốn và sở hữu, nhưng càng tích lũy
đôi khi càng thấy thiếu. Biển, trong cách nhìn của nhà thơ, gợi đến khả năng cho
đi. Từ đó xuất hiện một quan niệm giản dị nhưng có chiều sâu: đời sống tinh thần
không giàu lên chỉ bằng việc giữ mọi thứ cho mình; biết trao tặng cũng là một
cách làm cho tâm hồn phong phú hơn.
Có lẽ chính sự
giao thoa giữa nghề văn và đời sống tâm linh làm nên nét riêng đáng chú ý ở
Nguyễn Nguyên An. Ông không biến văn chương thành một bài thuyết giáo. Những
suy niệm thường đi ra từ trải nghiệm: một chuyến đi, một cảnh biển, một dòng
sông, một người mẹ, một người nghệ sĩ, một phận người đi qua chiến tranh.
Trong Về thượng
nguồn sông, cảnh Dương Hòa, sông Hương, hồ Tả Trạch và những khu vườn không chỉ
được miêu tả như phong cảnh. Tác giả chú ý đến sự cần cù, chân tình, lòng hiếu
khách của cư dân, đến những việc nhỏ như cách người ta chăm sóc khách hay giữ
gìn môi trường. Thiên nhiên ở đây là cánh cửa để ông nhìn vào văn hóa và đạo đức
của cộng đồng.
Trong Mẹ – mặt đất
bao dung, đời sống tinh thần ấy trở về nơi gần gũi nhất: gia đình. Nguyễn
Nguyên An nhớ lại những năm tháng mẹ chăm sóc mình khi ốm đau, tai nạn, những lần
người mẹ phải vất vả chạy chữa cho con. Không cần một hệ thống tư tưởng cầu kỳ,
hình ảnh người mẹ được ví như mặt đất âm thầm nâng đỡ, nuôi dưỡng và chở che đã
đủ cho thấy cách ông nhìn về lòng bao dung.
Ngay cả khi viết
về những người cầm bút khác, Nguyễn Nguyên An cũng thường tìm đến phần đời phía
sau câu chữ. Với Chu Vương Miện, ông chú ý đến sức sáng tạo bền bỉ, vốn lịch sử,
Hán Nôm và những suy tư về thân phận. Khi viết về Ngô Thái Dương, ông không chỉ
khen thơ mà cố gắng nhận ra cách dùng ngôn từ, tổ chức ý và những chuyển mạch
riêng. Điều đó cho thấy nghề văn, trong quan niệm và thực hành của Nguyễn
Nguyên An, còn bao gồm việc đọc, lắng nghe và nhận ra cá tính của những người
cùng viết.
Một trong những
chi tiết xúc động nhất về cuộc đời cầm bút ấy nằm ở những ngày cuối. Bút ký Len
lỏi mưa Hồng Hạ cuối năm được đăng ngày 27-1-2024, ghi lại chuyến đi vào cuối
năm 2023. Chỉ ít lâu sau, ngày 13-2-2024, ông qua đời. Nhưng trên hành trình gần
cuối đời ấy, Nguyễn Nguyên An vẫn quan sát cảnh vật, vẫn quan tâm đến đồng bào
địa phương, cách họ đón khách, cách họ giới thiệu văn hóa của cộng đồng mình.
Người cầm bút vẫn đang nhìn, ghi nhận và viết.
Có lẽ không cần một
tuyên ngôn nào rõ hơn về nghề văn.
Viết, với Nguyễn
Nguyên An, dường như là một cách sống lâu dài. Đi qua chiến tranh, số phận, tù
tội, tình yêu, người mẹ, thiên nhiên, thiền và những cuộc gặp gỡ, ông luôn trở
lại với con người. Đằng sau những đổi thay của hoàn cảnh, điều ông tìm kiếm vẫn
là lòng nhân hậu, sự chân thật, khả năng yêu thương và một khoảng tĩnh lặng để
con người nhìn lại chính mình.
Nguyễn Nguyên An
mất năm 2024, nhưng hồ sơ về đời văn của ông vẫn còn những khoảng trống. Danh mục
tác phẩm chưa được xác lập hoàn toàn, nhiều sáng tác vẫn cần được sưu tầm và đọc
trực tiếp. Bởi vậy, có lẽ chưa nên vội đưa ra những kết luận lớn về vị trí của
ông trong lịch sử văn học Huế.
Nhưng từ những gì
còn lại, có thể nhận ra khá rõ chân dung một người viết: lấy văn xuôi làm con
đường chính, bước sang thơ bằng một tâm thế suy nghiệm, tìm đến thiền và miền
tâm linh như một cách đối thoại với đời sống, đồng thời luôn giữ sự chú ý đến
những con người bình thường.
Một đời văn có thể
khép lại khi người viết dừng bút. Nhưng những câu hỏi họ gửi vào tác phẩm thì
không nhất thiết kết thúc cùng họ. Với Nguyễn Nguyên An, đó là câu hỏi về cách
con người gìn giữ lòng nhân hậu sau mất mát, giữ sự chân thật giữa những va đập
của đời sống và tìm được sự bình an khi đã đi qua đủ những được – mất của một
kiếp người.
Có lẽ cũng từ điểm
ấy, nghề văn và miền tâm linh trong Nguyễn Nguyên An gặp nhau: đều bắt đầu từ
việc nhìn sâu vào con người, và cuối cùng đều hướng tới một mong muốn giản dị –
hiểu người hơn, hiểu mình hơn và sống nhân hậu hơn.

No comments:
Post a Comment